CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát về Tamarindus Indica L. Đặc điểm thực vật học Theo phân loại theo khoa học của cây Tamarindus indica L. [1], được trình bày trong bảng 1.
1: Phân loại khoa hoc của Tamarindus indica L. Bộ Fabales Họ Fabaceae Phân họ Caesalpinioideae Tông Detarieae Chi Tamarindus Loài Tamarindus indica Cây me, Tamarindus indica L. indica), là một loại cây ăn trái nhiệt đới thuộc họ đậu (Fabaceae), được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày. Loài duy nhất của chi Tamarindus thuộc họ đậu (Fabaceae) là Tamarindus Indica L.
hay cây me. Cây me là cây thân gỗ thường xanh, thân cây cao to từ 15 đến 30 m. Gỗ của thân cây me gồm lớp gỗ lõi cứng, màu đỏ sẫm và lớp dác gỗ mềm màu vàng [2]. Cây có rất nhiều lá, lá dạng kép lông chim, dài từ 8 đến 10 cm, dài khoảng 2 cm rộng 0.
Hoa trắng nhạt hoặc có vệt đỏ, màu của hoa giống nhau trên toàn bộ cây không trộn lẫn [3]. Hoa mọc thành từng chùm ở kẽ lá hoặc thành chùy tận cùng. Hoa đa phần là lưỡng tính, thông thường có mười nhụy hoa và có một nhụy dài vượt trội và cong. Quả dài mọc thõng xuống, hơi dẹt và thòng, dài từ 7 đến 12 cm, rộng 2.
Vỏ quả mỏng, cứng, giòn, màu hung đỏ, vỏ quả giữa có sơ, mẫm vị chua, sau khi loại hết sơ thì phần vỏ quả có màu nâu nhạt. Quả chứa từ 3 đến 5 hạt màu nâu đỏ, cứng, nhẵn, bóng [2]. Rễ cây bao 1 do an gồm phần rễ cộc mọc đâm sâu xuống đất và hệ thống rễ phụ dày đặc xung quanh [4]. Mùa quả là khoảng từ tháng 10 đến 11 trong năm [2].
1:Cây me và một số bộ phận của cây 1. Phân bố và sinh thái Họ đậu (Fabaceae) là họ lớn thứ ba trong các họ thực vật có hoa, chỉ sau họ phong lan và cúc, tổng cộng có 751 chi đã được tìm ra, số lượng loài đã đạt tới con số 19,327 [5-7], chiếm khoảng 7% các loại thực vật có hoa [6, 8]. Họ đậu bao gồm cây thân thảo hay cây bụi hằng năm hoặc lâu năm, được nhận dạng thông qua hình dạng của quả, hợp 2 do an chất có trong cây và hình dạng và cách bố trí của lá. Họ đậu chiếm số lượng lớn cây ăn quả và cây nông nghiệp như cây đậu phộng, đậu nành, cây kim tước.
Họ đậu là họ phổ biến nhất được tìm thấy ở các khu rừng khô thuộc châu Mỹ và châu Phi [9]. Cây me là cây bản địa của vùng nhiệt đới châu Phi, được trồng để lấy bóng mát [4]. Cây me phát triển tốt ở các vùng cao hơn 1,500 m trên mực nước biển và có lượng mưa hàng năm hơn 1,500 mm. Cây me có thể phát triển ở nhiều loại đất khác nhau, thích hợp nhất ở các loại đất mùn thoát nước, có độ pH= 5-6, nhưng cũng có thể phát từ đất phù sa đến đất đá vôi.
Cây me được phân bố rộng rãi trên toàn thế giới với hơn 50 quốc gia. Diện tích trồng phần lớn tập trung ở hầu hết tại các nước châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, …[10, 11]. Ở châu Mỹ, Mexico và Costa Rica là nơi có sản lượng lớn nhất. Cây me được phân bố rộng, được trồng hoặc mọc hoang khắp Việt Nam từ tỉnh Hà Bắc, Vĩnh Phú tới các tỉnh Tây Nguyên, miền trung và các hải đảo, trồng nhiều hơn ở các tỉnh miền nam.
Đó là loại gỗ ưa sáng, có biên độ sinh thái rộng và có thể sống trên nhiều loại đất. Cây me được trồng để làm bóng mát, vừa lấy lá, quả và làm thuốc. Những công dụng của cây T. Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian Ở Ấn Độ, cây me được sử dụng để điều trị một số bệnh liên quan đến dạ dày, tiêu hóa và tim mạch [12].
Ở miền bắc Nigeria, vỏ thân cây me tươi và lá tươi được sử dụng như thuốc sắc pha trộn với bồ tạt cho điều trị các chứng bệnh về dạ dày, đau cơ thể, sốt vàng da và loại thuốc bổ máu và những chất rửa da [13]. Theo y học phương tây, hạt me là một phương thức lợi tiểu, điều trị chứng rồi loạn mật, vàng da, giúp hệ thần kinh hoạt động tốt do thành phần thiamin chiếm 29%. Thiamin là một loại vitamin có vai trò quan trọng trong các hoạt động của dây thần kinh và cơ bắp. Me là một nguồn cung cấp vi chất cho cơ thể như Ca2+, Mg2+ [2, 14].
Quả me chứa nhiều vitamin C nên giúp tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể, hạn chế các bệnh do nhiễm trùng. Quả me là nguồn cung cấp chất sơ cao nhất trong các loại trái cây với thành phần chất xơ khoảng 20%. Với lượng kali cao gấp hai lần lượng kali có trong chuối do đó hạt me có tác dụng kiểm soát huyết áp rất tốt [14]. Quả me được biết đến như một vị thuốc chữa bệnh thiếu máu do hàm lượng sắt chiếm 2.
Vì vậy, đây cũng là loại trái cây tốt cho những người thiếu máu, đặc biệt là phụ nữ có thai. Bên cạnh đó, 3 do an quả me còn kiểm soát mức độ cholesterol, cung cấp năng lượng mà không gây béo, hỗ trợ cơ chế đông máu. Gỗ cây me được dùng dưới dạng thuốc sắc để thông tiểu. Việt Nam, theo các nhà dinh dưỡng học, trong quả me có nhiều vitamin B, C… Nên có tác dụng nhuận tràng, giúp kích thích vị giác, cải thiện tình trạng kém ăn, mệt mỏi do nắng nóng hay buồn nôn, chán ăn khi mang thai.
Trái me có khả năng bù nước, điện giải, cung cấp vitamin, khoáng chất, giải nhiệt… Trong đông y, quả me có vị chua tính mát, thanh nhiệt, giải khát, tăng cường tiêu hóa. Chữa các bệnh: phụ nữ mang thai nôn nghén, chữa ho, làm ấm bụng, trị chứng chảy máu chân răng, chữa sốt do nắng nóng… Một số bài thuốc dân gian về quả me [2]: Quả me xanh đem cạo vỏ ngoài, rửa sạch, để ráo nước, giã nát với gừng tươi cho thật nhuyễn, loại bỏ xơ. Thêm đường vừa đủ. Đun nhỏ lửa và đảo đều, sau đó trộn với bột cam thảo vừa đủ khô, rồi đóng khuôn làm thành dạng ô mai, mỗi ngày ngậm 3 – 6 lần dùng để chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
Thịt quả me pha với nước ấm, uống vào mỗi buổi sáng sau bửa ăn dùng để trị chảy máu chân răng. Me xanh đem đun với nước, giã nhuyễn lấy phần thịt loại hạt, trộn chung với muối thoa đểu lên chỗ xương khớp đau nhứt để giảm đau. Hoạt tính sinh học của cây T. indica Một số nghiên cứu về hoạt tính sinh học của cây T.
indica trên thế giới: Năm 2017, Sukant Garg và cộng sự đã nghiên cứu và cô lập được các hợp chất polysaccaride từ hạt me (TSP) bằng dung môi ethanol và nước. nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chiết xuất TSP không gây độc hại cho tế bào khi tiếp xúc trong thời gian dài [15]. Siddhuraju và cộng sự (2007) đã nghiêu cứu và công bố các hợp chất polyphenol được trích từ vỏ hạt me trong nhiều phân đoạn cao khác nhau và các phương pháp điều chế cao. Từ đó tiến hành xác định tổng hàm lượng polyphenol và tannin có trong hạt me đồng thời thử khả năng kháng oxi hóa bằng phương pháp DPPH và khử sắt.
Các số liệu có được từ thực nghiệm đã phản ánh kháng oxi hóa của nhiều phương pháp điều chế cao khác nhau [16]. Sudjaroen và các cộng sự công bố bài nghiên cứu về việc nghiên cứu cấu trúc của chất kháng oxi hóa – polyphenol được trích từ vỏ hạt me, đưa ra các số 4 do an liệu về sự đa dạng và hàm lượng của polyphenol có trong vỏ hạt me. Phần trăm các hợp chất polyphenol điển hình trong vỏ me như sau: tổng proanthcyanidin (chiếm 73.4) tồn tại các dạng (+)-catechin (2. Trong thực nghiệm khảo sát hypoxanthine / xanthine oxyase đã đưa ra giá trị IC50 trong việc ức chế xanthine oxyase lần lượt là 38.
Trong xét nghiệm 2-deoxyquanosine, giá trị IC50 lần lượt là 185 và 90,0 μG/mL đối với hạt và vỏ quả [16]. Zhongshan, Lihong và cộng sự đã tạo dẫn chất sulfate hóa và acetyl hóa của polysaccharide làm tăng khả năng chống oxy hóa [17]. Từ kết quả sàng lọc hoạt tính chống oxy hóa và tyrosinase của 60 loại phụ phẩm Việt Nam (2014-2016) của nhóm tác giả P. Đào và cộng sự đã phát hiện ra cao chiết ethanol từ hạt me có hoạt tính cao tương ứng giá trị IC50 đối với phép thử ức chế gốc tự do DPPH là 6.91 µg/mL, phép thử ức chế H2O2 là 113.8 µg/mL, tổng hàm lượng flavonoid là 848.
Takanori Tsuda và cộng sự đã định danh được các hợp chất 2-hydroxy-3’,4’- dihydroxyacetophenone; methyl 3,4-dihydroxybenzoate; 3,4-dihydroxyphenylacetate và epicatechin. Đây là những chất có hoạt tính chống oxi hóa mạnh. Bên cạnh đó, chất chống oxi hóa ưa lipid (linoleic acid) cũng được phân lập và định danh từ hạt me, thử nghiệm hoạt tính theo mô hình thử với acid thiobarbituric [18]. Nghiên cứu về thành phần hóa học của cây T.
Thành phần dinh dưỡng của cây T. indica Phần có giá trị và được sử dụng phổ biến nhất của cây me là quả. Phần thịt quả chiếm khoảng 30-50% trên toàn bộ quả [19, 20], phần vỏ và chất xơ khoảng 11-30%, phần hạt khoảng 25-40% [20, 21], thành phần dinh dưỡng được thể hiện qua bảng 1. 5 do an Bảng 1.
2: Thành phần dinh dưỡng của thịt quả me, lá non, hoa me Thành phần Thịt quả me (%) Lá non (%) Hoa me (%) Nước 20.7 Trong thịt quả me, lá non, hoa me còn chứa các loại muối khoáng vi lượng. Trong thịt quả me, hàm lượng calci (34-94 mg/100g), phospho (34-78 mg/100g), sắt (0. Trong hạt me bao gồm vỏ hạt 20- 30% và nhân hạt 70- 75% trên tổng khối lượng hạt [20, 22]. Hạt me rất giàu protein, phần vỏ hạt chứa rất nhiều chất sơ va tannin.
Theo báo cáo của Panigrahi và các cộng sự (1989), đã nói rằng trong hạt me có chứa 131,3 g/kg protein thô, 67.1 g/kg chất sơ thô, 48.2 g/kg chất béo thô, 56.2 g/kg tannin, với rất nhiều carbohydrate đạng đường. Phần vỏ hạt chứa 14- 18% albuminoid tannin [24]. Thành phần dinh dưỡng trong hạt me được thể hiện trong bảng bảng 1. 3: Thành phần dinh dưỡng của hạt me, (%) Thành phần Hạt me Nhân hạt Vỏ hạt Nước 9.2 - 6 do an Tro 2.4 Hạt me còn được xem như là lương thực hoặc thực phẩm vì bên trong hạt chứa một lượng lớn protein [26].
Protein thô và các thành phần dinh dưỡng không chứa nitrogen có hàm lượng tương ứng 15. Đường pentose chiếm khoảng 20%, menose từ 17% đến 35% và glucose là 12% trên tổng lượng đường.