Chương 1: Khái quát về tỉnh Khăm Muộn (Lào) và quá trình hình thành cộng đồng ngƣời Việt Nam tại Khăm Muộn. Chương 2: Hoạt động kinh tế của cộng đồng ngƣời Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn từ năm 1947 đến năm 2015. Chương 3: Hoạt động văn hóa của cộng đồng ngƣời Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn từ năm 1947 đến năm 2015. 7 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH KHĂM MUỘN (LÀO) VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƢỜI VIỆT NAM TẠI KHĂM MUỘN 1.
Khái quát về tỉnh Khăm Muộn 1. Lịch sử hình chính Tỉnh Khăm Muộn hiện nay, xưa kia thuộc quốc gia Sikhottabong cổ, quốc gia Sikhottabong xuất hiện giữa thế kỷ I trước công nguyên [26, tr.52], nằm ở cửa sông Xê Bắng Phay cách sông Mê Kông 15km. Từ thế kỷ VI đến VIII là thời kỳ phồn vinh của quốc gia Sikhottabong, đến thế kỷ IX - XII bị thống trị và chịu ảnh hưởng của Ganla - Khmer cổ đại (thế kỷ VI - VIII) và trong thời kỳ Ăng Co mở rộng quyền lực (thế kỷ IX - XIII) thống trị khoảng hơn 300 năm. Năm 1353, vua Fa Ngum Maharashtra đã thống nhất các tiểu vương quốc, thành lập quốc gia Lan Xang (Triệu Voi).
Vương quốc Lan Xang bước vào giai đoạn thịnh vượng ở các thế kỷ XV – XVII. Vua Lan Xang chia đất nước thành các mường, đặt quan cai trị, xây dựng quân đội do nhà vua chỉ huy. Sang thế kỷ XVIII, Lan Xang suy yếu dần vì những cuộc tranh chấp ngôi báu trong hoàng tộc. Sau khi vua Xu-li-nha Vông-xa qua đời, nước Lan Xang bị chia cắt thành ba tiểu quốc đối nghịch nhau: Luông Pha – bang, Viêng Chăn và Chăm-pa-xắc.
Nhân cơ hội đó, Xiêm đã chiếm và cai trị Lào. Năm 1827, Chậu A Nụ đã phất cờ khởi nghĩa, chống ách thống trị của Xiêm, nhưng bị thất bại. Lào tiếp tục là thuộc địa của Xiêm. Tình trạng đó kéo dài đến khi thực dân Pháp xâm lược và biến Lào thành thuộc địa vào năm 1893.
Đến năm 1899, Lào trở thành một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Trải qua những năm tháng đấu tranh gian khổ, nhân dân Lào đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh bất khuất trên toàn lãnh thổ để chống lại ách nô dịch tàn bạo của thực dân Pháp, tiếp đó là đế quốc Mĩ. Năm 1975, nước Lào hoàn toàn 8 giành được độc lập. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chính thức được thành lập do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch.
Theo quyết định của Chính phủ Lào, Khăm Muộn là một tỉnh của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Khăm Muộn là một tỉnh nằm ở miền Trung nước Lào (vương quốc Viêng Chăn xưa). Tỉnh Khăm Muộn nằm trong khoảng giữa vĩ tuyến 16° 70’ - 18° 00’ độ và giữa vĩ độ 104° đến 105°. Phía Bắc giáp tỉnh Bo Lị Khăm Xay, phía Nam giáp tỉnh Savannakhet, phía Đông giáp Việt Nam với 237km đường biên giới, phía Tây giáp Thái Lan.
Tổng diện tích toàn tỉnh là 16. Địa hình của tỉnh Khăm Muộn tương đối phức tạp. Các nhà khoa học đã chia tỉnh Khăm Muộn thành hai khu vực riêng biệt: khu vực miền núi và khu vực đồng bằng, trong đó diện tích khu vực đồng bằng chiếm 46,30%, khu vực miền núi chiếm 53,7% của diện tích tỉnh [30, tr. Khăm Muộn có nhiều đỉnh núi cao, tiêu biểu là dãy núi Phu Luông (dãy núi Trường Sơn) với độ cao trung bình là 500 - 700 so với mực nước biển, chiều dài khoảng 1.100 km (dài nhất Lào) được coi là “Nóc nhà”,“Xương sống” của bán đảo Đông Dương, nằm giữa ba quốc gia Lào, Việt Nam, Campuchia với hai vùng chính là Bắc và Nam Trường Sơn.
Rừng núi Khăm Muộn cung cấp cho cư dân địa phương nhiều lâm thổ sản quý như gỗ đinh, trai, nghiến, lát, nấm hương, mộc nhĩ … Đồng thời, còn là nơi sinh sống của nhiều loại muông thú như hổ, báo, gấu, sơn dương, hươu, nai, cầy hương, lợn rừng, khỉ, trăn …Theo thống kê chưa đầy đủ, ở Bắc Trường Sơn có khoảng 115 loài thú, 416 loài chim, 87 loài bò sát – lưỡng cư, 760 loài động vật có xương sống và khoảng 1.500 loài thực vật. Đáng chú ý là 25 loài thú, 23 loài chim, 17 loài bò sát – lưỡng cư, 24 loài thực vật chỉ có ở Bắc Trường Sơn. Ở Nam Trường Sơn có khoảng 3.600 thực vật, 119 loài thú, 375 9 loài chim, 172 loài bò sát – lưỡng cư. Trong đó, có 38 loài động vật, 32 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng [30, tr.
Đất ở Khăm Muộn có nhiều loại, nhưng chủ yếu là đất đỏ bazan. Ngoài ra, còn có đất phù sa màu mỡ ven sông Mê Kông rất phù hợp cho việc sản xuất nông nghiệp, biến nơi đây thành vựa lúa của tỉnh Khăm Muộn. Khăm Muộn là nơi có dòng sông Mê Kông - một trong những con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam. Ngoài sông Mê Kông , còn có sông Xê Bắng Phay, Hín Bun và nhiều suối lớn nhỏ rất đa dạng được đổ đều trên địa bàn tỉnh.
Các sông suối có vai trò rất lớn trong đời sống của người dân, cung cấp nguồn nước lớn với nguồn thủy sản dồi dào và đường giao thông thuận tiện. Cư dân Khăm Muộn đã tận dụng những cánh đồng phù sa màu mỡ được sông Mê Kông bồi đắp để phát triển kinh tế nông nghiệp, sử dụng nguồn nước dồi dào để tưới tiêu, khai thác nguồn thủy sản của sông Mê Kông phục vụ đời sống. Khăm Muộn nằm trong phạm vi của đới khí hậu gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm từ 24 0 C đến 260 C, tháng nóng nhất là tháng 4 và tháng 5 tháng lạnh nhất từ giữa tháng 11 đến tháng 1.
Lượng mưa trung bình khoảng 1. Ngoài thuận lợi về giao thông đường thủy trên sông Mê Kông, Khăm Muộn còn có quốc lộ 13 Nam và quốc lộ 12 Lào nối Thà Khẹc với cửa khẩu Naphao - Cha Lo trên biên giới Việt - Lào và quốc lộ 12 Việt Nam, cầu Hữu nghị Thái - Lào III bắc qua sông Mê Kông, cách thị xã Thà Khẹc về phía Bắc sát quốc lộ 13 Nam sẽ giúp nối vùng Đông Bắc Thái Lan với Khăm Muộn và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Khăm Muộn rất phong phú về tài nguyên khoáng sản như: mỏ đá quý ở huyện Xê Bắng Phay, mỏ chì ở huyện Hín Bún, mỏ muối ở huyện Nỏng Bốc, 10 mỏ thạch cao ở huyện Bua La Pha, mỏ đá vôi ở huyện Mạ Há Xay, mỏ muối Ka Li ở huyện Nỏng Bốc, mỏ than đá ở Thà Khẹc, mỏ sắt ở huyện Hín Bún, mỏ đất sét ở huyện Nỏng Bốc. Với điều kiện tự nhiên đặc thù của mình, Khăm Muộn có những thuận lợi để xây dựng một nền kinh tế phát triển toàn diện, bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp… 1.
Các thành phần dân tộc và đơn vị hành chính. Qua thống kê mới nhất (năm 2014), Khăm Muộn có tổng dân số là 388.950 người, trong đó nữ 199.402 người chiếm 51,26% [42, tr.2], mật độ dân số trung bình 22 - 23 người/km2, có 61.505 hộ gia đình. Khăm Muộn có 9 dân tộc phân chia theo 3 nhóm ngôn ngữ như: Nhóm ngôn ngữ Lào – Tày có dân tộc Lào, Phu Thay và Xẹc, có nhiều trong khu vực huyện Thà khẹc, Nỏng Bốc, Hín Bún, Xê bắng Phay, Mạ Há Xay, Xay Bua Thong và Khun Khăm. Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me có dân tộc Mạ Kong, Nguộn, Ty và Ky.
Các dân tộc này sinh sống trong khu vực huyện Bua La Pha, Nhôm Ma Lạt, Na kái và Xay Bua Thong. Nhóm ngôn ngữ Mông – Miến có dân tộc Mông sinh sống tại một số làng trong huyện Thà Khẹc. Phân bố hành chính có 10 huyện: Thà khẹc, Nỏng Bốc, Hín Bún, Xê Bắng Phay, Bua La Pha, Mạ Há Xay, Nhôm Ma Lạt, Na Kái, Xay Bua Thong và Khun Khăm. Trong đó huyện có người Việt sinh sống đông nhất là huyện Thà Khẹc [30, tr.
Quá trình ngƣời Việt đến Lào và định cƣ tại tỉnh Khăm Muộn Quá trình nhâ ̣p cư của người Việt đến Lào là quá trình diễn ra lâu dài , gắ n liề n với quan hệ qua lại giữa hai nước Việt - Lào vốn được thiết lập từ xa xưa. Từ quá khứ đến hiện tại, người Việt Nam tới Lào làm ăn, sinh sống diễn ra 11 thường xuyên. Tuy nhiên , các đợt di cư của người Việt đến Lào đươ ̣c thúc đẩ y bởi nhiề u nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau , chủ yếu do hoàn cảnh và tình hình trong nước tác động. Quá trình di dân, nhập cư của người Việt đến Lào nói chung và tỉnh Khăm Muô ̣n nói riêng có thể chia thành 4 giai đoạn: Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn.
Thời kỳ Pháp thuộc. Thời kỳ sau Pháp thuộc. Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế. Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn.
Trong lịch sử và thực tiễn, quá trình di dân của người Việt đến Lào bắt đầu diễn ra từ thời phong kiến nhà Nguyễn. Người Việt Nam sang Lào để tránh bị đàn áp vì chính sách “Bình Tây, sát Đạo” và “Đói kém, thiên tai, sưu cao thế nặng” của chính quyền nhà Nguyễn. Đây có thể coi như giai đoạn đầu tiên của quá trình di dân lâu dài, tạo thành các cộng đồng người Việt ở Lào. Chính sách của triều Nguyễn lên đến đỉnh điểm của sự hà khắc vào thời vua Tự Đức (1823 - 1883).
Các đạo dụ cấm đạo Thiên chúa ban hành vào các năm 1848, 1851 và tháng 7 năm 1857 với quy định nghiêm khắc như buộc đá vào cổ rồi ném xuống biển những người giảng đạo, thích chữ vào mặt rồi đầy đi nơi rừng sâu nước độc, phanh thây những người không chịu bỏ đạo hoặc chứa chấp giáo sỹ nước ngoài. đã dẫn đến cả một phong trào cấm đạo, giết đạo trên khắp cả nước, nhiều linh mục bị sát hại, nhiều nhà thờ và các xóm đạo bị đốt phá. Chính sách cấm đạo dưới triều Nguyễn đã buộc nhiều người Công giáo phải bỏ làng xóm ra đi để giữ đạo. Họ chủ yếu từ các làng đạo miền Bắc và Trung Bộ chạy sang các nước láng giềng gần như Lào và Thái.
Vì vậy, nhiều nhà thờ hiện nay ở Lào và Thái là do các giáo dân và giáo sỹ người Việt 12 góp sức dựng nên, điển hình ở Trung và Nam Lào với các nhà thờ ở Thà Khẹc (Khăm Muộn), ở Savannakhet và ở Pắc Sê (Chămpasắc).