CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 GIỚI THIỆU VỀ HỌ LA DƠN (IRIDACEAE) Họ Diên vĩ hay họ Lay ơn hoặc họ La dơn là một họ thực vật nằm trong bộ Măng tây (Asparagales). Tên gọi Diên vĩ là lấy theo chi Diên vĩ (Iris), còn tên gọi Lay ơn (lay dơn) là lấy theo chi Lay ơn (Gladiolus), bao gồm một số loài cây trồng được nhiều người biết đến như cây diên vĩ (Iris japonica Thunb.), sâm đại hành (Eleutherine bulbosa (Mill.), rẻ quạt (Belamcanda chinensis (L.) [6]… Họ La dơn là họ nhỏ, gồm những cây thân thảo, sống dai, chủ yếu mọc ở các vùng ôn đới, có thân rễ hay gò địa sinh. Lá từ đất đâm lên, hình kiếm hay hình dải, thường xếp hai dãy và cách quãng nhau, bẹ lá trước phủ lên bẹ lá sau. Phiến lá gập đôi theo đường gân giữa.
Cụm hoa ở ngọn, hoa đẹp, thường kèm theo hai lá bắc có hình cánh. Cụm hoa thường xim dích dắc ở ngọn, hoa thường đều, lưỡng tính. Bao hoa gồm 6 bộ phận phân hình cánh xếp thành hai vòng, hàn liền với nhau ở phía gốc, nhị ba đối diện với các thùy của vòng bao hoa ngoài. Bầu dưới ba ô với giá noãn trụ giữa.
Noãn nhiều, xếp hai dãy ở góc trong của các ô. Quả nang có ba góc, gồm ba ô, hạt nhiều, nội nhũ sừng. Trên thế giới, họ La dơn (Iridaceae) có khoảng 80-92 chi và bao gồm hơn 2000 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và ôn đới, chủ yếu ở Đông Phi và Châu Mỹ nhiệt đới. Ở Việt Nam có 8 chi là: Belamcanda, Crocosmia, Eleutherine, Freesia, Gladiolus, Iris, Trimezia, Tritonia và mỗi chi chỉ có một loài như sau: - Belamcanda chinensis (L.: rẻ quạt (hay lưỡi đòng, xạ can) - Gladiolus hybridus Hort.: lay ơn, cây nhập nội, trồng làm cảnh.
Do sự lai giống mà ngày nay ta đã có nhiều thứ hoa có màu khác nhau: đỏ, hồng, tím, trắng, vàng rất đẹp. - Iris japonica Thunb.: Diên vĩ (hay huệ Nhật), hoa màu xanh tím, cây gặp ở Sapa. - Eleutherine bulbosa (Mill.: sâm đại hành - Tritonia crocosmaeflora (Lem.) Nich: nghệ hương - Crocosmia crocosmiiflora (Nich.: hùng hoàng lan, nghệ hương - Freesia refracta (Jacq.: hương tuyết lan 4 - Trimezia martinicensis Herb. Trong đó, chi Belamcanda (họ Iridaceae) chỉ gồm duy nhất một loài là Belamcanda chinensis (L.
Sâm đại hành nằm trong chi bảo tồn [9], tên khoa học là Eleutherine bulbosa (Mill. là loài duy nhất thuộc chi Sâm đại hành có ở Việt Nam. Các cây thuộc họ La dơn là các cây có hoạt tính sinh học phong phú như: kháng viêm, độc tế bào… và cũng được sử dụng rất nhiều trong các bài thuốc dân gian ở Trung Quốc, Nhật Bản… để điều trị viêm họng, ho, ung thư [1, 3]… 1.1 Giới thiệu về chi Eleutherine và loài sâm đại hành 1.1 Chi Eleutherine trên thế giới và ở Việt Nam Chi Eleutherine gồm những cây thảo, có hành có áo. Lá mọc từ rễ, hình dải, gấp nếp.
Thân tròn, ở ngọn có lá bắc dạng lá. Cụm hoa gồm nhiều nhóm hoa có cuống, mỗi hoa ở nách một lá bắc dạng lá hoặc một lá tiêu giảm hình dải, xếp nếp, gồm một lá bắc chung bao quanh và nhiều lá bắc dạng lá, hoa 6-12 trong mỗi nhóm. Lá đài và cánh hoa không tạo ống ở trên bầu, hình trái xoan ngược - dạng nêm, trải ra, gần bằng nhau. Nhị 3, ở gốc các cánh hoa, chỉ nhị rời, ngắn, bao phấn hình dải.
Bầu thuôn, có 3 ô, noãn nhiều, xếp chồng lên nhau, vòi nhụy ngắn, đầu nhụy 3, hình mũi dùi. Quả nang thuôn, mở vách, thành 3 van. Trên thế giới, chi Eleutherine gồm một số loài như: Eleutherine bulbosa (Mill., Eleutherine americana Merr., Eleutherine latifolia Standl., Eleutherine citriodora Rav. [1] và Eleutherine palmifolia (Linn.
Ở Việt Nam chỉ có một loài duy nhất là Eleutherine bulbosa (Mill., tên đồng nghĩa là Eleutherine subaphlla (Gagnep. Và được gọi là sâm đại hành, hay tỏi lào, sâm cau, hành lào (Hòa Bình), tỏi mọi, kiệu đỏ, cỏ nhọt (Lào). Người ta dùng củ tươi hay phơi hoặc sấy khô của cây sâm đại hành làm thuốc với tên thuốc là Bulbus Eleutherinis subaphyllae [10].2 Loài sâm đại hành (Eleutherine bulbosa) Sâm đại hành là một loại cỏ sống lâu năm, cao từ 30-60 cm, dò (củ) hình trứng dài 4-5 cm, đường kính 2-3 cm giống như củ hành nhưng dài hơn, ngoài phủ vảy màu đỏ nâu, phía trong màu nâu hồng đến đỏ nâu. Lá hình mác, gân lá song song, chạy dọc, trông giống như lá cau non, củ lại có tác dụng bổ cho nên gọi là 5 Sâm cau (lá như lá cau, bổ như sâm); lá có thể dài 40-50 cm, rộng 3-5 cm.
Từ củ mọc lên một cán mang hoa dài 30-40 cm, trên cán có một lá đài 15-25 cm, hoa mọc thành chùm 3 lá đài, 3 cánh tràng màu trắng hay vàng nhạt, 3 nhị màu vàng. Bầu hình trứng, 3 cạnh 3 ngăn dài 1 mm, vòi dài 2,5 mm trên xẻ thành 3 trông như 3 mũi dùi.1 Cây Sâm đại hành (Eleutherine bulbosa) Ở Việt Nam, sâm đại hành mọc hoang và được trồng lấy củ làm thuốc tại nhiều nơi như Hà Tây cũ, Hòa Bình, Nghĩa Lộ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đà Nẵng, Hà Nội. Trồng sâm đại hành rất đơn giản: chỉ việc dùng củ vùi xuống đất như trồng hành, tỏi. Khi thu hoạch, đào lấy củ về, rửa sạch, bóc lớp vỏ bên ngoài, thái mỏng, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô, rồi để nguyên hay tán bột mà dùng [1].
Bên cạnh đó sâm đại hành cũng được sử dụng trong dân gian để trị thiếu máu, vàng da, hoa mắt, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi, băng huyết, ho ra máu. Nấu thành cao rồi luyện viên uống sát trùng, chữa chàm, chốc và bệnh ngoài da. Sâm đại hành đã phơi khô, sao qua, hãm uống làm thuốc an thần gây ngủ, bột dùng để cầm máu, dùng uống trị ho, ho lao, thường phối hợp với Rẻ quạt làm thuốc trị ho, viêm họng. Tác dụng dược lý Tác dụng kháng sinh: dịch chiết sâm đại hành tẩm giấy có đường kính 10 mm đặt trên thạch có cấy vi trùng có tác dụng hạn chế sinh sản của vi trùng Diplococcus pneumoniae, Strepcoccus hemolyticus, S.
Tác dụng yếu hơn đối với Shigella flexneri, Shiga, Bacillus mycoides, B. Không có tác dụng đối với Escherichia coli, Bacillus pyocyaneus, B. 6 Tác dụng chống viêm: làm giảm phản ứng phù thực nghiệm trên chuột (thí nghiệm so sánh với hydrococtison thấy gần như tương tự). Trên lâm sàng thấy có tác dụng tốt đối với chốc đầu trẻ em, nhọt đầu đinh, viêm da mủ, viêm họng cấp và mãn tính, chàm nhiễm trùng, tổ đỉa, vẩy nến… Độc tính: chuột nhắt uống với liều 169 g/kg (1 lần), thỏ uống 26 g/kg/ngày (uống liền 3 ngày) không biểu hiện nhiễm độc, động vật sống bình thường.
Cho thỏ uống với liều 10 g/kg/ngày, liền trong 30 ngày, con vật khỏe mạnh bình thường, giải phẫu không thấy tổn thương gan hay thận [1]. Sâm đại hành còn được một số nước trên thế giới sử dụng làm thuốc diệt giun sán, thuốc chữa các bệnh về kinh nguyệt, các bệnh rối loạn hay nhiễm khuẩn đường ruột và làm thuốc chống sinh sản quá nhanh và đẻ non [136]. Ở một số nơi tại Brazin, lá và củ của Sâm đại hành được dùng làm thuốc xổ và điều trị ung thư. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Eleutherine bulbosa Năm 1951, lần đầu tiên cây Sâm đại hành được nghiên cứu bởi Schmid và cộng sự, hai hợp chất là eleutherin và isoeleutherin đã được phân lập [131].
Năm 1975, C Bianchi và cộng sự đã phân lập từ củ của cây Sâm đại hành hai hợp chất là eleutherin và eleutherol [23]. Năm 1982, từ củ Sâm đại hành người ta đã phân lập được một anthraquinon mới là anthracene-9,10-dione-1,5-diol-4-methoxy-3-methyl-2-cacboxylic acid methyl ester [149]. 7 Năm 1985, nghiên cứu của William & Harborne đã phân lập được xanthone mangiferin và isomangiferin từ lá của Sâm đại hành [150]. Năm 2003, Helmut Kloos và cộng sự đã công bố kết quả phân lập được hợp chất eleutherinone cũng từ thân rễ của cây Sâm đại hành [140].
Theo một công bố mới và đầy đủ nhất năm 2010 về thành phần hóa học của cây Sâm đại hành, 4 hợp chất polyketit mới được phân lập gồm (R)-4-hydroxy eleutherin, eleuthone, eleutherinol-8-O-D-glucoside và isoeleuthoside C (dihydroisoeleutherin-5-O-D-gentiobioside) cùng với các chất đã được phân lập trước đó gồm eleutherin, isoeleutherin, eleutherinol, eleutherol, eleuthoside B (eleutherol-4-O-D-gentiobioside), eleuthoside C (dihydroeleutherin-5-O-D- gentiobioside), elecanacin và hongconin (4-oxodihydroisoeleutherin) [44]. 8 Ở Việt Nam, chưa có nhiều các nghiên cứu về thành phần hoá học của loài sâm đại hành, ngoài công bố phân lập được 4 hợp chất là eleutherin, isoeleutherin, eleutherol và một chất tại thời điểm phân lập được vẫn chưa xác định được cấu trúc của Lê Văn Hồng và Nguyễn Văn Đàn [7]. Như vậy trên thế giới đã có các nghiên cứu về cây Sâm đại hành từ rất sớm. Các nghiên cứu cho thấy thành phần hoá học chủ yếu của sâm đại hành là các hợp chất quinone và dẫn xuất.
Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học loài Eleutherine bulbosa Năm 2003, Tânia Maria Almeida Alves và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính của eleutherin, eleutherinone, isoeleutherin và isoeleutherol. Eleutherin thể hiện hoạt tính ức chế khối u thông qua cơ chế liên quan đến ức chế topoisomerase II. Isoeleutherin và isoeleutherol thể hiện hoạt tính ức chế sự phân chia của virus HIV trong tế bào lympho H9. Eleutherinone, eleutherin, isoeleutherin thể hiện hoạt tính kháng lại chủng nấm hại cây C.
Ngoài ra, Betriz Goncalves và cộng sự (2006) cũng đã chứng minh eleutherin thể hiện hoạt tính kháng lại các chủng vi khuẩn Pycoccus aureus và Streptococcus haemolyticus A [17]. Nghiên cứu của Irawan Wijaya Kusuma và cộng sự (2010) về hoạt tính kháng lại chủng nấm da T. mentagrophytes của eleutherin cho thấy eleutherin tuy thể hiện hoạt tính kháng nấm thấp hơn so với chất chống nấm da miconazole đã được thương mại hóa nhưng lại có ưu điểm là ít tác dụng phụ hơn. Eleutherin cũng thể hiện hoạt tính ức chế sự hình thành sắc tố đen melanin ở 5 ppm với độc tính thấp hơn so với arbutin, một chất làm trắng da thương mại.
Như vậy, eleutherin được coi như một chất bảo vệ da: chống nấm da và chống lại sự hình thành sắc tố đen cho da [65]. 9 Sujogya Kumar Panda và cộng sự (2010) đã nghiên cứu hoạt tính kháng nấm candidal của các dịch chiết ethyl acetate, chloroform, buthanol, ethanol và nước của sâm đại hành. Trong số các dịch chiết này, dịch chiết buthanol có hoạt tính kháng nấm candidal cao hơn hẳn. Nồng độ ức chế tối thiểu của các dịch chiết trong khoảng 0,046-1,5 mg/ml [134].
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hiền và cộng sự cũng đã chứng minh eleutherol ở nồng độ 30 ppm thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với vi khuẩn gây bệnh cho tôm Vibro parahaemoliticus [11].2 Giới thiệu về chi Belamcanda và loài xạ can (Belamcanda chinensis) 1.