Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong y học cổ truyền phương Đông và kinh nghiệm dân gian của nhiều quốc gia, các loài thực vật thuộc chi Phyllanthus (họ Thầu dầu - Euphorbiaceae) từ lâu đã được ứng dụng làm dược liệu điều trị nhiều chứng bệnh như viêm gan, bệnh thận, đái tháo đường, kiết lỵ, mụn nhọt và lở loét. Chi Phyllanthus trên thế giới có hơn 700 loài với dạng sống đa dạng từ cây thân thảo, cây bụi đến cây gỗ nhỏ. Tại Việt Nam, chi này hiện diện khoảng 44 loài, trong đó các loài được quan tâm nghiên cứu và sử dụng phổ biến nhất gồm có Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus Schum. et Thonn.), Diệp hạ châu ngọt (Phyllanthus urinaria L.) và cây Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.).

Cây Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.) là loài cây bụi nhiệt đới phân bố rộng tại Đông Nam Á, Nam Trung Quốc, Tây Phi và Nam Phi; ở Việt Nam, cây thường mọc hoang ở ven rừng, bờ bụi khắp các vùng miền hoặc được người dân trồng làm hàng rào. Hầu hết các bộ phận của cây Phèn đen đều chứa dược tính và được sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền: rễ dùng trị viêm ruột, ruột kết hạch, tiêu viêm; lá dùng chữa sốt, máu nóng sinh mụn nhọt, sát trùng, lợi tiểu; vỏ thân dùng trị lên đậu có mủ và tiểu tiện khó khăn. Mặc dù có lịch sử sử dụng dân gian lâu đời và phong phú, các công trình nghiên cứu sâu về thành phần hóa học của loài Phyllanthus reticulatus tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Do đó, đề tài được thực hiện nhằm làm sáng tỏ thành phần hóa học của cây, cung cấp cơ sở khoa học tin cậy và có giá trị cho kho tàng dược liệu học cổ truyền.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Thu hái, xử lý nguyên liệu và điều chế các phân đoạn cao chiết từ cây Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.).
  2. Ứng dụng các kỹ thuật sắc ký để cô lập, tinh chế các hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao etyl acetat.
  3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được bằng việc kết hợp các phương pháp phổ nghiệm hiện đại ($^1H\text{-NMR}$, $^{13}C\text{-NMR}$, DEPT, 2D-NMR, HR-ESI-MS) và đối chiếu tài liệu tham khảo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu hỗn hợp gồm lá, cành thân, vỏ và rễ của cây Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), được thu hái tại huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vào tháng 6/2013 và được GS.TS. Võ Văn Chi giám định tên khoa học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khảo sát thành phần hóa học phân lập từ phân đoạn cao etyl acetat (chiết từ cao tổng ethanol).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hóa học các hợp chất thiên nhiên (Natural Products Chemistry), kết hợp lý thuyết phân loại thực vật học họ Euphorbiaceae và các phương pháp vật lý - hóa lý hiện đại trong phân tách và xác định cấu trúc phân tử:

  • Khung lý thuyết và tổng quan hóa thực vật: Khóa luận kế thừa cơ sở dữ liệu về các nhóm hợp chất thứ cấp đặc trưng của chi Phyllanthus như phenolic acid (acid gallic, acid ellagic, acid pyrogallic), coumarin (scopoletin), triterpenoid (betulin, acid betulinic, friedelin, friedelanol, lupeol, taraxerol), sterol ($\beta$-sitosterol, stigmasterol, daucosterol), flavonoid (quercetin, kaempferol, isoquercitrin, rutin) và đặc biệt là nhóm arylnaphthalene lignan glycoside (nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học cao).
  • Phương pháp chiết tách và phân lập thực nghiệm:
    • Phương pháp ngâm dầm (maceration) nguyên liệu thực vật khô, xay mịn với dung môi ethanol 96% ở nhiệt độ phòng.
    • Phương pháp chiết phân bố lỏng - lỏng (liquid-liquid extraction) sử dụng các dung môi có độ phân cực tăng dần: ete dầu hỏa (petroleum ether) và etyl acetat (ethyl acetate).
    • Phương pháp sắc ký cột cổ điển (Column Chromatography - CC) pha thường sử dụng chất hấp phụ Silica gel 60 ($0{,}040 - 0{,}063\text{ mm}$, Merck) và sắc ký cột pha đảo sử dụng Silica gel RP-18 (Merck).
    • Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Thin Layer Chromatography - TLC) trên bản nhôm tráng sẵn Kieselgel $60F_{254}$ (Merck) nhằm theo dõi quá trình giải ly, kiểm tra độ tinh khiết và gộp các phân đoạn.
    • Kỹ thuật phát hiện vết chất: Soi dưới đèn tử ngoại ở hai bước sóng $\lambda = 254\text{ nm}$ và $\lambda = 365\text{ nm}$; hiện màu hóa học bằng dung dịch thuốc thử axit sulfuric ($H_2SO_4$) 20% trong nước kết hợp gia nhiệt.
  • Phương pháp xác định cấu trúc hóa học:
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều: $^1H\text{-NMR}$ (500 MHz), $^{13}C\text{-NMR}$ (125 MHz), DEPT-90, DEPT-135 ghi trên thiết bị Bruker Avance tại Viện Hóa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội) và Phòng thí nghiệm Phân tích Trung tâm (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG TP.HCM).
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 2 chiều: $^1H\text{-}^1H\text{ COSY}$ (Correlation Spectroscopy), HSQC (Heteronuclear Single Quantum Coherence), HMBC (Heteronuclear Multiple Bond Coherence), NOESY (Nuclear Overhauser Effect Spectroscopy).
    • Khối phổ phân giải cao HR-ESI-MS (High-Resolution Electrospray Ionization Mass Spectrometry) ghi trên máy micrOTOF-Q II tại Phòng thí nghiệm Phân tích Trung tâm (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG TP.HCM).
    • Tra cứu cấu trúc hóa học và tính mới của hợp chất qua phần mềm cơ sở dữ liệu chuyên ngành SciFinder (thực hiện ngày 16/04/2015 tại Đại học Leuven, Vương quốc Bỉ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này hệ thống hóa các đặc điểm thực vật học, công dụng dân gian, nghiên cứu dược lý và các công bố khoa học về thành phần hóa thực vật của cây Phèn đen:

  • Đặc điểm thực vật và phân bố: Cây bụi cao 2–4 m, cành mảnh màu đen nhạt; lá hình trứng ngược hoặc bầu dục (dài 1,5–3 cm, rộng 6–12 mm); hoa mọc chùm ở nách lá; quả hình cầu chuyển đen khi chín; hạt 3 cạnh màu nâu. Cây phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, Nam Trung Quốc và châu Phi.
  • Dược tính theo y học cổ truyền và nghiên cứu hiện đại: Tổng hợp chi tiết 12 bài thuốc cổ truyền ứng dụng các bộ phận rễ, lá, cành và vỏ thân cây Phèn đen để chữa kiết lỵ, tụ máu do chấn thương, trĩ, chảy máu nướu răng, rắn cắn, bí tiểu và nhọt độc. Đề cập thử nghiệm dược lý quốc tế của E. Omulokoli và cộng sự (1997) chứng minh dịch chiết methanol từ lá Phèn đen có hoạt tính chống ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum.
  • Tổng quan thành phần hóa học: Lập bảng tổng hợp 34 hợp chất hữu cơ từng được phân lập từ các bộ phận của cây Phyllanthus reticulatus từ các công trình nghiên cứu trên thế giới, bao gồm 6 hợp chất phenolic acid/coumarin, 19 hợp chất triterpenoid/sterol, 5 flavonoid/flavonoid glycoside và 4 hợp chất lignan/glycoside khác cùng công thức cấu tạo tương ứng.

Chương 2: Thực nghiệm

Trình bày chi tiết hóa chất, thiết bị, quy trình xử lý nguyên liệu, điều chế các loại cao và quy trình sắc ký phân lập các chất từ cao etyl acetat:

  • Xử lý mẫu và điều chế cao: 26,0 kg nguyên liệu khô (gồm lá, cành thân, vỏ và rễ) xay thành bột mịn, ngâm dầm với ethanol 96%, lọc và cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm, thu được 834,0 g cao tổng ethanol thô. Tiến hành chiết lỏng - lỏng phân bố cao ethanol thô với các dung môi thu được:
    • Cao ete dầu hỏa: 52,0 g
    • Cao etyl acetat: 118,0 g
    • Cao cắn còn lại: 294,0 g
Quy trình phân đoạn sắc ký Khối lượng mẫu nạp Hệ dung môi giải ly Kết quả phân đoạn / Hợp chất thu được
SKC Cấp 1 (Silica gel) 118,0 g (Cao EtOAc) Ete dầu hỏa (ED) 100% $\to$ $CH_2Cl_2$ 100% $\to$ $CH_2Cl_2 : MeOH$ (5% $\to$ 100% MeOH) Thu được 9 phân đoạn chính (EA1 đến EA9)
SKC Cấp 2 (Silica gel) Phân đoạn EA4 Ete dầu hỏa : Etyl acetat (1:9) Thu được 13 phân đoạn nhỏ (A đến M)
SKC Cấp 3a (Silica gel) 2,0 g (Phân đoạn E) Ete dầu hỏa : Etyl acetat (1:4) Thu được 3 phân đoạn phụ (E1, E2, E3)
SKC Tinh chế E2 285,0 mg (Phân đoạn E2) Ete dầu hỏa : Etyl acetat (1:1) Cô lập thành công Hợp chất P6 (50,0 mg, bột màu trắng)
SKC Cấp 3b (Silica gel) 2,7 g (Phân đoạn G) $CHCl_3 : MeOH$ (10:1) Thu được 7 phân đoạn phụ (G1 đến G7)
SKC Tinh chế G2 307,0 mg (Phân đoạn G2) Etyl acetat : Methanol (1:1) Cô lập thành công Hợp chất P11 (10,0 mg, bột màu trắng)
SKC Tinh chế G5 50,0 mg (Phân đoạn G5) Etyl acetat : Methanol (10:1) Cô lập thành công Hợp chất P10 (20,0 mg, bột màu trắng)

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này tập trung biện luận phổ chi tiết để xác định cấu trúc hóa học của 3 hợp chất tinh khiết cô lập được:

  • Khảo sát cấu trúc Hợp chất P6 (Phyllanthusmin C):

    • Thu được dưới dạng bột màu trắng (50,0 mg), cho 1 vết duy nhất trên TLC ($CHCl_3 : MeOH$ 10:1), hiện màu tím với $H_2SO_4$ 20% và phát huỳnh quang tím sáng dưới đèn UV.
    • Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ và DEPT cho thấy P6 có 26 nguyên tử carbon, bao gồm 1 carbon carbonyl lacton ($\delta_C\ 170{,}4$), 6 carbon thơm mang oxy, 5 carbon thơm methine ($\delta_C\ 100{,}9 - 130{,}4$), 6 carbon thơm bậc bốn, 1 nhóm dioxymethylene ($\delta_C\ 101{,}1$), 1 nhóm oxymethylene ($\delta_C\ 67{,}7$), 2 nhóm methoxy ($\delta_C\ 55{,}6$ và $56{,}1$) và 5 carbon của một đơn vị đường ($\delta_C\ 66{,}3 - 105{,}6$).
    • Phổ $^1H\text{-NMR}$ thể hiện 5 proton thơm, 2 proton nhóm dioxymethylene ($\delta_H\ 6{,}04$), 2 proton không tương đương của nhóm oxymethylene lacton ($\delta_H\ 5{,}45$ và $5{,}51$), 2 nhóm methoxy ($\delta_H\ 3{,}79$ và $4{,}07$) và 1 proton anomer đường ($\delta_H\ 4{,}61$, $J = 7{,}5\text{ Hz}$).
    • Tương quan HMBC từ proton anomer $H-1''$ ($\delta_H\ 4{,}61$) đến $C-7$ ($\delta_C\ 144{,}7$) chứng minh đường gắn vào aglycon tại C-7. Hằng số ghép $J = 7{,}5\text{ Hz}$ và tương quan NOESY xác định đường là $\alpha\text{-L-arabinopyranose}$. Khung aglycon được xác định là diphyllin. Kết hợp so sánh dữ liệu phổ với tài liệu tham khảo, P6 được xác định là Phyllanthusmin C.
  • Khảo sát cấu trúc Hợp chất P11 (Phyllanthusmin D):

    • Thu được dạng bột màu trắng (10,0 mg); khối phổ HR-ESI-MS xuất hiện mũi ion cộng kết $[M+Na]^+$ tại $m/z = 709{,}1759$ tương ứng công thức phân tử $C_{33}H_{34}O_{16}Na$ ($M + Na = 709$).
    • Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ và DEPT xác định 33 nguyên tử carbon, trong đó khung tương tự P6 nhưng xuất hiện thêm tín hiệu của phân tử đường thứ hai ($\delta_C\ 106{,}9$) và một nhóm acetoxyl ($-\text{OCOCH}_3$ tại $\delta_C\ 172{,}5$ và $\delta_C\ 20{,}6$; $\delta_H\ 2{,}05$).
    • Tương quan HMBC xác nhận phân tử đường thứ nhất gắn vào aglycon diphyllin tại vị trí C-7; phân tử đường thứ hai gắn vào phân tử đường thứ nhất tại vị trí $C-3''$ ($\delta_C\ 81{,}6$) qua tương quan từ proton anomer $H-1'''$ ($\delta_H\ 4{,}50$) đến $C-3''$.
    • Tương quan HMBC từ $H-4''$ ($\delta_H\ 5{,}11$) đến carbon carbonyl $\delta_C\ 172{,}5$ ($4''\text{-OAc}$) chứng minh nhóm acetyl gắn tại vị trí $C-4''$ của đường thứ nhất. Hai phân tử đường đều là $\alpha\text{-L-arabinopyranose}$. Cấu trúc P11 được xác định là Phyllanthusmin D.
  • Khảo sát cấu trúc Hợp chất P10 ($7\text{-}O\text{-}[\alpha\text{-L-arabinopyranosyl-(1}\to\text{3)-}\alpha\text{-L-arabinopyranosyl]diphyllin}$):

    • Thu được dạng bột màu trắng (20,0 mg); khối phổ HR-ESI-MS cho pic ion phân tử $[M+Na]^+$ tại $m/z = 667{,}1646$ tương ứng công thức phân tử $C_{31}H_{32}O_{15}Na$ ($M + Na = 667$).
    • Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ và DEPT cho thấy P10 có 31 carbon, cấu trúc khung aglycon diphyllin và chuỗi disaccharide gồm hai đơn vị $\alpha\text{-L-arabinopyranose}$ nối $(1\to3)$ giống hệt P11, nhưng không có tín hiệu của nhóm acetyl tại vị trí $C-4''$.
    • Các tương quan 2D-NMR (COSY, HSQC, HMBC, NOESY) xác nhận liên kết glycoside giữa đường thứ nhất với C-7 của diphyllin và giữa đường thứ hai với $C-3''$ của đường thứ nhất. Hợp chất P10 được xác định là $7\text{-}O\text{-}[\alpha\text{-L-arabinopyranosyl-(1}\to\text{3)-}\alpha\text{-L-arabinopyranosyl]diphyllin}$.
    • Kết quả tra cứu trên cơ sở dữ liệu quốc tế SciFinder vào ngày 16/04/2015 xác nhận P10 là một hợp chất mới hoàn toàn trong tự nhiên.

Chương 4: Kết luận và đề xuất

  • Tóm lược kết quả cô lập thành công 3 hợp chất arylnaphthalene lignan glycoside tinh khiết từ cao etyl acetat của cây Phèn đen.
  • Đề xuất mở rộng nghiên cứu sang phân đoạn cao butanol và tiến hành các thử nghiệm hoạt tính sinh học trên các hợp chất đã cô lập.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu đề ra và đạt được các kết quả cụ thể với số liệu thực nghiệm rõ ràng:

Ký hiệu mẫu Tên hợp chất / Danh pháp cấu tạo Khối lượng cô lập Công thức phân tử Dữ liệu khối phổ HR-ESI-MS ($m/z$) Tính chất & Độ mới khoa học
P6 Phyllanthusmin C 50,0 mg $C_{26}H_{24}O_{10}$ — Bột màu trắng; lần đầu tiên được cô lập từ loài Phyllanthus reticulatus
P11 Phyllanthusmin D 10,0 mg $C_{33}H_{34}O_{16}$ $709{,}1759\ [M+Na]^+$ Bột màu trắng; lần đầu tiên được cô lập từ loài Phyllanthus reticulatus
P10 $7\text{-}O\text{-}[\alpha\text{-L-arabinopyranosyl-(1}\to\text{3)-}\alpha\text{-L-arabinopyranosyl]diphyllin}$ 20,0 mg $C_{31}H_{32}O_{15}$ $667{,}1646\ [M+Na]^+$ Bột màu trắng; hợp chất mới trong tự nhiên (xác nhận qua SciFinder)

Đóng góp khoa học của đề tài:

  1. Phát hiện hợp chất mới trong tự nhiên: Đã phân lập, xác định đầy đủ cấu trúc hóa học và đăng ký tính mới của hợp chất lignan diglycoside P10 ($7\text{-}O\text{-}[\alpha\text{-L-arabinopyranosyl-(1}\to\text{3)-}\alpha\text{-L-arabinopyranosyl]diphyllin}$), đóng góp một cấu trúc phân tử mới vào cơ sở dữ liệu hóa học hợp chất thiên nhiên thế giới.
  2. Bổ sung dẫn liệu hóa thực vật học: Lần đầu tiên phát hiện và cô lập thành công hai hợp chất P6 (phyllanthusmin C) và P11 (phyllanthusmin D) từ loài Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.), mở rộng hiểu biết về sự phân bố của nhóm arylnaphthalene lignan trong chi Phyllanthus.
  3. Cung cấp quy trình chiết tách chuẩn xác: Xây dựng thành công quy trình chiết xuất phân bố và hệ dung môi sắc ký cột nhiều cấp hiệu quả để phân lập các hợp chất lignan glycoside có độ phân cực trung bình và cao từ cao etyl acetat.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được tác giả thẳng thắn chỉ ra các giới hạn và đề xuất hướng mở tiếp theo:

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu mới chỉ tập trung khảo sát thành phần hóa học trên phân đoạn cao etyl acetat, chưa tiến hành nghiên cứu sâu trên các phân đoạn cao còn lại (đặc biệt là phân đoạn cao phân cực butanol và cao kém phân cực ete dầu hỏa).
    • Chưa thực hiện được các thử nghiệm đánh giá hoạt tính sinh học (in vitro / in vivo) như hoạt tính độc tế bào ung thư, kháng vi sinh vật kiểm định, hoặc kháng viêm trên các hợp chất cô lập được do giới hạn về thời gian và phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục thực hiện sắc ký phân lập các hợp chất hữu cơ trên phân đoạn cao n-butanol nhằm tìm kiếm thêm các hợp chất glycoside mới.
    • Gửi mẫu các hợp chất tinh khiết P6, P10, P11 đi thử nghiệm sàng lọc hoạt tính sinh học (đặc biệt là hoạt tính gây độc tế bào ung thư theo định hướng của khung arylnaphthalene lignan) nhằm tạo cơ sở khoa học giải thích cho các bài thuốc y học cổ truyền từ cây Phèn đen.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị chuyên môn cao và là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Hóa học (chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa hợp chất thiên nhiên): Tham khảo chi tiết phương pháp lập sơ đồ chiết phân bố lỏng - lỏng, kỹ thuật chọn hệ dung môi sắc ký cột silica gel pha thường và pha đảo, cũng như cách bố cục một nghiên cứu thực nghiệm chuẩn mực.
  • Nhà nghiên cứu ngành Hóa Dược và Dược học: Tham khảo quy trình phân tích và quy chuẩn biện luận phổ NMR hiện đại ($^1H$, $^{13}C$, DEPT, COSY, HSQC, HMBC, NOESY) và khối phổ HR-ESI-MS để giải mã cấu trúc các phân tử lignan mang chuỗi đường phức tạp.
  • Người làm đề tài về chi Phyllanthus và cây thuốc dân gian: Cung cấp bảng dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân đối chiếu chi tiết của dẫn xuất diphyllin, phyllanthusmin C, phyllanthusmin D và tài liệu tổng quan toàn diện về 34 hợp chất từng công bố từ cây Phèn đen.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng bộ phận nào của cây Phèn đen và thu hái ở đâu? Nghiên cứu sử dụng mẫu nguyên liệu hỗn hợp gồm lá, cành thân, vỏ và rễ của cây Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.) được thu hái tại huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vào tháng 6/2013, với tổng khối lượng mẫu khô sau khi sơ chế và xay mịn là 26,0 kg.

2. Khung cấu trúc hóa học chung của 3 hợp chất phân lập được (P6, P10, P11) là gì? Cả 3 hợp chất đều thuộc nhóm arylnaphthalene lignan glycoside, có phần aglycon chung là diphyllin ($4,5\text{-dimetoxy-}3',4'\text{-metylendioxy-}2,7'\text{-dien-}9,9'\text{-lacton}$), gắn với các phân tử đường $\alpha\text{-L-arabinopyranose}$ tại vị trí carbon C-7.

3. Điểm khác biệt về cấu trúc hóa học giữa hợp chất mới P10 và hợp chất P11 là gì? Hợp chất P11 (Phyllanthusmin D) có cấu trúc mang 2 phân tử đường $\alpha\text{-L-arabinopyranose}$ nối $(1\to3)$ và có một nhóm acetyl gắn tại vị trí carbon $C-4''$ của phân tử đường thứ nhất ($\delta_C\ 172{,}5$; $\delta_H\ 2{,}05$). Trong khi đó, hợp chất mới P10 có cấu trúc chuỗi disaccharide tương tự nhưng không bị acetyl hóa ở vị trí $C-4''$, dẫn đến khối lượng phân tử giảm đi 42 Da so với P11 (thể hiện qua pic $[M+Na]^+$ tại $m/z = 667{,}1646$ của P10 so với $m/z = 709{,}1759$ của P11).

4. Dữ liệu phổ nào đóng vai trò quyết định trong việc chứng minh tính mới của hợp chất P10? Tổ hợp dữ liệu gồm: khối phổ phân giải cao HR-ESI-MS xác định chính xác ion $[M+Na]^+$ tại $m/z = 667{,}1646$ ($C_{31}H_{32}O_{15}Na$); phổ DEPT và $^{13}C\text{-NMR}$ xác định đúng 31 nguyên tử carbon; phổ 2D-NMR (HMBC và NOESY) xác định chính xác vị trí liên kết glycoside $C-7\to C-1''$ và $C-3''\to C-1'''$; cùng việc tra cứu đối chiếu trên hệ thống cơ sở dữ liệu SciFinder vào ngày 16/04/2015.

5. Từ 118,0 g cao etyl acetat ban đầu, hiệu suất phân lập thu được bao nhiêu gam của từng hợp chất? Từ 118,0 g cao etyl acetat, quá trình sắc ký cột phân đoạn và tinh chế đã thu được 50,0 mg hợp chất P6 (Phyllanthusmin C), 20,0 mg hợp chất P10 ($7\text{-}O\text{-}[\alpha\text{-L-arabinopyranosyl-(1}\to\text{3)-}\alpha\text{-L-arabinopyranosyl]diphyllin}$) và 10,0 mg hợp chất P11 (Phyllanthusmin D).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Huy Hoàng đã thực hiện thành công quy trình chiết xuất và sắc ký phân lập từ 26,0 kg nguyên liệu cây Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.), thu được 3 hợp chất tinh khiết thuộc nhóm arylnaphthalene lignan glycoside từ phân đoạn cao etyl acetat. Bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại ($^1H\text{-NMR}$, $^{13}C\text{-NMR}$, DEPT, 2D-NMR, HR-ESI-MS) kết hợp tra cứu SciFinder, đề tài đã xác định cấu trúc của hai hợp chất lần đầu tiên tìm thấy trong loài là phyllanthusmin C (P6), phyllanthusmin D (P11) và phát hiện một hợp chất hoàn toàn mới trong tự nhiên là $7\text{-}O\text{-}[\alpha\text{-L-arabinopyranosyl-(1}\to\text{3)-}\alpha\text{-L-arabinopyranosyl]diphyllin}$ (P10). Công trình là một đóng góp thực nghiệm có giá trị khoa học vững chắc, bổ sung dẫn liệu quan trọng cho ngành hóa học các hợp chất thiên nhiên và nghiên cứu dược liệu tại Việt Nam.