Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đào tiên có tên khoa học là Crescentia cujete L., thuộc họ Chùm Ớt (Bignoniaceae), là loài cây thân gỗ có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ và đã được di thực vào Việt Nam. Loài thực vật này được trồng phổ biến tại các tỉnh phía Nam và một số địa phương phía Bắc. Trong y học dân gian, các bộ phận của đào tiên, đặc biệt là phần thịt quả và hạt, thường được sử dụng trong các bài thuốc trị ho, long đờm, nhuận tràng, hạ sốt và sát trùng vết thương. Nhiều nghiên cứu dược lý thực nghiệm cũng chỉ ra tiềm năng của cây trong việc hạ đường huyết, kháng khuẩn, chống oxy hóa, tẩy giun và diệt ký sinh trùng.

Mặc dù chứa nhiều hoạt chất sinh học và hàm lượng dinh dưỡng cao, đào tiên tại Việt Nam vẫn chưa có chuyên luận riêng trong Dược điển Việt Nam (DĐVN) và các công trình nghiên cứu hệ thống về thành phần hóa học, kiểm nghiệm chất lượng còn hạn chế. Thịt quả có hàm lượng đường lớn, trong khi hạt chứa nguồn dầu béo dồi dào giàu acid béo không bão hòa có giá trị dược dụng. Nhằm bổ sung dữ liệu khoa học phục vụ tiêu chuẩn hóa dược liệu, khóa luận "Xác định hàm lượng đường trong thịt quả và bước đầu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dầu hạt đào tiên (Crescentia cujete L.) thu hái tại Thái Bình" được thực hiện với 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định hàm lượng đường trong thịt quả đào tiên (ở cả dạng mẫu tươi và mẫu sấy khô).
  2. Bước đầu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho dầu hạt đào tiên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Thịt quả đào tiên tươi, thịt quả sấy khô ở 60°C, hạt đào tiên sấy khô và dầu béo chiết xuất từ hạt đào tiên (Crescentia cujete L.).
  • Phạm vi không gian: Mẫu dược liệu được thu hái tại tỉnh Thái Bình, mẫu lưu trữ tại Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. Thực nghiệm kiểm nghiệm và phân tích dụng cụ được triển khai tại Bộ môn Hóa dược (Trường Đại học Y Dược - ĐHQGHN) và Khoa Hóa Pháp (Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương).
  • Phạm vi thời gian: Mẫu nguyên liệu thu hái vào tháng 3 năm 2023; khóa luận hoàn thành vào tháng 5 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên khung lý thuyết về kiểm nghiệm dược liệu và phương pháp phân tích tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam V (DĐVN V) cùng các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN):

  • Đánh giá độ ẩm dược liệu: Thực hiện theo phương pháp mất khối lượng do làm khô quy định tại Phụ lục 12.16 của DĐVN V đối với thịt quả tươi, thịt quả khô, hạt khô và bột hạt khô.
  • Khảo sát đặc điểm vi học hạt đào tiên: Thực hiện theo Phụ lục 12.18 của DĐVN V (phương pháp soi bột dược liệu) trên kính hiển vi Axioskop 40 (ZEISS, Đức) ở độ phóng đại 40x với môi trường soi là glycerin và nước cất.
  • Định lượng đường trong thịt quả đào tiên:
    • Phương pháp đo quang phổ UV-Vis: Áp dụng phương pháp Bengt Leopold sử dụng chất chuẩn glucose, phản ứng màu với thuốc thử acid p-aminobenzoic (1,5% trong acid acetic băng) và acid phosphoric (1,3% trong acid acetic băng), đo mật độ quang trên máy UV-Vis Cary 60 (Agilent Technologies) tại bước sóng hấp thụ cực đại $\lambda = 328\text{ nm}$.
    • Phương pháp hóa học Bertrand: Thủy phân mẫu bằng acid hydrocloric đậm đặc ở 100°C trong 3 giờ, trung hòa bằng natri hydroxyd 20%, loại tạp bằng chì acetat, cho phản ứng khử với hỗn hợp dung dịch Fehling A và Fehling B để tạo kết tủa đồng (I) oxid ($\text{Cu}_2\text{O}$), hòa tan kết tủa bằng dung dịch sắt (III) sulfat ($\text{Fe}_2(\text{SO}_4)_3$) và chuẩn độ lượng ion $\text{Fe}^{2+}$ tạo thành bằng dung dịch kali permanganat ($\text{KMnO}_4$) 0,1 N, quy đổi ra hàm lượng glucose tương ứng.
  • Chiết xuất và kiểm nghiệm các chỉ số lý hóa của dầu béo:
    • Chiết xuất dầu béo: Sử dụng hệ thống Soxhlet với dung môi n-hexan theo tỷ lệ khối lượng bột khô/thể tích dung môi là 3:5 (g/mL), chiết hồi lưu trong thời gian 3 giờ, sau đó cô quay chân không để thu hồi dầu thô.
    • Định lượng dầu béo: Phương pháp cân khối lượng sau khi sấy và loại dung môi.
    • Chỉ số acid: Xác định lượng KOH (mg) cần thiết để trung hòa acid béo tự do trong 1 g dầu theo Phụ lục 7.2 của DĐVN V.
    • Chỉ số peroxide: Xác định số mili đương lượng gam oxygen hoạt tính trên 1000 g dầu bằng phương pháp chuẩn độ iod với natri thiosulfat ($\text{Na}_2\text{S}_2\text{O}_3$) 0,01 N theo Phụ lục 7.6 của DĐVN V.
    • Chỉ số iod: Xác định mức độ chưa no của acid béo theo phương pháp Hübl (TCVN 6122-2010), chuẩn độ lượng iod dư bằng natri thiosulfat 0,1 N.
    • Chỉ số xà phòng hóa: Xác định lượng KOH (mg) cần thiết để trung hòa acid tự do và xà phòng hóa ester trong 1 g dầu theo Phụ lục 7.7 của DĐVN V.
  • Phân tích thành phần acid béo trong dầu: Chuyển hóa acid béo thành dẫn xuất methyl ester bằng phản ứng với dung dịch NaOH 2% trong methanol và $\text{H}_2\text{SO}_4$ 1 M trong methanol, chiết xuất pha ester bằng n-hexan, làm khô bằng $\text{Na}_2\text{SO}_4$ khan. Phân tích định tính và tính tỷ lệ phần trăm diện tích pic trên hệ thống sắc ký khí ghép khối phổ GC-MS/MS 7000D Triple Quad (Agilent Technologies), cột mao quản HP-5MS ($30\text{ m} \times 0,25\text{ mm} \times 0,25\ \mu\text{m}$), khí mang heli, kết nối thư viện phổ chuẩn NIST.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CRESCENTIA CUJETE L.

Chương này tổng hợp các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về vị trí phân loại, đặc điểm thực vật, phân bố, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của loài Crescentia cujete L.:

  • Phân loại và phân bố: Chi Crescentia gồm 6 loài được công nhận trên thế giới. Loài C. cujete L. (2n = 40) là cây gỗ nhỏ cao 5–8 m, hoa hình chuông nở về đêm, thụ phấn nhờ dơi, quả mọng vỏ cứng đường kính 6–12 cm (có thể đạt 20 cm).
  • Thành phần hóa học: Quả chứa flavonoid, saponin, tannin, alkaloid, các acid hữu cơ (crescentic, tartaric, citric), 16 hợp chất iridoid và iridoid glycosid (như crescentins I–V, crescentins A–C, aucubin), các n-alkyl glycosid và hợp chất p-hydroxybenzoyloxy. Hàm lượng khoáng chất trong quả ghi nhận natri (59,77 ppm), phosphor (53,01 ppm), mangan (21,74 ppm), sắt (7,88 ppm), đồng (6,90 ppm), kẽm (3,97 ppm) và vết hydro xyanua (0,11 ppm). Hạt chứa 30,25–32,80% protein và 34,10–36,98% dầu béo.
  • Hoạt tính dược lý và công dụng: Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh chiết xuất ethyl acetat từ quả có khả năng diệt ấu trùng ve gia súc Rhipicephalus microplus ($\text{LC}_{50} = 5,9%$). Dịch chiết quả có tác dụng kháng khuẩn (Vibrio harveyi, Aeromonas salmonicida), chống oxy hóa, hạ đường huyết trên chuột Mus musculus gây đái tháo đường bởi alloxan (ức chế enzym $\alpha$-amylase $55,21%$ ở liều 10.000 ppm), tẩy giun Eudrilus eugeniae, và trung hòa nọc rắn Vipera russelli ở liều 400 mg/kg.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc nguyên vật liệu, danh mục hóa chất tinh khiết, trang thiết bị phân tích hiện đại và quy trình thực nghiệm chuẩn hóa:

  • Mô tả quy trình xử lý mẫu thịt quả tươi, mẫu sấy khô ở 60°C (tỷ lệ thu hồi đạt 0,14 kg khô/1 kg tươi) và thu hồi hạt (đạt 22,73 g hạt khô/1 kg thịt quả tươi).
  • Thiết lập quy trình pha chế các thuốc thử chuyên biệt ($p$-aminobenzoic acid, Fehling A/B, thuốc thử Hübl) và quy trình chuẩn độ thể tích.
  • Cài đặt thông số hệ thống sắc ký GC-MS: chương trình nhiệt độ cột từ 70°C (giữ 3 phút), tăng với tốc độ 4°C/phút lên 202°C (giữ 20 phút), năng lượng ion hóa 70 eV, nhiệt độ nguồn ion 200°C, nhiệt độ cổng tiêm 250°C.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tác giả trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ mẫu đào tiên Thái Bình qua các bảng và sắc ký đồ:

Nhóm chỉ tiêu Mẫu phân tích / Phương pháp Kết quả thực nghiệm (Trung bình ± SD)
Độ ẩm dược liệu Thịt quả tươi $84,03 \pm 2,07%$
Thịt quả khô $10,42 \pm 0,36%$
Hạt khô nguyên vẹn $5,14 \pm 0,11%$
Bột hạt khô $8,05 \pm 0,12%$
Hàm lượng đường thịt quả Đo quang phổ UV-Vis (328 nm) - Mẫu tươi $7,92 \pm 0,02%$
Đo quang phổ UV-Vis (328 nm) - Mẫu khô $39,69 \pm 0,09%$
Phương pháp Bertrand - Mẫu tươi $7,16 \pm 0,17%$
Phương pháp Bertrand - Mẫu khô $38,95 \pm 2,75%$
Hàm lượng dầu béo hạt Chiết Soxhlet với n-hexan (tính trên bột khô) $17,56 \pm 0,58%$
Chỉ số lý hóa của dầu hạt Chỉ số acid $3,64\text{ mg KOH/g}$
Chỉ số peroxide $9,31\text{ mEq/kg}$
Chỉ số iod (phương pháp Hübl) $101,52\text{ g }\text{I}_2/100\text{ g}$
Chỉ số xà phòng hóa $171,70\text{ mg KOH/g}$
  • Đặc điểm vi học hạt: Tiêu bản soi bột hạt (phóng đại 40x) xác định các thành phần: mảnh mô mềm, lớp tế bào biểu bì thành dày màu nâu đậm, biểu bì thành mỏng không màu hình đa giác, giọt dầu béo hình cầu trong suốt nằm rải rác, hạt tinh bột hình trứng hoặc hình thận với rốn phân nhánh, và lớp nội nhũ.
  • Thành phần acid béo qua GC-MS: Sắc ký đồ ghi nhận 5 pic chính tương ứng với các acid béo quan trọng:
STT Thời gian lưu (RT, phút) Tên acid béo Công thức cấu tạo Tỷ lệ diện tích pic (%)
1 35,026 Acid palmitic (C16:0) $\text{C}{16}\text{H}{32}\text{O}_2$ $13,93%$
2 40,007 Acid linoleic (C18:2) $\text{C}{18}\text{H}{32}\text{O}_2$ $65,66%$
3 41,041 Acid stearic (C18:0) $\text{C}{18}\text{H}{36}\text{O}_2$ $13,16%$
4 41,323 Acid oleic (C18:1) $\text{C}{18}\text{H}{34}\text{O}_2$ $1,41%$
5 50,740 Acid eicosanoic (C20:0) $\text{C}{20}\text{H}{40}\text{O}_2$ $2,74%$

Tổng hàm lượng acid béo không bão hòa trong dầu hạt đào tiên đạt $69,55%$, trong đó acid linoleic (omega-6) chiếm tỷ trọng vượt trội ($65,66%$).

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Tác giả phân tích, so sánh các kết quả nghiên cứu với quy định của DĐVN V và các công bố trước đó:

  • Về phương pháp định lượng đường: Phương pháp đo quang cho kết quả tương đương phương pháp Bertrand truyền thống (chênh lệch chỉ 0,74% ở mẫu khô và 0,76% ở mẫu tươi). Phương pháp đo quang có ưu điểm thao tác nhanh, độ lặp lại cao, sai số nhỏ ($SD = 0,09%$), tránh được nguy cơ oxy hóa $\text{Cu}_2\text{O}$ thành $\text{CuO}$ trong không khí như phương pháp Bertrand, dù đòi hỏi thiết bị phân tích hiện đại hơn.
  • Về chất lượng dầu béo: Chỉ số acid đạt 3,64 (nằm trong giới hạn cho phép $\le 4$ đối với dầu thô), cho thấy hàm lượng acid béo tự do thấp, dầu có độ tươi tốt. Chỉ số peroxide đạt 9,31 mEq/kg (thấp hơn giới hạn tối đa 15 mEq/kg), chứng minh dầu ít bị ôi thiu trong quá trình bảo quản. Chỉ số iod cao (101,52) phù hợp với tỷ lệ acid béo chưa no lớn ($69,55%$). Chỉ số xà phòng hóa đạt 171,70 mg KOH/g nằm trong khoảng đặc trưng của các dầu béo có chuỗi acyl mạch dài từ $\text{C}{16}$ đến $\text{C}{18}$.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định tỷ lệ thu hồi nguyên liệu: 1 kg thịt quả tươi thu được 0,14 kg thịt quả khô và 22,73 g hạt khô.
  • Xác định độ ẩm thịt quả tươi ($84,03%$), thịt quả khô ($10,42%$), hạt khô ($5,14%$) và bột hạt ($8,05%$).
  • Xác định hàm lượng đường trong thịt quả khô đạt $38,95%$ (Bertrand) và $39,69%$ (đo quang); trong thịt quả tươi đạt $7,16%$ (Bertrand) và $7,92%$ (đo quang).
  • Chiết xuất được $17,56%$ dầu béo từ hạt đào tiên khô; xác định được 4 chỉ số lý hóa cơ bản: chỉ số acid ($3,64$), chỉ số peroxide ($9,31\text{ mEq/kg}$), chỉ số iod ($101,52\text{ g }\text{I}_2/100\text{ g}$), chỉ số xà phòng hóa ($171,70\text{ mg KOH/g}$).
  • Nhận diện 5 thành phần acid béo chính trong dầu hạt, khẳng định acid linoleic chiếm ưu thế ($65,66%$).

Đề xuất tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) của tác giả

Dựa trên số liệu thực nghiệm, tác giả đề xuất các chỉ tiêu kỹ thuật phục vụ xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho dược liệu:

  • Thịt quả đào tiên: Độ ẩm mẫu tươi $\le 87%$, độ ẩm mẫu khô $\le 13%$; hàm lượng đường trong mẫu tươi không thấp hơn $7%$ (đo quang) hoặc $6%$ (Bertrand); hàm lượng đường trong mẫu khô không thấp hơn $36%$ (đo quang) hoặc $35%$ (Bertrand).
  • Dầu hạt đào tiên: Hàm lượng dầu béo trong hạt khô không thấp hơn $16%$; chỉ số acid $\le 4$; chỉ số peroxide $\le 10\text{ mEq/kg}$; chỉ số iod $\ge 90\text{ g }\text{I}_2/100\text{ g}$; chỉ số xà phòng hóa $\le 190\text{ mg KOH/g}$.

Đóng góp mới của khóa luận

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về đặc tính hóa lý, hàm lượng đường và thành phần acid béo của cây đào tiên (Crescentia cujete L.) sinh trưởng tại vùng đồng bằng Bắc Bộ (tỉnh Thái Bình).
  • Chứng minh tính khả thi và độ tin cậy của phương pháp đo quang phổ UV-Vis ở bước sóng 328 nm trong định lượng đường dược liệu thay thế phương pháp Bertrand.
  • Thiết lập các thông số khoa học nền tảng nhằm bổ sung chuyên luận dược liệu mới vào Dược điển Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Mẫu dược liệu chỉ được thu thập tại một địa điểm duy nhất (Thái Bình) vào một thời điểm trong năm (tháng 3/2023), chưa phản ánh được sự biến thiên hoạt chất theo mùa và theo các vùng sinh thái khác nhau.
  • Hàm lượng dầu béo chiết xuất bằng hệ thống Soxhlet ($17,56%$) thấp hơn đáng kể so với tài liệu quốc tế của B. A. Smith và F. G. Dollear ($36,98%$).
  • Chưa tiến hành phân lập và định lượng chi tiết từng loại đường đơn/đường đôi (sucrose, fructose, galactose) trong phân đoạn đường tổng.
  • Chưa khảo sát chỉ tiêu định tính và định lượng tạp chất kiềm trong dầu hạt đào tiên.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi lấy mẫu tại các tỉnh phía Nam để đánh giá toàn diện sự dao động thành phần hóa thực vật của đào tiên trên toàn quốc.
  • Phân tích sâu thành phần các loại đường trong thịt quả bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
  • Nghiên cứu hoàn thiện các chỉ tiêu còn lại của dầu hạt đào tiên (bao gồm kiểm tra tạp chất kiềm, độ nhớt, phổ kim loại nặng).
  • Nghiên cứu thử nghiệm bào chế các sản phẩm ứng dụng từ thịt quả (siro, thực phẩm hỗ trợ chuyển hóa) và dầu hạt (dầu ăn giàu omega-6, chế phẩm kháng viêm bôi ngoài).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Dược học, Hóa dược, Kiểm nghiệm thuốc và Độc chất, Thực vật - Dược liệu, và Công nghệ Thực phẩm.
  • Nội dung giá trị:
    • Quy trình chiết xuất và định lượng đường trong dược liệu bằng phương pháp đo quang với dẫn xuất $p$-aminobenzoic acid.
    • Bộ quy trình thực nghiệm xác định các chỉ số lý hóa của chất béo thực vật theo quy chuẩn DĐVN V và TCVN 6122-2010.
    • Quy trình este hóa và thông số chạy máy GC-MS phân tích acid béo sử dụng cột HP-5MS.
    • Bản mô tả đặc điểm vi học và hình ảnh soi bột hạt đào tiên phục vụ công tác kiểm nghiệm định danh dược liệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp đo quang định lượng đường trong thịt quả đào tiên dựa trên nguyên lý nào và đo ở bước sóng bao nhiêu?

Phương pháp đo quang áp dụng nguyên lý tạo màu của đường (với chất chuẩn là glucose) khi phản ứng với hỗn hợp thuốc thử gồm acid $p$-aminobenzoic $1,5%$ và acid phosphoric $1,3%$ trong môi trường acid acetic băng sau khi đun cách thủy 1 giờ. Dung dịch sau phản ứng có phổ hấp thụ cực đại rõ nét tại bước sóng $\lambda = 328\text{ nm}$.

2. Thành phần acid béo nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong dầu hạt đào tiên Thái Bình?

Theo kết quả phân tích sắc ký khí khối phổ GC-MS, acid boleic không phải là thành phần chính mà acid linoleic ($\text{C}{18}\text{H}{32}\text{O}_2$ - một loại acid béo omega-6 không bão hòa) chiếm tỷ lệ cao nhất với $65,66%$ tổng lượng acid béo (thời gian lưu 40,007 phút).

3. Các chỉ số lý hóa cơ bản của dầu hạt đào tiên phản ánh điều gì về chất lượng dầu?

Dầu hạt đào tiên có chỉ số acid đạt $3,64\text{ mg KOH/g}$ (dưới ngưỡng 4) và chỉ số peroxide đạt $9,31\text{ mEq/kg}$ (dưới ngưỡng 15), chứng tỏ dầu thô có lượng acid béo tự do thấp, độ mới cao và ít bị ôi thiu. Chỉ số iod đạt $101,52\text{ g }\text{I}2/100\text{ g}$ cho thấy dầu chứa nhiều liên kết chưa no, trong khi chỉ số xà phòng hóa $171,70\text{ mg KOH/g}$ đặc trưng cho các acid béo chuỗi dài từ $\text{C}{16}$ đến $\text{C}_{18}$.

4. Kết quả định lượng đường bằng phương pháp đo quang và phương pháp Bertrand có sự chênh lệch như thế nào?

Hai phương pháp cho kết quả rất đồng nhất: hàm lượng đường trong mẫu thịt quả khô xác định bằng phương pháp đo quang là $39,69 \pm 0,09%$ và bằng Bertrand là $38,95 \pm 2,75%$ (chênh lệch $0,74%$); trong mẫu thịt quả tươi xác định bằng đo quang là $7,92 \pm 0,02%$ và bằng Bertrand là $7,16 \pm 0,17%$ (chênh lệch $0,76%$).

5. Tiêu bản soi bột hạt đào tiên dưới kính hiển vi quang học quan sát được những cấu tử vi học nào?

Dưới độ phóng đại 40x với môi trường soi glycerin, bột hạt đào tiên thể hiện rõ các thành phần vi học bao gồm: mảnh mô mềm, lớp tế bào biểu bì thành dày màu nâu đậm, tế bào biểu bì thành mỏng không màu hình đa giác, các giọt dầu béo hình cầu trong suốt, hạt tinh bột hình trứng hoặc hình thận có rốn phân nhánh, và các mảnh lớp nội nhũ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Thị Thùy Trang đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác định chính xác hàm lượng đường trong thịt quả đào tiên (Crescentia cujete L.) bằng cả phương pháp đo quang UV-Vis ($39,69%$ ở mẫu khô) và phương pháp Bertrand ($38,95%$). Công trình đã khảo sát toàn diện đặc điểm cảm quan, vi học soi bột, quy trình chiết xuất Soxhlet thu hồi dầu béo ($17,56%$), các chỉ số hóa lý tiêu chuẩn và cấu trúc 5 acid béo chính bằng GC-MS với ưu thế vượt trội của acid linoleic ($65,66%$). Các kết quả thực nghiệm đạt độ tin cậy cao, tạo lập cơ sở dữ liệu khoa học thiết thực phục vụ việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và bổ sung chuyên luận dược liệu đào tiên vào Dược điển Việt Nam trong tương lai.