CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây thương lục: 1. Danh pháp và phân loại: [9], [15], [22], [26] Cây thương lục còn được biết đến với các tên gọi khác thủy la bặc, sơn la bặc, trưởng bất lão, kim thất nương, … tên tiếng Anh pokeweed, pokesallet, pokeberry,. Thương lục Mỹ có tên khoa học là Phytolacca americana (còn có tên khác Phytolacca decandra) nằm trong hệ thống phân loại như sau: Giới: Thực vật (Plantea) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: (Caryophyllidae) Bộ: Cẩm chướng (Caryophyllales) Họ: Thương lục (Phytolaccaceae) Chi: Phytolacca Loài: Thương lục Mỹ (Phytolacca americana) 1.
Hình thái học: [1], [9] Thương lục là loại cây nhỏ sống lâu năm rễ củ mập, hình trụ có ngấn ngang. Thân hình trụ, nhẵn, hơi hóa gỗ ở gốc, phân cành ở gần ngọn. Lá mọc so le, hình bầu dục, mũi mác, dài 10 ÷ 20 cm, rộng 6 ÷ 8 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn, gân chính nổi rõ ở mặt dưới, cuống lá dài. Cụm hoa mộc đối diện với lá thành chùm, dài hơn lá, thường cong xuống, cuống có cạnh, nhẵn; hoa màu trắng pha hồng; lá bắc 3; hoa bao có 5 phiến bằng nhau, nhọn đầu; nhị 8 ÷ 10; bầu có 8 ÷ 10 noãn.
Cây thương lục Mỹ cao 2 ÷ 3 mét, cành thường có màu đỏ tía. Hoa mọc thành chùm màu trắng sau chuyển sang hồng. 3 Quả có tới 10 múi trong đó có hạt. Cây thương lục Mỹ được trồng làm cảnh và làm thuốc.
Trồng bằng hạt hay mầm rễ. Và các bộ phận hoa (c), quả (b), củ hay rễ (d) 1. Sinh thái học và phân bố: Thương lục là cây ưa ẩm và có thể hơi chịu bóng. Cây sinh trưởng và phát triễn tốt trong điều kiện ẩm mát quanh năm; với nhiệt độ không khí trung bình là 15 4 ÷ 18 0C.
Thương lục ra hoa quả nhiều hàng năm. Dưới gốc cây mẹ, thường thấy các cây con mộc từ hạt và sẽ có hoa quả ngay trong năm đầu tiên. Sau đó lan sang các châu lục khác và bây giờ có mặt ở Nam Phi, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Argentina, … (Edwards et al. Thành phần hóa học: Rễ thương lục: Rễ thương lục có chức các saponin với tên gọi là phytolaccoside A, B, C, D, D2, E, F và G [21], [43] Bảng 1.1: Các phytolaccoside trong rễ thương lục Phytolaccoside A 3-O-β-ᴅ-xylopyranosyl-esculentic acid 3-O methyl ester B 3-O-β-ᴅ-glucopyranosyl-jaligonic acid 3-O methyl ester 3-O-[β-ᴅ-glucopyranosyl (1→4)-β-ᴅ-xylopyranosyl] D esculentic acid 3O methyl ester 3-O-[β-ᴅ-glucopyranosyl (1→2)-β-ᴅ-xylopyran'Jsyl] D2 esculentic acid 3O methyl ester 3-O-[β-ᴅ-glucopyranosyl (1→4)-β-ᴅ-xylopyranosyl] E jaligonic acid 3O methyl ester 3-O-[α-ᴌ-rhamnopyranosyl (1→ 2)-β-ᴅ-glucopyranosyl F (1→2) β-ᴅ-xylopyranosyl] esculentic acid-3-O methyl ester G 3-O-β-ᴅ-xylopyranosyl-jaligonic acid Lá thương lục: Lá thương lục chứa các sắc tố màu, flavonoid, acid phenolic Sắc tố màu được biết đến là betanin, betanidin và betaxanthin [18], [45] 5 Flavonoid trong lá kaempferol và quercetin Kaempferol bao gồm các hợp chất: 3-O-β-ᴅ-glucopyranoside, 3-O-β- ᴅ-xylopyranosyl (1→2)-β-ᴅ-glucopyranoside, 3-O-α-ᴌ- rhamnopyranosyl (1→2) β-ᴅ-glucopyranoside, 3-O-diglucoside.
Quercetin có 3-O-glucoside Acid phenolic bao gồm các chất: p-hydroxybenzoic, vanillic, sinapic, p- coumaric, ferrulic và caffeic Quả và hạt thương lục: Đã xác định được có 17 betacyanin và betaxanthin trong dịch chiết quả cây thương lục [18] Acid 3-acetyloleanolic, acid 3-acetylaleuritolic được tìm thấy trong hạt thương lục [43] Một số rượu triterpen cũng đã được tìm thấy trong hạt thương lục như cycloartenol, 24-methylenecycloartenol, parkeol, 24-methylene-24-dihydroparkeol, lanosterol, euphol, butyrospermol, tirucallol, tirucalla-7,24-dienol, dammaradienol, 24-methylenedammarenol, α-amyrin, β-amyrin, lupeol, germanicol, taraxasterol, ψ- taraxasterol, taraxerol và myricadiol.[43] Bên cạnh đó những neolignans có tên americanins A, B, D và isoamericanin A cũng được tìm thấy trong hạt thương lục. Một thành phần đang được quan tâm là protein thương lục, protein thương lục được gọi là PAP (pokeweed antiviral protein) là một loại protein có tính kháng virus được biết đến năm 1925 (Duggar and Amstrong 1925). Chiết suất của thương lục cho thấy hoạt động ức chế truyền virus ở thực vật (Wyatt và Sheperd 1969), sự sao chép virus cúm (Tomlinson et al. 1974) và virus bại liệt (Ussery et al.
1977) trong tế bào động vật. [22] 6 PAP là một loạt các đồng vị các PAP khác nhau, protein PAP đầu tiên được báo cáo là một protein 13 kDa (Wyatt và Schepherd 1969), sau đó các đồng vị khác được tìm thấy PAP II 30 kDa (Irvin et al. 1980), PAP – S (31 kDa) (Barbieri et al. 1982) và PAP – R 30 kDa được phân lập từ rễ (Bolognesiet al.
Tất cả các PAP thuộc lại protein – ribosom bất hoạt gọi tắt là RIP. Công dụng và bộ phận dụng: [1], [8], [30], [33] Thân và lá: Thân và lá luộc chín thì được dùng như một loại rau thực phẩm Quả: Quả được sử dụng làm một loại bánh và ngày xưa người châu Âu dùng quả như một loại màu thực phẩm để nhuộm rượu vang. Quả thương lục cũng được dùng để chữa bệnh thấp khớp, viêm khớp Rễ: Rễ thương lục trong dân gian được sử dụng như một loại thuốc để chữa các bệnh như viêm kết mạc, thấp khớp mãn tính, rối loạn tiêu hóa, ung thư, các bệnh ngoài da như nấm, ghẻ lở. Trong y học cổ truyền dùng để chữa các bệnh phù thũng, trương mãn, cước khí, mụn nhọt, đầu đinh, vàng da.
Liều dùng: 4,5 – 10 g/ ngày, dưới dạng nước sắc hoặc thuốc bột. Dùng ngoài, đắp tại chổ. Dịch chiết rễ thương lục dùng như một loại thuốc trị bệnh ngoài da Saponin trong thương lục được biết đến với tác dụng kháng viêm Ngoài ra thương lục còn kết hợp với một số vị thuốc khác để chữa một số bệnh mỏi mệt toàn thân, đi tiểu ít và bệnh thận. Một số bài thuốc chữa bệnh có thương lục: Chữa phù toàn thân, thở gấp, khát, đại tiểu tiện không thông: 7 Thương lục Trạch tả Xích tiểu đậu (sao) Khương hoạt Đại phúc bì Mộc thông Tần cửu Thổ phục linh Hạt cau Các vị lượng bằng nhau.
Mỗi lần dùng 12 g, thêm gừng tươi 3 nhát, sắc nước uống. Chữa cổ trướng: Thương lục 6g Đông qua bì 30 g Xích tiểu đậu 30 g Tả trạch 2g Phục linh bì 24 g Sắc nước uống Chữa mụn nhọt, đầu đinh: Thương lục 15 g Bồ công anh 60 g Sắc nước rửa. Chữa bụng trướng bí đái: Rễ thương lục tươi 100 g 8 Tỏi ta tươi 500 g Giả nát đắp ở rốn 1. Độc tính của thương lục: Thương lục có độc tính mãnh liệt có thể gây sẩy thai [9] Phần độc nhất của thương lục là rễ của nó.
Ngộ độc thương lục có triệu chứng đầu tiên là triệu chứng trong cổ họng tiếp theo là buồn nôn, tiết nước bọt, toát mồ hôi, đau bụng, tiêu chảy ra máu, nhức đầu, chống mặt, hạ huyết áp và nhịp tim nhanh. Tiểu không kiểm soát, hôn mê, run chân tay; đôi khi thị giác bị rối loạn, suy yếu hô hấp, co giật [33]. Rễ thương lục có chứa một chất độc đắng tên là phytolaccatoxin là một saponin có thể gây kích thích niêm mạc, dung huyết. Liều cao gây dãn đồng tử, co giật răng cắn chặt, có thể gây chết người [8].
Có một số trường hợp ngộ độc thương lục được ghi nhận: - Ngộ độc do ăn, uống những bộ phận trên cây thương lục. Trường hợp ghi nhận là 20 trong số 46 người tham gia trại chiếm 43% đã ăn salad chế biến từ lá thương lục non được nấu chín đã có triệu chứng bị ngộ độc như buồn nôn, đau bụng, nôn mữa, nóng trong dạ dày và tiêu chảy (Anonymous, 1981). Bệnh xuất hiện sau 30 phút đến 5 giờ khi dùng hơn 1 muỗng salad, kéo dài 1 – 48 giờ điều trị - Năm 1900 tiến sĩ Dr.S đã ghi nhận trường hợp ngộ độc của chính mình khi ăn nhầm thương lục. Các triệu chứng của ông sau đó cũng là khô rát cổ họng, rối loạn thị lực, tiết nước bọt, đau bụng dữ dội.
Sau đó ông phải nhập viện để điều trị 1. Tình hình nghiên cứu thương lục: 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Tác dụng kháng vi sinh vật: 9 Nghiên cứu tại đại học Yeungnam, Hàn Quốc đã nghiên cứu khả năng kháng hai vi khuẩn gây bệnh răng miệng. Vi khuẩn được thử nghiệm là hai vi khuẩn gây bệnh nha chu Porphyromonas gingivalis và Streptococcus mutans và một vi khuẩn gây bệnh khác là E.
Bộ phận thử nghiệm là phần trên mặt đất (thân, lá). Thương lục được chiết bằng metanol 80% sau đó các chất có độ phân cực khác nhau được chiết bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần n hexan, chloroform, etanol và n butanol. Các hợp chất hiện diện trong cây (Phytolacca americana) như kaempferol, quercetin, quercetin 3-glucoside, isoqueritrin và acid ferulic được sử dụng thử hoạt tính kháng khuẩn chuẩn. Kết quả thu được dịch chiết thô có tính kháng khuẩn rất mạnh 100% với Porphyromonas gingivalis và 44% với Streptococcus mutans ở nồng độ 1,8 mg/ml.
Dịch chiết các phân đoạn thì có n hexan và chloroform kháng Porphyromonas gingivalis mạnh với lần lượt là 92% và 91% ở nồng độ 0,2 mg/ml. Với các hợp chất tự nhiên thì Kaempferol ức chế mạnh cả hai vi khuẩn gây bệnh còn quercetin chỉ ức chế Streptococcus mutans mà còn tùy thuộc nhiệt độ. Với vi khuẩn gây bệnh khác là E.coli thì dịch chiết ít có tác dụng. Từ điều này cho thấy dịch chiết cây thương lục có thể ứng dụng để làm thuốc chống các bệnh về răng miệng [25] Chiết xuất metanol của phần trên mặt đất của thương lục (Phytolacca americana) có thể chống lại một số bệnh ở thực vật.
Trong thí nghiệm này khả năng chống lại một số bệnh như bệnh đạo ôn (rice blast) (do Magnaporthe oryzae gây ra), lúa khô vằn (rice sheath blight) (do Rhizoctonia solani), mốc xám cà chua (tomato gray mold) (do Botrytis cinerea), cà chua mốc sương (tomato late blight) (do Phytophthora infestans), lúa mì rỉ (wheat leaf rust) (do Puccinia recondita), barley powdery mildew (Blumeria graminis f. hordei), và pepper anthracnose (do Colletotrichum coccodes). Kết quả cho thấy chiết xuất metanol của thương lục có hiệu quả lên 3 bệnh đó là bệnh đạo ôn, mốc xám cà chua và ca chua mốc sương. Với nồng độ 3000 ppm thì dịch chiết metanol thương lục có thể ức chế các bệnh đạo ôn, cà chua mốc xám và cà chua mốc sương lần lượt là 62,5%; 85,0% và 82,1% [21] 10 Tác dụng kháng ung thư: Năm 2014 Ghosh et al., đã nghiên cứu khả năng tiêu diệt tế bào ung thư A375 của acid oleanolic phân lập từ cây thương lục (Phytolacca decandra).
Trong báo cáo này các tác giả đã đánh giá khả năng tương tác với DNA của acid oleanolic, ảnh hưởng của acid oleanolic lên quá trình chết rụng của tế bào (apoptosis), chu kỳ tế bào, hoạt động của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR), .