Khảo sát hoạt tính ức chế tyrosinase của hạt me tamarindus indica

Đồ án nghiên cứu hcmute khảo sát hoạt tính ức chế tyrosinase của hạt me tamarindus indica l, áp dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu giải pháp kỹ thuật cho bài toán .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2019

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát về Tamarindus Indica L.

1.2. Đặc điểm thực vật học

1.3. Phân bố và sinh thái

1.4. Những công dụng của cây T.

1.5. Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian

1.6. Hoạt tính sinh học của cây T.

1.7. Nghiên cứu về thành phần hóa học của cây T.

1.8. Thành phần dinh dưỡng của cây T.

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ

2.2. Thiết bị và dụng cụ

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Xử lý mẫu, điều chế cao methanol thô và cao phân đoạn

2.5. Phương pháp phân tích và phân lập các hợp chất

2.6. Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc

2.7. Khảo sát khả năng ức chế tyrosinase

2.8. Khảo sát khả năng tạo phức chelate với Cu2+

2.9. Điều chế các loại cao

2.10. Phân tích thành phần của cao chiết ethyl acetate

2.11. Phân tách thành phần phân đoạn TI-C của cao trích ethyl acetate

2.12. Phân tách thành phần phân đoạn TI-C3 từ phân đoạn TI-C

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Kết quả khảo sát khả năng ức chế tyrosinase của các mẫu cao

3.2. Khảo sát khả năng khử Cu2+

3.3. Khảo sát thể tích CuCl2, BCDS, catechine

3.4. Kết quả khảo sát khả năng khử Cu2+ trên các mẫu cao

3.5. Khảo sát cấu trúc hợp chất TI-C01

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hạt me Tamarindus indica

Hạt me (Tamarindus indica) là một nguồn nguyên liệu phong phú, chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Hạt me không chỉ là phụ phẩm trong ngành công nghiệp thực phẩm mà còn là nguồn cung cấp protein và các hợp chất phenolic. Việc nghiên cứu hoạt tính ức chế tyrosinase từ hạt me có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm tự nhiên có lợi cho sức khỏe. Tyrosinase là một enzym quan trọng trong quá trình tổng hợp melanin, và việc ức chế enzym này có thể giúp điều trị các vấn đề về da như nám và tàn nhang. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng hạt me mà còn góp phần bảo vệ môi trường bằng cách tận dụng nguồn phụ phẩm này.

1.1 Đặc điểm thực vật học của hạt me

Cây me thuộc họ đậu (Fabaceae), có chiều cao từ 15 đến 30 mét. Hạt me có màu nâu đỏ, cứng và bóng, chứa nhiều protein và các khoáng chất thiết yếu. Hạt me được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực và y học cổ truyền. Theo nghiên cứu, hạt me chứa hàm lượng flavonoid cao, có khả năng kháng oxy hóa mạnh. Điều này cho thấy tiềm năng của hạt me trong việc phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và làm đẹp.

1.2 Công dụng và ứng dụng của hạt me

Hạt me được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, từ thực phẩm đến y học. Trong y học cổ truyền, hạt me có tác dụng lợi tiểu, điều trị các bệnh liên quan đến tiêu hóa và tim mạch. Nghiên cứu cho thấy hạt me có khả năng ức chế tyrosinase, mở ra cơ hội phát triển các sản phẩm làm đẹp tự nhiên. Việc sử dụng hạt me không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các phụ phẩm nông nghiệp.

II. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính ức chế tyrosinase

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp chiết xuất và phân tích để khảo sát hoạt tính ức chế tyrosinase từ hạt me. Các mẫu cao được điều chế từ hạt me bằng phương pháp sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng. Kết quả cho thấy một số mẫu cao có khả năng ức chế tyrosinase mạnh mẽ với giá trị IC50 < 5. Điều này chứng tỏ rằng hạt me có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm tự nhiên có khả năng làm sáng da và điều trị các vấn đề về sắc tố.

2.1 Quy trình chiết xuất và phân tích

Quy trình chiết xuất bao gồm việc thu thập mẫu hạt me, trích ly các hợp chất bằng dung môi methanol, và điều chế các loại cao có độ phân cực khác nhau. Các mẫu cao được phân tích để xác định hoạt tính ức chế tyrosinase. Phương pháp phân tích sử dụng các kỹ thuật hiện đại như sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng để phân lập và định danh các hợp chất có hoạt tính sinh học.

2.2 Kết quả khảo sát hoạt tính ức chế tyrosinase

Kết quả khảo sát cho thấy các mẫu cao từ hạt me có khả năng ức chế tyrosinase rất mạnh. Các mẫu cao methanol thô và các phân đoạn từ TI-E đến TI-G đều thể hiện hoạt tính ức chế cao. Điều này cho thấy rằng hạt me không chỉ là nguồn thực phẩm mà còn là nguồn nguyên liệu quý giá cho ngành công nghiệp mỹ phẩm và dược phẩm.

III. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu về hoạt tính ức chế tyrosinase từ hạt me (Tamarindus indica) đã chỉ ra rằng hạt me có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm tự nhiên có lợi cho sức khỏe. Việc tận dụng hạt me không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các hợp chất có trong hạt me để khai thác tối đa giá trị của chúng trong y học và mỹ phẩm.

3.1 Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc hóa học của các hợp chất trong hạt me và khả năng ứng dụng của chúng trong các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Việc phát triển các sản phẩm từ hạt me có thể mở ra hướng đi mới cho ngành công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm tự nhiên.

3.2 Ứng dụng trong y học

Hạt me có thể được sử dụng như một thành phần trong các sản phẩm điều trị các vấn đề về sắc tố da. Việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm từ hạt me không chỉ mang lại lợi ích cho sức khỏe mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát về Tamarindus Indica L. Đặc điểm thực vật học Theo phân loại theo khoa học của cây Tamarindus indica L. [1], được trình bày trong bảng 1.

1: Phân loại khoa hoc của Tamarindus indica L. Bộ Fabales Họ Fabaceae Phân họ Caesalpinioideae Tông Detarieae Chi Tamarindus Loài Tamarindus indica Cây me, Tamarindus indica L. indica), là một loại cây ăn trái nhiệt đới thuộc họ đậu (Fabaceae), được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày. Loài duy nhất của chi Tamarindus thuộc họ đậu (Fabaceae) là Tamarindus Indica L.

hay cây me. Cây me là cây thân gỗ thường xanh, thân cây cao to từ 15 đến 30 m. Gỗ của thân cây me gồm lớp gỗ lõi cứng, màu đỏ sẫm và lớp dác gỗ mềm màu vàng [2]. Cây có rất nhiều lá, lá dạng kép lông chim, dài từ 8 đến 10 cm, dài khoảng 2 cm rộng 0.

Hoa trắng nhạt hoặc có vệt đỏ, màu của hoa giống nhau trên toàn bộ cây không trộn lẫn [3]. Hoa mọc thành từng chùm ở kẽ lá hoặc thành chùy tận cùng. Hoa đa phần là lưỡng tính, thông thường có mười nhụy hoa và có một nhụy dài vượt trội và cong. Quả dài mọc thõng xuống, hơi dẹt và thòng, dài từ 7 đến 12 cm, rộng 2.

Vỏ quả mỏng, cứng, giòn, màu hung đỏ, vỏ quả giữa có sơ, mẫm vị chua, sau khi loại hết sơ thì phần vỏ quả có màu nâu nhạt. Quả chứa từ 3 đến 5 hạt màu nâu đỏ, cứng, nhẵn, bóng [2]. Rễ cây bao 1 do an gồm phần rễ cộc mọc đâm sâu xuống đất và hệ thống rễ phụ dày đặc xung quanh [4]. Mùa quả là khoảng từ tháng 10 đến 11 trong năm [2].

1:Cây me và một số bộ phận của cây 1. Phân bố và sinh thái Họ đậu (Fabaceae) là họ lớn thứ ba trong các họ thực vật có hoa, chỉ sau họ phong lan và cúc, tổng cộng có 751 chi đã được tìm ra, số lượng loài đã đạt tới con số 19,327 [5-7], chiếm khoảng 7% các loại thực vật có hoa [6, 8]. Họ đậu bao gồm cây thân thảo hay cây bụi hằng năm hoặc lâu năm, được nhận dạng thông qua hình dạng của quả, hợp 2 do an chất có trong cây và hình dạng và cách bố trí của lá. Họ đậu chiếm số lượng lớn cây ăn quả và cây nông nghiệp như cây đậu phộng, đậu nành, cây kim tước.

Họ đậu là họ phổ biến nhất được tìm thấy ở các khu rừng khô thuộc châu Mỹ và châu Phi [9]. Cây me là cây bản địa của vùng nhiệt đới châu Phi, được trồng để lấy bóng mát [4]. Cây me phát triển tốt ở các vùng cao hơn 1,500 m trên mực nước biển và có lượng mưa hàng năm hơn 1,500 mm. Cây me có thể phát triển ở nhiều loại đất khác nhau, thích hợp nhất ở các loại đất mùn thoát nước, có độ pH= 5-6, nhưng cũng có thể phát từ đất phù sa đến đất đá vôi.

Cây me được phân bố rộng rãi trên toàn thế giới với hơn 50 quốc gia. Diện tích trồng phần lớn tập trung ở hầu hết tại các nước châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, …[10, 11]. Ở châu Mỹ, Mexico và Costa Rica là nơi có sản lượng lớn nhất. Cây me được phân bố rộng, được trồng hoặc mọc hoang khắp Việt Nam từ tỉnh Hà Bắc, Vĩnh Phú tới các tỉnh Tây Nguyên, miền trung và các hải đảo, trồng nhiều hơn ở các tỉnh miền nam.

Đó là loại gỗ ưa sáng, có biên độ sinh thái rộng và có thể sống trên nhiều loại đất. Cây me được trồng để làm bóng mát, vừa lấy lá, quả và làm thuốc. Những công dụng của cây T. Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian Ở Ấn Độ, cây me được sử dụng để điều trị một số bệnh liên quan đến dạ dày, tiêu hóa và tim mạch [12].

Ở miền bắc Nigeria, vỏ thân cây me tươi và lá tươi được sử dụng như thuốc sắc pha trộn với bồ tạt cho điều trị các chứng bệnh về dạ dày, đau cơ thể, sốt vàng da và loại thuốc bổ máu và những chất rửa da [13]. Theo y học phương tây, hạt me là một phương thức lợi tiểu, điều trị chứng rồi loạn mật, vàng da, giúp hệ thần kinh hoạt động tốt do thành phần thiamin chiếm 29%. Thiamin là một loại vitamin có vai trò quan trọng trong các hoạt động của dây thần kinh và cơ bắp. Me là một nguồn cung cấp vi chất cho cơ thể như Ca2+, Mg2+ [2, 14].

Quả me chứa nhiều vitamin C nên giúp tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể, hạn chế các bệnh do nhiễm trùng. Quả me là nguồn cung cấp chất sơ cao nhất trong các loại trái cây với thành phần chất xơ khoảng 20%. Với lượng kali cao gấp hai lần lượng kali có trong chuối do đó hạt me có tác dụng kiểm soát huyết áp rất tốt [14]. Quả me được biết đến như một vị thuốc chữa bệnh thiếu máu do hàm lượng sắt chiếm 2.

Vì vậy, đây cũng là loại trái cây tốt cho những người thiếu máu, đặc biệt là phụ nữ có thai. Bên cạnh đó, 3 do an quả me còn kiểm soát mức độ cholesterol, cung cấp năng lượng mà không gây béo, hỗ trợ cơ chế đông máu. Gỗ cây me được dùng dưới dạng thuốc sắc để thông tiểu. Việt Nam, theo các nhà dinh dưỡng học, trong quả me có nhiều vitamin B, C… Nên có tác dụng nhuận tràng, giúp kích thích vị giác, cải thiện tình trạng kém ăn, mệt mỏi do nắng nóng hay buồn nôn, chán ăn khi mang thai.

Trái me có khả năng bù nước, điện giải, cung cấp vitamin, khoáng chất, giải nhiệt… Trong đông y, quả me có vị chua tính mát, thanh nhiệt, giải khát, tăng cường tiêu hóa. Chữa các bệnh: phụ nữ mang thai nôn nghén, chữa ho, làm ấm bụng, trị chứng chảy máu chân răng, chữa sốt do nắng nóng… Một số bài thuốc dân gian về quả me [2]: Quả me xanh đem cạo vỏ ngoài, rửa sạch, để ráo nước, giã nát với gừng tươi cho thật nhuyễn, loại bỏ xơ. Thêm đường vừa đủ. Đun nhỏ lửa và đảo đều, sau đó trộn với bột cam thảo vừa đủ khô, rồi đóng khuôn làm thành dạng ô mai, mỗi ngày ngậm 3 – 6 lần dùng để chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa (theo Y học cổ truyền Việt Nam).

Thịt quả me pha với nước ấm, uống vào mỗi buổi sáng sau bửa ăn dùng để trị chảy máu chân răng. Me xanh đem đun với nước, giã nhuyễn lấy phần thịt loại hạt, trộn chung với muối thoa đểu lên chỗ xương khớp đau nhứt để giảm đau. Hoạt tính sinh học của cây T. indica Một số nghiên cứu về hoạt tính sinh học của cây T.

indica trên thế giới: Năm 2017, Sukant Garg và cộng sự đã nghiên cứu và cô lập được các hợp chất polysaccaride từ hạt me (TSP) bằng dung môi ethanol và nước. nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chiết xuất TSP không gây độc hại cho tế bào khi tiếp xúc trong thời gian dài [15]. Siddhuraju và cộng sự (2007) đã nghiêu cứu và công bố các hợp chất polyphenol được trích từ vỏ hạt me trong nhiều phân đoạn cao khác nhau và các phương pháp điều chế cao. Từ đó tiến hành xác định tổng hàm lượng polyphenol và tannin có trong hạt me đồng thời thử khả năng kháng oxi hóa bằng phương pháp DPPH và khử sắt.

Các số liệu có được từ thực nghiệm đã phản ánh kháng oxi hóa của nhiều phương pháp điều chế cao khác nhau [16]. Sudjaroen và các cộng sự công bố bài nghiên cứu về việc nghiên cứu cấu trúc của chất kháng oxi hóa – polyphenol được trích từ vỏ hạt me, đưa ra các số 4 do an liệu về sự đa dạng và hàm lượng của polyphenol có trong vỏ hạt me. Phần trăm các hợp chất polyphenol điển hình trong vỏ me như sau: tổng proanthcyanidin (chiếm 73.4) tồn tại các dạng (+)-catechin (2. Trong thực nghiệm khảo sát hypoxanthine / xanthine oxyase đã đưa ra giá trị IC50 trong việc ức chế xanthine oxyase lần lượt là 38.

Trong xét nghiệm 2-deoxyquanosine, giá trị IC50 lần lượt là 185 và 90,0 μG/mL đối với hạt và vỏ quả [16]. Zhongshan, Lihong và cộng sự đã tạo dẫn chất sulfate hóa và acetyl hóa của polysaccharide làm tăng khả năng chống oxy hóa [17]. Từ kết quả sàng lọc hoạt tính chống oxy hóa và tyrosinase của 60 loại phụ phẩm Việt Nam (2014-2016) của nhóm tác giả P. Đào và cộng sự đã phát hiện ra cao chiết ethanol từ hạt me có hoạt tính cao tương ứng giá trị IC50 đối với phép thử ức chế gốc tự do DPPH là 6.91 µg/mL, phép thử ức chế H2O2 là 113.8 µg/mL, tổng hàm lượng flavonoid là 848.

Takanori Tsuda và cộng sự đã định danh được các hợp chất 2-hydroxy-3’,4’- dihydroxyacetophenone; methyl 3,4-dihydroxybenzoate; 3,4-dihydroxyphenylacetate và epicatechin. Đây là những chất có hoạt tính chống oxi hóa mạnh. Bên cạnh đó, chất chống oxi hóa ưa lipid (linoleic acid) cũng được phân lập và định danh từ hạt me, thử nghiệm hoạt tính theo mô hình thử với acid thiobarbituric [18]. Nghiên cứu về thành phần hóa học của cây T.

Thành phần dinh dưỡng của cây T. indica Phần có giá trị và được sử dụng phổ biến nhất của cây me là quả. Phần thịt quả chiếm khoảng 30-50% trên toàn bộ quả [19, 20], phần vỏ và chất xơ khoảng 11-30%, phần hạt khoảng 25-40% [20, 21], thành phần dinh dưỡng được thể hiện qua bảng 1. 5 do an Bảng 1.

2: Thành phần dinh dưỡng của thịt quả me, lá non, hoa me Thành phần Thịt quả me (%) Lá non (%) Hoa me (%) Nước 20.7 Trong thịt quả me, lá non, hoa me còn chứa các loại muối khoáng vi lượng. Trong thịt quả me, hàm lượng calci (34-94 mg/100g), phospho (34-78 mg/100g), sắt (0. Trong hạt me bao gồm vỏ hạt 20- 30% và nhân hạt 70- 75% trên tổng khối lượng hạt [20, 22]. Hạt me rất giàu protein, phần vỏ hạt chứa rất nhiều chất sơ va tannin.

Theo báo cáo của Panigrahi và các cộng sự (1989), đã nói rằng trong hạt me có chứa 131,3 g/kg protein thô, 67.1 g/kg chất sơ thô, 48.2 g/kg chất béo thô, 56.2 g/kg tannin, với rất nhiều carbohydrate đạng đường. Phần vỏ hạt chứa 14- 18% albuminoid tannin [24]. Thành phần dinh dưỡng trong hạt me được thể hiện trong bảng bảng 1. 3: Thành phần dinh dưỡng của hạt me, (%) Thành phần Hạt me Nhân hạt Vỏ hạt Nước 9.2 - 6 do an Tro 2.4 Hạt me còn được xem như là lương thực hoặc thực phẩm vì bên trong hạt chứa một lượng lớn protein [26].

Protein thô và các thành phần dinh dưỡng không chứa nitrogen có hàm lượng tương ứng 15. Đường pentose chiếm khoảng 20%, menose từ 17% đến 35% và glucose là 12% trên tổng lượng đường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát hoạt tính ức chế tyrosinase từ hạt me tamarindus indica" trình bày nghiên cứu về khả năng ức chế enzyme tyrosinase từ hạt me, một loại thực phẩm tự nhiên có tiềm năng trong việc điều trị các vấn đề liên quan đến sắc tố da. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ cơ chế hoạt động của hạt me mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm chăm sóc da an toàn và hiệu quả. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các ứng dụng tiềm năng của hạt me trong ngành mỹ phẩm và y học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến hoạt tính sinh học của các loại thảo dược khác, hãy khám phá thêm bài viết "Nghiên cứu tác dụng ức chế enzym α glucosidase của cây chè vằng", nơi bạn sẽ tìm hiểu về khả năng ức chế enzym của một loại cây khác. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu tác dụng chống lão hóa của lãnh công fissistigma oldhamii" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về các hợp chất tự nhiên có khả năng chống lão hóa. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu xác định cấu trúc và đánh giá hoạt tính kháng viêm của một số hợp chất thiên nhiên từ cây đại hoàng" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hoạt chất có khả năng kháng viêm trong tự nhiên. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các ứng dụng của thảo dược trong y học và làm đẹp.