Chương 1 - TONG QUAN 1. UNG THU VA CO CHE SINH BENH Ung thu không phải chỉ là một loại bệnh ma là khoảng trên 200 loại bệnh khác nhau [34]. Mỗi loại có nguyên nhân riêng của nó, nhưng đều có nguồn gốc chung từ việc tế bào bị đột biến gen [34]. Năm 1953, lần đầu tiên tế bào ung thư được quan sát dưới kính hiển vi điện tử.
Những thành tựu nghiên cứu ở mô hình tế bào cho đến nay là cơ so chắc chắn cho nhận định của giáo sư Arnold Graffi “vấn đề của ung thư thực chất là vẫn đề của tế bào học”. Vì vậy muốn điều trị ung thư phải hiểu được cơ sở tế bào học của nó [8, 34]. Các đặc điểm nỗi bật chung của té bao ung thu là tế bào bi đột biến gen, có khả năng sự tăng sinh vô hạn, không kiêm soát được, có khả năng xâm lan và phát triển ở các cơ quan, tổ chức khác của cơ thé (sự di căn), có khả năng tăng sinh mạch máu [13, 34]. Bệnh ung thư bắt đầu từ khi có một tế bào bắt đầu vượt qua sự kiểm soát của cơ thể, bị đột biến gen, phát triển không ngừng và hình thành một đám tế bào có chung đặc điểm là phát triển vô kiểm soát, xâm lấn và chèn ép các mô xung quanh.
Có rất nhiều nguyên nhân làm chuyên dạng tế bào lành thành tế bào ung thư, bao gồm: các tác nhân vật lý (chủ yếu là tia bức xạ ion hóa), các tác nhân hóa học, các virus, một số bệnh viêm mạn tính, nhiễm trùng lâu ngày, rỗi loạn nội tiết, rối loạn hoạt động enzyme và nhiều vấn đề dinh dưỡng liên quan. Các tác nhân này gây ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấu di truyền phân tử của tế bào, làm thay đổi khả năng trao đổi chất, năng lượng và thông tin với môi trường. Ngoài ra, ung thư còn có thé do yêu tố đi truyền bam sinh [3, 8, 34]. Quá trình hình thành khối u từ tế bào ung thư phải trải qua nhiều giai đoạn.
Thời gian từ tế bào ung thư khởi đầu đến khi xuất hiện một u có thể nhận biết gọi là thời kì tiềm ân (ở người có thể kéo dài từ 10 đến 20 năm) [8, 34]. Sau khi phát triển thành khối u, các tế bảo ung thư tiếp tục tăng sinh hỗn loạn, tự mất đi các thụ thé dé nhận biết giới hạn với các tế bào bên cạnh, sản xuất 6 ạt cytokin va enzyme proteaza dé pha hủy mang đệm lót và môi trường ngoại bao xung quanh. Do đó, các Nguyễn Thị Chỉnh K18 Cao học Sinh học Luận văn thạc sĩ khoa học T1ong quan tế bào ung thư liên kết lỏng lẻo, dé dang but ra khỏi khối u mẹ, theo mạch máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan mới, bám lại và tiếp tục sinh sôi, nảy nở, tăng sinh số lượng. Quá trình này được gọi là sự di căn (metastasis) [10, 34].
Nói cách khác, di căn là một hay nhiều tế bào ung thư tăng trưởng ở một khoảng cách nào đấy cách nơi phát sinh tiên phát của khối u. Thông thường do hậu quả của đi căn mà ung thư gây ra là xấu, có khả năng gây tử vong. Đặc điểm tế bào ung thư và quá trình tiến triển bệnh 1. Đặc điểm tế bào ung thư Tế bào ung thư là những tế bào đột biến, phân chia vô hạn không chịu sự kiểm soát của co thể, cho nên so với tế bào bình thường, tế bao ung thư có những đặc điểm bất thường về hình dạng và kích thước của tế bào cũng như của nhân.
Kích thước của tế bao ung thư khá lớn, khoảng 20 - 40um. Hình dang tế bào rat đa dạng, có thé là hình cầu, bầu dục, hình thoi, hình hạt., có thé có dang gai. Những đặc điểm bất thường của nhân cũng là đặc trưng quan trọng của tế bào ung thư. Chúng có thể chứa một hoặc nhiều nhân, thường có kích thước lớn và đa hình thái, có thé tròn, hình thoi, méo mó hoặc tạo túi.
Kích thước nhân có thé rất khác nhau, song đa số nhân nằm lệch sang một bên và tỷ lệ giữa nhân và tế bào chất cao hơn so với tỷ lệ nay ở tế bào thường. Đây chính là những đặc điểm chính dé có thé phân biệt và nhận biết tế bào ung thư về mặt hình thái. Tính chất bắt màu của nhân và tế bào chất cũng thay đôi đậm nhạt khác nhau. Các đặc điểm hình thái bat thường trên của tế bào ung thư là dấu hiệu quan trọng được coi là tiêu chuẩn vàng trong chân đoán ung thư.
Về cấu trúc và chức năng, nhìn chung các tế bào ung thư đều giữ được đặc điểm đặc trưng của những tế bào gốc tạo ra nó. Tuy nhiên cũng có nhiều khía cạnh khác biệt: - Té bào bình thường trong cơ thé sau nhiều lần phân chia sẽ chết theo con đường apoptosis. Riêng tế bào ung thư có khả năng tăng sinh vô hạn độ, tạo thành những tế bào bat diệt. Nguyễn Thị Chỉnh K18 Cao học Sinh học Luận văn thạc sĩ khoa học T1ong quan - Tébao ung thư không tuân theo những tin hiệu từ những tế bào khác trong đó có những tín hiệu ức chế tăng sinh _, bất kể những tác hại gây ra do số lượng tế bào quá lớn gây chèn ép các mô xung quanh.
- Té bao ung thư bị mat các phân tử trên bề mặt màng tế bào có khả năng giữ chúng ở đúng vị trí, vì vậy chúng có thể tự tách ra và di chuyển đến những vị trí khác trong cơ thé, quá trình này gọi là di căn. - _ Thời gian nhân đôi của tế bao ung thư rất ngắn (dòng tế bao Sarcoma 180 có thời gian nhân đôi là 15,2 giờ) do tế bào ung thư có khả năng thoát khỏi sự kiểm soát và điều hòa của cơ thể. Quá trình tiến triển bệnh ung thư Weinberg R. đề xuất 6 giai đoạn trong quá trình phát sinh ung thư ác tính [18].
Có thể tóm tắt như sau: 1. Giai đoạn khởi phát Các tế bào ung thư nhận được các tín hiệu thúc day sự tăng sinh và phân bao. Các tín hiệu này có thé xuất hiện do sự thay đổi của các yếu tố ngoại bào hoặc do sự thay đồi bên trong hệ thống truyền tín hiệu nội bao dẫn tới sự tăng sinh va phân bao. Trong những trường hợp “cực đoan” nhất, các tín hiệu kích thích phân bào lại do chính các tế bào ung thư tự sản sinh ra.
Lúc đó, tế bào được kích thích phân chia không giới hạn. Giai đoạn thúc day Các tế bào trở nên “vô cảm” một cách bất thường với các tín hiệu ức chế phân bảo. Trong các tế bào bình thường, sự phân bảo thường được kích hoạt bởi các tín hiệu nhất định; và tồn tại song song với chúng là các tín hiệu ức chế phân bào. Bình thường, hai cơ chế này tôn tại song song và phối hợp với nhau ở mức cân bằng, vi vậy sự phân bào diễn ra 6n định và có tô chức.
Ở các tế bao ung thư thì sự ngăn cản phân bao bị tê liệt, khi đó tế bao sẽ luôn được chuyên từ pha G1 sang S đê tiên hành sao chép ADN và bước vào một chu trình tê bào mới bât kê các sai Nguyễn Thị Chỉnh K18 Cao học Sinh học Luận văn thạc sĩ khoa học T1ong quan hỏng ADN có được khắc phục hay không. Các tế bào sau giai đoạn tăng trưởng này sẽ tiếp tục phát triển thành các khối u ác tính 3. Giai đoạn chuyển biến Như ta đã biết, protein p53 giữ vai trò quan trọng trong quá trình bảo vệ cơ thé chống lại sự tích lũy sai hỏng ADN có thé gây nguy hiểm cho cơ thé. Khi p53 bị mat chức năng này thi con đường apoptosis của tế bào không hoạt động.
Vì vậy tế bao hỏng có thé sống và tiếp tục nhân lên nhanh chóng. Những tế bao này có xu hướng tạo ra các thế hệ tế bào con có mức độ sai hỏng còn cao hơn chính nó. Hậu quả là mỗi tế bào con hình thành đều có nguy cơ chuyên thành các tế bào ung thư. Như vậy có thê nói, khả năng thoát khỏi cơ chế chết theo chương trình là “cột mốc” quan trọng đề một tế bào ung thư phát triển thành khối u ác tính.
Giai đoạn lan tran Các tế bào ung thư có khả năng sao chép vô tận. Ở người, mỗi tế bào soma thường chỉ có khả năng sao chép trung bình khoảng 60 — 70 lần. Tuy nhiên các tế bào ung thư có thể vượt quá số lần phân bào này nhờ việc ADN phần đầu mút nhiễm sắc thé được kéo dai nhờ hoạt động mạnh của enzyme ADN telomerase. Khi các tế bao ung thư đạt đến giai đoạn nay, chúng được gọi là các tế bào bat tử.
Giai đoạn củng cố Các tế bào phát triển hệ thống tự nuôi dưỡng. Các mô trong cơ thé đa bào đều cần một hệ thống mạch máu cung cấp chất dinh dưỡng. Các tế bào khối u tiền ác tính thường tăng trưởng chậm do chúng được nuôi dưỡng bởi hệ tuần hoàn bình thường. Nhưng ở các tế bào ung thư, khi khối u phát triển đến một mức nhất định thì xuất hiện sự hình thành mạch máu mới.
Lúc này các khối u được nuôi dưỡng và phát triển rất mạnh. Đây là một bước “củng cố” các tế bào ung thư ác tính hình thành mạch máu mới nuôi dưỡng các khối u, giúp khối u phát triển mạnh mẽ và gây nguy hiểm cho cơ thể. Giai đoạn xâm lan và di căn Ở giai đoạn này, các tế bao ung thư có khả năng xâm lấn vào các vùng mô khác và hình thành khối u mới. Hơn 90% số bệnh nhân bị ung thư đều chết vào giai Nguyễn Thị Chỉnh K18 Cao học Sinh học Luận văn thạc sĩ khoa học T1ong quan đoạn khi các tế bao ung thư đã di căn tới các phần khác nhau của cơ thé.
Khi các khối u di căn, các tế bao ung thư rời khỏi khối u nguyên phát và đi chuyển dọc theo đường máu hoặc đường bạch huyết tới các vị trí khác nhau trong cơ thê trước khi chúng trú ngụ ở vị trí mới và hình thành khối ung thư mới. Như vậy kết qua di căn là sự hình thành các khối u thứ cấp ở vị trí có thé cách rat xa vị trí khối u nguyên phát ban đầu. Khi ung thư đã tiến triển đến giai đoạn này thì sự kiểm soát và điều tri cực kỳ khó khăn. Vi vậy có thé nói di căn là giai đoạn cuối cùng và nguy hiểm nhất trong quá trình phát triển của ung thư.