CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU VỀ HỌ TẦM GỬI Ho ̣ tầ m gửi, tằ m gửi, chùm gởi hay chùm gửi (Loranthaceae) là mô ̣t ho ̣ thực vâ ̣t có hoa, đươ ̣c các nhà khoa ho ̣c công nhâ ̣n rô ̣ng khắ p. Trên thế giới hiê ̣n có khoảng 60-68 giố ng và 700-950 loài tâ ̣p trung chủ yế u ở vùng nhiê ̣t đới và vùng câ ̣n nhiê ̣t đới [17] , [1]. Hầ u hế t các loài tầ m gửi đề u số ng bán ký sinh trên những cây khác ngoa ̣i trừ 3 loài số ng trên mă ̣t đấ t là Nuytsia Floribunda – cây giáng sinh của Australia, Atkinsonia ligustrina – mô ̣t loài cây bu ̣i rấ t hiế m của day ̃ núi Blue ta ̣i Australia và mô ̣t loài ở Nam Mỹ là Gaiadendron punctatum.
Các loài số ng ký sinh trên cây khác tuy có lá xanh có thể quang hơ ̣p đươ ̣c nhưng cây không vâ ̣n du ̣ng khả năng này mà la ̣i số ng nhờ ký sinh trên cây khác bằ ng những rễ mút tho ̣c sâu hút nhựa cây chủ [7]. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY TẦM GỬI 1. Tên gọi Tên khoa học: Taxillus chinensis (DC.) Danser Tên thông thường: Tầm gửi, Mộc vệ trung quốc, Chùm gửi. Theo phân loại thực vật: - Giới: Thực vật (Plantae) - Bộ: Đàn hương (Santalale) - Họ: Tầm gửi (Loranthaceae) - Chi: Taxillus 1.
Mô tả thực vật Loài cây này là loài thực vật có hoa, bán ký sinh trên các loài khác, chúng có lá xanh để tự quang hợp và bộ rễ sống bám chặt vào vỏ thân cây chủ để cố định sinh trưởng. Cây tầm gửi là cây gỗ, có bụi hoặc cây bụi nhỏ, một vài trường hợp dây leo. Cành: thân gỗ, cành có đố t, không có lông hoă ̣c lông tơ, nhánh cây non có lông vàng sau đó không lông. 4 Luan van Lá: lá dày, mo ̣c đố i xứng nhau hoă ̣c so le, cuố ng lá thường không rõ ràng, phiế n lá đơn, hiǹ h bầ u du ̣c, gân lá thường có hin ̀ h lông chim, lúc non có lông ở gân [5].
Hoa: Hoa lưỡng tính, ít khi đơn tiń h, khoảng 4 – 6 cánh hoa, đố i xứng hai bên hoă ̣c đố i xứng tỏa tia, nhi ̣ hoa nhiề u bằ ng cánh hoa, mo ̣c đố i nhau, vòi nhuỵ ngắn hoặc không có. Quả: Cây tầ m gửi có thể là cây cái (ta ̣o quả mo ̣ng) hoă ̣c cây đực (chỉ ta ̣o ra phấ n hoa). Quả mo ̣ng của cây cái thì nhỏ, vỏ thường có chất dính giúp cho việc phát tán trên thân cây chủ và có màu hơi vàng. Rễ: Không rễ hoặc có rễ (đúng hơn là giác mút), nửa ký sinh ở các phần trên mặt đất của cây chủ, ít khi ký sinh trên rễ của cây chủ.
Ha ̣t: Hầu hết hạt của các loại tầm gửi đều được phủ bởi 1 lớp chất lỏng sền sệt trên bề mặt, điều này cho phép chúng bám được trên cây chủ, ha ̣t có vỏ ngoài khó nhìn thấ y, nô ̣i nhũ nhiề u, phôi to [13], [17]. Hiǹ h ảnh lá, hóa và quả của cây tầ m gửi đươ ̣c thể hiê ̣n ở Hình 1. Lá, hoa, quả của cây Tầ m gửi (Nguồ n: Internet) 1. Phân bố và cách trồng Phân bố Tầ m gửi phân bố chủ yế u ở vùng nhiê ̣t đới và câ ̣n nhiê ̣t đới.
Ở châu Á, tầ m gửi phân bố chủ yế u ở Bắ c Philippin, Malaysia, Trung Quố c và Viê ̣t Nam [15]. Cách trồ ng Với việc trồng cây tầm gửi nên được thực hiện vào các tháng mùa xuân (tháng 3-5) là thích hợp nhất cho tầm gửi phát triển.Sau khi trồ ng thì việc chăm sóc cây 5 Luan van tầm gửi thường có liên quan chặt chẽ với việc chăm sóc cây chủ. Chính vì thế tùy vào từng loại cây chủ bạn trồng tầm gửi mà có chế độ chăm sóc phù hợp sẽ giúp tầm gửi bên trên phát triển một cách tốt nhất. CÔNG DỤNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG CÂY TẦM GỬI Hầu hết các bộ phận của tầm gửi đều có công dụng chữa bệnh.
Trong y học cổ truyền người ta sử dụng các thành phần của lá tầm gửi để chữa một số bệnh. Cây tầ m gửi ký sinh trên các cây chủ khác nhau thì có khả năng chữa các bê ̣nh khác nhau. - Tầm gửi trên cây dâu tằm: tên thuốc là tang ký sinh có vị đắng, có tác dụng trừ phong thấp, mạnh gân cốt, dùng khi chức năng can thận kém dẫn đến đau lưng mỏi gối. Dùng riêng bằng cách rửa sạch, phơi khô, chặt thành đoạn, sao vàng, sắc uống; hoặc phối hợp với các vị thuốc bổ can thận khác như tục đoạn, cẩu tích, đau xương, tang chi.
- Tầm gửi cây chanh dùng trị các chứng ho khan, ho gió, ho có đờm đặc. Khi dùng thường cũng sao chế như tang ký sinh, có thể phối hợp với các vị trị ho khác như trần bì, tang bạch bì, xạ can, mạch môn. dưới dạng thuốc sắc, siro hay viên ngậm. - Tầm gửi cây na, cây tầm gửi trên cây mít còn dùng trị bệnh sốt rét hoặc chứng “hàn nhiệt vãng lai”, tức bệnh có lúc sốt, lúc rét.
Có thể phối hợp với thanh hao, sài hồ, hoàng cầm, thảo quả, binh lang. - Tầm gửi cây dẻ trị thấp khớp, viêm họng, các bệnh dị ứng, bệnh ngoài da. - Tầm gửi trên cây xoan chữa bệnh đường ruột, kiết lỵ, táo bón. - Tầm gửi trên cây cúc tần cho hạt là vị thuốc thỏ ty tử tác dụng bổ thận tráng dương, chữa di tinh, liệt dương, tiểu dầm.: hạt tơ hồng (thỏ ty tử) 8g, thục địa 16g, lục giác giao, đỗ trọng, mỗi vị 12g, kỷ tử, nhục quế, mỗi vị 10g, sơn thù du, phụ tử chế, đương quy, mỗi vị 8g.
Ngày một thang, dạng thuốc sắc. - Tầm gửi trên cây gạo có tác dụng tốt để điều trị viêm cầu thận, phù thận, sỏi thận, chức năng gan yếu, gan nóng; đặc biệt làm tăng khả năng thải độc của gan. Lưu ý: tránh dùng những loài tầm gửi trên các cây chủ có độc tính như lim, trúc đào, thông thiên. NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HỌ TẦM GỬI 1.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới Năm 2006, nhóm tác giả người Indonesia gồm Nina Artani, Yelli Ma’arifa và Muhammad Hanafi đã tách được hợp chất chống oxy hóa là quercitrin (C21H20O11) và querceti (C15H10O7) từ cao ethanol của cây Tầ m gửi Năm nhi ̣ Dendrophthoe pentandra (L.) Miq ký sinh trên cây Khế (Averrhoa carambola) [19]. Cấ u trúc của quercitrin và querceti đươ ̣c thể hiê ̣n ở Hình 1. Cấ u trúc quercitrin và querceti Hin Tháng 3 năm 2011, nhóm tác giả người Indonesia gồm Wahyu Widowati, Tjandrawati Mozet, Chandra Risdian, Hana Ratnawati, Susy Tjahani, và Ferry Sandra đã so sánh tính chống oxy hóa và đặc tính ức chế sinh trưởng dòng tế bào ung thư T47D của cao ethanol từ Trầu không Piper betle L., Dừa cạn Catharanthus roseus (L. Don, Tầ m gửi Năm nhi ̣ Dendrophthoe pentandra L., và Nghệ Curcuma mangga Val.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng lá P. roseus, lá và cành nhỏ của D. pentandra ký sinh trên cây xoài, thân rễ (củ) của C. mangga làm vật liệu.
Kết quả cho thấy P. betle là nguồn dược liệu thiên nhiên đầy hứa hẹn về khả năng chống oxy hóa và ức chế tăng trưởng tế bào ung thư, cao ethanol của C. roseus có thể ức chế tăng trưởng tế bào ung thư nhưng không có hoạt tính chống oxy hóa, cao 6 ethanol của C. mangga không chứa cả hai hoạt tính trên.
Xét riêng cao ethanol của Tầ m gửi Năm nhi ̣ D. pentandra, thấy rằng D. pentandra có hoạt tính kháng tế bào ung thư rất thấp, thậm chí không có. Kết quả này kiểm chứng nghiên cứu trước đây với nước sắc thô của D.
pentandra trên đối tượng chuột đã được xử lý với dimetilaminobenzena (DAB) – chất gây ung thư, kết quả cho thấy 7 Luan van không tác dụng (Windarti, 1990), chất querceti ly trích từ D. pentandra cũng không có hoạt tính kháng ung thư theo phương pháp BST (Brine Shrimp Letahlity Test) (Dewiyanus, 1996), nhưng cao dichlorometan của D. pentandra thử nghiệm trên ấu trùng tôm A. salina trong 24 giờ lại cho kết quả là có hoạt tính kháng tế bào ung thư (Wahjudi, 1996).
Bằng các phương pháp khác nhau, nhóm nghiên cứu cho thấy D. pentandra có hoạt tính chống oxy hóa rất cao, tương đương với acid ascorbic và querceti [22]. Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, thời gian qua có một số công trình nghiên cứu về Tầm gửi năm nhị đã được công bố. Năm 2009, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hạt đã tách được 2 hợp chất là β-sitosterol, β-sitosteryl arachidate từ lá Tầ m gửi Năm nhi ̣ ký sinh trên cây Mít (Artocarpus heterophyllus Lamk.
Đây là lần đầu tiên hợp chất β-sitosteryl arachidate được cô lập trong chi Dendrophthoe [3]. Dung dịch của β-sitosteryl arachidate ở nồng độ 10-3 M đến 10- 4 M được biết có tác dụng bảo vệ tế bào MT-4 khỏi sự tấn công của virut HIV [14]. Cấ u trúc của β-sitosterol, β-sitosteryl arachidate đươ ̣c thể hiê ̣n ở Hình 1. Cấ u trúc hơ ̣p chấ t β-sitosterol, β-sitosteryl arachidate Hin Năm 2010, Phạm Văn Ngọt và cộng sự nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của loài này; bước đầu cho thấy cao ethyl acetate được điều chế từ Dendrophthoe pentandra ký sinh trên cây Xoài (Mangifera indica) có hoạt tính kháng khuẩn đối với Staphylococcus aureus ATCC 29213, Staphylococcus aureus kháng methycilin (MRSA) ATCC 43300 và Bacillus subtilis PY 79 ở nồng độ 1024 µg/ml [8].
Năm 2011, Phạm Văn Ngọt và cộng sự cho biết: 8 Luan van - Nước sắc của loài Tầ m gửi Năm nhi ̣ ký sinh trên cây Mít, Xoài, Dâu Tằm không có khả năng kháng Escherichia coli, Klensiella pneumoniae. - Nước sắc loài Tầ m gửi Năm nhi ̣ký sinh trên cây Dâu tằm có hoạt tính kháng Bacillus subillis, Staphylococus aureus ở mức yếu; không có hoạt tính kháng Pseudomomas aeruginosa. - Nước sắc loài Tầ m gửi Năm nhi ̣ ký sinh trên cây Mít, Xoài có hoạt tính kháng khuẩn Bacillus subillis ở mức yếu; kháng Staphylococus aureus và Pseudomomas aeruginosa ở mức trung bình. - Cao khô li trích từ loài Tầ m gửi Năm nhi ̣ kí sinh trên cây Mít, Xoài, Dâu tằm ở nồng độ 1.000µg/ml đều có hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa, dòng tế bào ung thư phổi NIC – H460 và tế bào ung thư vú MCF – 7 [4].
9 Luan van CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM 2. NGUYÊN LIỆU, DỤNG CỤ, HÓA CHẤT 2. Nguyên liêụ Cây tầ m gửi (họ Loranthaceae) đươ ̣c thu hái ta ̣i quâ ̣n Liên Chiể u, thành phố Đà Nẵng.