Đặt vấn đề Xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày một nâng cao, van dé chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con người ngày càng được chú trọng. Cùng với việc ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực y học, xu hướng trở về với lối sống thuần tự nhiên đang ngày càng được quan tâm và phô biến, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu, điều chế các loại dược pham có nguồn góc từ thiên nhiên giúp điều trị bệnh, bổ sung dưỡng chat, không độc hai và không gây ra tác dụng phụ cho cơ thé. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới âm gió mùa nên hệ thực vật rất phong phú và đa dạng lên đến 12000 loài, đó là nguồn tài nguyên sinh học quý giá, nhiều cây thuốc quý với đầy đủ chủng loại và số lượng lớn. Từ xa xưa, nhiều loại thảo dược đã được sử dụng trong việc dưỡng thương và trị bệnh.
Lá trầu không (Piper betle) là thảo được phô biến trong dân gian, được sử dụng xông hơi cho phụ nữ sau sinh, tam cho trẻ sơ sinh. Trong y học cô truyền Việt Nam, lá trầu không được sử dung cho nhiều mục đích khác nhau như nhai trầu dé chắc răng, chữa viêm mủ chân răng, nước sắc lá trầu dùng để rửa hoặc đắp trị vết thương bỏng, lở loét, mụn nhọt, cham, hay ngâm trong nước sôi dùng dé nhỏ mắt trị bệnh viêm kết mạc (Nguyễn Thiện Chí và ctv, 2016). Theo đông y, lá trầu không có vị cay nồng, tính ấm, có tác dụng chữa ho, trị các bệnh đường tiêu hóa, đau bụng hoặc sa dạ con sau sinh. Tinh dầu trầu không giúp ngăn ngừa phát sinh ưng thư gan, thực quản, đại tràng, da (Pradhan và ctv, 2013).
Các nhà khoa học An Độ cho biết trong lá trầu không có carotenoid, chất xơ rất có lợi cho tiêu hóa, chống lão hóa và kìm hãm hàm lượng cholesterol, làm vững chắc thành mạch, chữa bệnh tăng huyết áp (Choudhary và ctv, 2002). Hiện nay các sản phâm về trâu không cũng đã có mặt trên thị trường như tinh dau, nước cat, siro trâu không. Có nhiều nghiên cứu về đặc điểm thực vật, thành phan tinh dầu, thành phan dich chiết, hoạt tính sinh học của tinh dau và cao chiết lá trầu. Ngoài tinh dau, lá trầu không còn chứa các hợp chất như carbohydrate, tannin, alkaloid, tuy nhiên các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào việc khai thác va sử dụng tinh dau, hầu như không quan tâm đến các thành phan khác.
Trong thực tế, sau khi chiết tinh dau bã lá trầu không sẽ bị thải bỏ ra môi trường. Phan bã này chiếm tỉ lệ lớn trong nguyên liệu ban đầu, chứa nhiều polysaccharide và một số thành phần chưa được ly trích. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu quy trình thu nhận đồng thời tinh dau và dịch đường từ lá trầu không (Piper betle)” được thực hiện nhằm sử dụng triệt dé nguồn nguyên liệu lá trầu không tao ra các sản phẩm có giá trị, đồng thời góp phan han chế ô nhiễm môi trường. Mục tiêu của đề tài Thu nhận tinh dau lá trầu không và dịch thủy phân giàu đường từ bã lá trầu không, làm cơ sở cho việc phát triển sản phẩm siro lá trầu không.
Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Định lượng một số nhóm chất trong lá trầu không Nội dung 2: Chiết xuất và phân tích thành phan tinh dầu lá trau không. Nội dung 3: Thủy phân polysaccharide trong bã lá trầu không sau khi chiết tinh dầu bằng enzyme. Khảo sát sự ảnh hưởng của các đơn yếu tố đến hàm lượng đường thu được. Nội dung 4: Khảo sát hoạt tính sinh học của tinh dầu và dịch thủy phân bã lá trầu không.
CHƯƠNG 2 TONG QUAN TAI LIEU 2. Khái quát về cây trầu không Trau không thuộc ho Hồ tiêu (Piperaceae), là họ thực vật chứa trên 2.000 loài, được chia thành 9 chi. Chúng là các loại cây bụi hay dây leo ở khu vực nhiệt đới. Các loài của họ này có hoa được chia thành chuỗi, có mùi thơm rất mạnh, cay nồng.
Các loại cây ăn hạt, ăn lá như tiêu, trầu không, lá lốt đóng vai trò quan trọng về mặt kinh tế trong họ hồ tiêu (Hình 2. Phân loại khoa học Theo hệ thống phân loại của Pradhan (2013), cây trầu không được phân loại như sau: Ngành: Magnoliphyta Lớp: Magnolipsida Bộ: Piperales Họ: Piperaceae Chi: Piper Loai: betel Tên khoahoc: Piper betel L. Cây Trầu không Tên thường gọi: cây trâu, cây trâu không, trâu ăn lá, trâu cau, trâu nhây. Tên nước ngoài: betel Baum (Đức), árbol de betel (Tây Ban Nha), arbre de betel (Pháp), pokok sirih (Malaysia), Betel Boom (Hà Lan).
Trầu không có nguồn gốc ở miền Trung và Đông Malaysia; được trồng từ 2500 năm trước. Ở Trung Quốc, trầu không cũng được ghi chép từ đời nhà Tần 618 — 907 sau Công nguyên. Đến đầu thế kỷ 15, cây bắt đầu được đưa sang Châu Âu (Kumar, 1999). Ở Việt Nam, trầu không cũng đã được nhắc đến trong truyện cô “Trầu — Cau” từ thời các vua Hùng, cách đây khoảng 2000 năm.
Hiện nay cây trầu không được trồng ở khắp nơi (trừ vùng núi cao lạnh trên 1500m) như vườn các gia đình, trang trại (ở miền Nam) và cả trên các cánh đồng. Việc trồng trầu không ở Việt Nam cũng như ở các nước châu Á khác thường gắn với tục ăn trầu của người dân (Trần Duy Phong, 2010). Đặc điểm hình thái Trau không là cây dây leo thường xanh, thân nhẫn được sử dụng rộng rãi như một phương thuốc chữa bệnh tại nha. Lá trau mọc so le, cuống có be, đài 1,5 — 3,5 cm, phiến lá hình trái xoan đài 10 — 13 em, rộng 4,5 — 9 em, cuống lá hình tim, đầu lá nhọn, khi soi lên thấy rất nhiều điểm chứa tinh dầu rất nhỏ, mỗi lá thường có 5 gân (Đỗ Tất Lợi, 2013; Pradhan và ctv, 2013).
Hoa của cây trầu không có hình trụ tròn, dai khoảng 2 — 5 cm, hoa 4 có các sợi lông màu trăng. Hoa trâu không cũng có cuông dài như cuông lá, hoa mọc ở nách lá khi hoa già khô thì chuyên sang màu nâu sậm. Thành phần hóa học của lá trầu không Trong lá trầu không có chứa tinh dầu tương đối nhiều chiếm từ 0,8 — 2,4%, tỷ trọng 0,958 — 1,057 g/mL. Tinh dầu có màu vàng, hương thơm nồng mùi creozot (củi đốt), có vị nóng và cay (Đỗ Tat Lợi, 2013; Phạm Minh Tú, 2018).
Tinh dau rat ít tan trong nước, tan tốt trong dầu béo và các loại dung môi hữu cơ: methanol, petroleum ether, diethyl ether, chloroform (Nguyễn Thiện Chí và ctv, 2016). Công trình nghiên cứu của Row và Ho (2009) cho thấy trong tỉnh dầu gồm 36 thành phan, chủ yếu là eugenol (36,2%); chavibetol acetat (16,9%); 4-allyl phenylaxetat (9,4%) và 4-allylphenol (7,2%). Theo nghiên cứu của Prakash và ctv năm 2010 về thành phần hóa học và hoạt tính kháng oxy hóa của tinh đầu trầu không, trong 32 thành phan của tinh dau trong đó eugenol chiếm 63,39% và acetyl eugenol (14,05%) được xác định là hai thành phan chính của tinh dau. Theo nghiên cứu của Guha năm 2006, trong lá trau không còn chứa tannin, saponin, đường khử, pectin, flavonoid, alkaloid, carbohydrate, phytosterol, steroid và acid hữu cơ.
Ứng dụng của lá trầu trong y học Lá trầu không được dùng dé xông hơi giúp phụ nữ sau sinh và kháng khuẩn vùng kin. Lá dùng dé ho trẻ sơ sinh giúp khử trùng tự nhiên và kháng các vi khuẩn gây bệnh cho trẻ, chữa phát ban, chữa ho, mát xa bằng lá trầu giảm chướng bụng, khó tiêu. Lá trầu có tác dụng chữa ho khá hiệu qua vì chúng chứa nhiều chất khang sinh mạnh, có thé giúp tan dom, hạn chế được tình trạng viêm nhiễm do các cơn ho dai dang gây ra. Ăn trầu giúp hạn chế bị mắc các bệnh đường tiêu hóa, kí sinh trùng ở ruột.
Nước sắc lá trầu dùng dé rửa hoặc đắp trị vết thương ngoài da như bỏng, lở loét, mụn nhọt, chàm. Lá trầu ngâm trong nước sôi dùng nhỏ mắt chữa viêm kết mạc (Sharma, 1991; Van der Vossen, 2000). Tại Thái Lan và Trung Quốc lá trầu không được dùng để làm dịu bệnh đau răng. Lá trầu nhai với vôi giúp sát trùng răng miệng, chữa viêm mủ chân răng, giúp răng chắc khỏe.
Lá trầu không cũng được sử dụng như là chất kích thích, chất khử trùng và chất làm sạch 5 hơi thở. Tại Malaysia chúng được sử dụng để điều trị chứng đau đầu, viêm khớp và các thương ton ở khớp. Tại Indonesia chúng được uống như một loại trà và sử dụng như là thuốc kháng sinh. Chúng cũng được bổ sung vào tra, cũng như trong thuốc mỡ hay thuốc hít để điều trị đau đầu, điều trị chứng khó tiêu, táo bón, cũng như có tác dụng thông mũi và hỗ trợ tiết sữa.
Người Việt Nam từ hàng nghìn năm nay đã sử dụng lá trầu không và quả cau dé sáng tạo lên một món ăn truyền thống mang ý nghĩa nhân văn và văn hóa của người Việt Nam "miếng trầu là đầu câu chuyện" (Phạm Minh Tú, 2018). Tổng quan về tỉnh dầu Tinh dau là hỗn hợp nhiều cấu tử dé bay hơi, có mùi đặc trưng, được tách ra từ các bộ phận khác nhau của thực vật, là sản phẩm của quá trình chưng cất lôi cuốn hơi nước và chiết nguyên liệu trong dung môi. Tinh dau từ lâu đã được loài người biết đến. Từ thời kỳ Trung cô (khoảng thé kỷ thứ 15) tinh dau bat đầu trở nên phổ biến.
Từ thé kỷ thứ 15 đến thé ky thứ 17, tinh dau đã được sử dụng dé làm thơm cho tóc và da mặt, dùng dé chữa bệnh va dùng trong đời sống hang ngày của con người. Từ thế ky thứ 17 đến thé ky thứ 19, tinh dầu được dùng nhiều dé trang điểm, làm thuốc và dùng trong công nghiệp với phạm vi rộng hơn. Từ thế kỷ 20 đến những năm đầu của thé kỷ 21, cùng với sự tiến bộ của nhân loại và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngành công nghiệp sản xuất tinh dầu đã dần phát triển và trở thành một sản phẩm không thể thiếu trong đời sống của con người trong nhiều lĩnh vực như: hương liệu, thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm đặc biệt là trong lĩnh vực y học (Doan Ngoc Dũng, 2017). Tinh dau là sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chat và không được sử dụng lại trong hoạt động sống của thực vật.
Mỗi loại tinh dầu được lay từ các nguồn nguyên liệu khác nhau sẽ có mùi vị khác nhau, phụ thuộc vào thành phần của các hợp chất có trong đó. Các loại cây có tinh đầu được phân bố rộng trong thiên nhiên. Trữ lượng tinh dầu phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thé nhưỡng. Cây mọc ở vùng nhiệt đới có hàm lượng tinh dầu nhiều hơn ở vùng ôn đới.