Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây Lãnh công 1. Tên khoa học Tên tiếng Việt: Lãnh công Tên khoa học: Fissistigma oldhamii (Hemsl. Lãnh công có phân loại như sau: Giới: Plantae Phân lớp: Magnoliidae Liên bộ: Magnolianae Bộ: Magnoliales Họ: Annonaceae Chi: Fissistigma Loài: F.
Đặc điểm thực vật và phân bố Cây leo đến 8 m. Các nhánh con màu hung có lông tơ. Cuống lá dài 1 cm, có lông tơ, phiến lá hình trứng, hình elip đến thuôn dài, kích thước 6-13 cm × 2-5 cm, dẻo dai, theo chiều dọc có lông tơ sáng lấp lánh, có rãnh dọc, có 10-20 gân phụ, đỉnh thẳng nhọn, tròn, hoặc rộng đầu. Hoa mọc thành cụm, có 1-8 hoa, cuống dài 2,5 cm.
Hoa có kích thước 1,5 cm x 1-1,7 cm. Đài hoa rộng hình tam giác, hình nón màu nâu, đỉnh nhọn. Cánh hoa màu vàng nhạt đến vàng; cánh hoa bên ngoài hình trứng hoặc hình elip, kích thước 2,1-2,4 cm × 1,1-1,2 cm, dày hơn, bên ngoài màu đỏ, bên trong sáng bóng. Cánh hoa bên trong hình trứng, hình mũi mác, kích thước 2 cm × 0,6 cm, bên ngoài mọng nước, bên trong lõm và mọng nước, mép có lông tơ.
Nhị hoa hình thuôn dài, kích thước 2 cm. Lá noãn có lông vàng, có 10 noãn trên mỗi lá noãn, màu trắng; đầu nhụy có 2 khe hở. Quả hình cầu, dài 1,5-1,8 cm, hình cầu dày đặc có cuống dài 2,5cm - 4 cm. Quả có 4 hạt hình cầu.3 2 Luan van Hình 1.
Hình ảnh mô tả thực vật của F.oldhamii1 trong đó gồm Cành cây (1), Hoa (2), Nụ hoa (3), Đài hoa (4), Góc nhìn trực diện của cánh hoa bên ngoài (5), Nhị đực, bộ nhuỵ và đế hoa (6), Nhị hoa (7), Lá noãn (8), Mặt cắt dọc của lá noãn (9), Cành có quả (10). Phân bố: Cây mọc dọc theo khe núi; 500-1500m tại một số tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hồ Nam, Giang Tây, Đài Loan, ĐN Vân Nam, Chiết Giang – Trung Quốc.3 Ở Việt Nam, cây mọc ở ven rừng, ở miền rừng núi thuộc các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Kom Tum, Gia Lai, Đồng Nai. Thành phần hoá học Dựa trên nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta đã chỉ ra rằng F.oldhamii có chứa nhiều thành phần hóa học khác nhau. Trong đó, chủ yếu là các hợp chất như alkaloid, flavonoid và một số thành phần khác.
3 Luan van Alkaloid R1 R2 R3 R4 R1 R2 R3 R4 R5 1 (R)-1,2- OCH3 (C=O) OH H 6 methylenediox NH2 Oxodiscoguattine6 OCH3 H OCH3 H H y-3,9- dimethoxy11- hydroxy-N- carbamoyl- noraporphine5 2 Crebanine6 H CH3 OCH3 7 Oxocalycinine6 OH H OCH3 H H 3 Duguevanine6 OCH3 H OCH3 H 8 Oxobuxifoline7 H H OCH3 H OCH3 4 Xylopine8 H H H H 9 Oxoxylopine7 H H OCH3 H H 5 Isolaureline6 H CH3 H H 10 3,10,11- OCH3 OCH3 H H OCH3 trimethoxy-1,2- methylenedioxy -7- oxoaporphine5 11 Oxocrebanine9 H H OCH3 OCH3 H 12 Liriodenine8 H H H H H R 13 R1 R2 R3 R4 R5 R6 23 4,5-dioxodehydro OH asimilobine10 14 Goniothalactam7 OCH3 OCH3 OH H H H 24 Noraristolodione7 OH 15 Stigmalactam7 OCH3 OCH3 OH H H OCH3 25 Norcepharadione B8 OCH3 16 Oldhamactam6 OCH3 OCH3 H OH H OCH3 17 Aristololactam A IIIa6 OH OCH3 OH H H H 18 Aristolactam BIII11 OCH3 OCH3 OCH3 H H H 19 Enterocarpam I11 OH OCH3 H OCH3 OCH3 H 20 Goniothalactam11 OCH3 OCH3 OH H H H 21 Velutinam11 OCH3 OCH3 H OH H H 22 Aristololactam GII7 OCH3 OH OH H H H R 26 Lysicamine7 H 27 O-methyl-moschatoline6 OCH3 R1 R2 R3 R4 R5 28 Crebanine6 OCH3 OH OH OCH3 H 29 Isoboldine6 OCH3 OH H OCH3 OH 30 Glaucine6 OCH3 OCH3 H OCH3 H 31 Asimilobine8 OH OCH3 H H H R1 R2 R3 32 Aristololactam A II6 H OH OCH3 33 Piper-lactam A11 H OCH3 OH 34 Aristolactam F1 H OCH3 OH 35 Aristolactam F II6 OCH3 OH OCH3 36 R 37 Fissistigamide A7 H 38 Fissistigamide B7 OH Calycinine12 39 40 7'-(3',4'-dihydroxyphenyl)-N-[(4-methoxyphenyl)ethyl]propenamide18 N-methyl-2,3,6-trimethoxymorphinandien-7-one12 Hình 1. 4 Luan van Sử dụng các phương pháp hoá lý và quang phổ khác nhau, các Alkaloid của F.oldhamii đã được phân lập và trình bày qua Hình 1. Flavonoid 45 Isopedicin9 R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 41 Alnetin14 H H H OH OCH3 OCH3 OCH3 5,6,7- H H H OCH3 OCH3 OCH3 H 42 trimethoxyflavone13 43 Quercetin13 OH OH OH OH H OH H 46 2’,5’-dihydroxy-3’,4’,6’-trimethoxy chalcone13 44 47 6-hydroxy-5,7,8-trimethoxy flavanone13 Rutin13 Hình 1. Flavonoid là một loại sản phẩm tự nhiên quan trọng; đặc biệt, chúng thuộc về một loại chất chuyển hóa thứ cấp thực vật có cấu trúc polyphenol, là sản phẩm được chiết xuất từ thực vật và chúng được tìm thấy trong một số bộ phận của cây.15 Nhiều nghiên cứu đã xác định và phân lập được một số Flavonoid từ F.oldhamii được trình bày trong Hình 1.
5 Luan van Terpenoid 48 4-epi-isodauc-6-ene-10β,14-diol 49 Dysodensiol H 50 Dysodensiol I 51 Dysodensiol E 54 7-hydroxymethyl-1-isopropyl- 3αmethyl-1,2,3,3a,4,5,6,8α-octahydro- 52 Dysodensiol G 53 Aromadendrane-4α,10α-diol azulen-4-ol10 55 Isodauc-6-ene-10β,14-diol Hình 1. Các terpenoid, còn được gọi là isoprenoid, là một nhóm lớn và đa dạng của các hóa chất hữu cơ tự nhiên có nguồn gốc từ hợp chất 5 cacbon isopren, và các polyme isopren được gọi là terpen, chúng đóng vai trò quan trọng trong các bài thuốc cổ truyền.4 đưa ra một số terpenoid có trong F. Các chất khác 56 4′,5′-dimethoxy-2′-hydroxy-3′ , 6′-quinodihydrochalcone5 57 Fissohamione7 58 Stigmahamone II17 59 Benzaldehyde 60 Vanillic acid13 61 Stigmahamone I17 Hình 1. Một số hợp chất khác từ F.
Ngoài các nhóm chất chính được nêu trên, F.oldhami còn chứa một số thành phần khác được liệt kê trên Hình 1. Tác dụng sinh học Tác dụng chống oxy hoá Các flavonoid được chiết xuất từ F.oldhamii được nghiên cứu tác dụng chống oxy hoá dựa trên hoạt động thu dọn gốc tự do DPPH. Hàm lượng flavonoid tổng trong dược liệu tương đối lớn và cho thấy khả năng chống oxy hoá cao trên mô hình in vitro.19 Quercetin chiết xuất từ quả của F.oldhamii cũng có hoạt tính chống oxy hóa và kháng tăng sinh mạch.13 Tác dụng kháng viêm, ức chế miễn dịch Sự kích hoạt của bạch cầu trung tính là một đặc điểm chính của các bệnh viêm nhiễm. Trong tài liệu này, các chức năng chống viêm của isopedicin, một flavanone có nguồn gốc từ F.oldhamii, và các cơ chế cơ bản của nó đã được nghiên cứu ở bạch cầu trung tính ở người.
Isopedicin là một flavone chiết xuất từ F.oldhamii, ức chế mạnh sản xuất anion superoxide trong formyl-L-methionyl-L-leucyl-L-phenylalanine (FMLP) của bạch cầu trung tính ở người được kích hoạt với giá trị IC50 0,34 ± 0,03 µM. Hơn nữa, isopedicin làm tăng sự hình thành cAMP và hoạt động PKA trong bạch cầu trung tính người, xảy ra thông qua sự ức chế hoạt động của phosphodiesterase (PDE). Ngoài ra, isopedicin cũng làm giảm quá trình phosphoryl hóa do FMLP gây ra đối với kinase điều hòa ngoại bào và c-Jun N-terminal kinase.20 Sau khi phân lập, một hợp chất ức chế miễn dịch tiêu biểu có độc tính tế bào thấp, 7 '- (3', 4'-dihydroxyphenyl) -N - [(4-methoxyphenyl) ethyl] propenamide, đã được xác định trong F.oldhamii và được nghiên cứu tác dụng ức chế miễn dịch trên dòng tế bào lympho T in vitro và in vivo. Kết quả cho thấy 7 '- (3', 4'- dihydroxyphenyl) -N - [(4-methoxyphenyl) ethyl] propenamide theo cách phụ thuộc vào liều lượng đã ức chế đáng kể sự tăng sinh của tế bào lách gây ra bởi concanavalin A (ConA) và bằng phản ứng tế bào lympho hỗn hợp (MLR), với giá trị nồng độ ức chế tối thiểu 50% (IC50) tương ứng là 6,22 µM và 0,78 µM.
Hợp chất này cũng ức chế sự tăng sinh và sản xuất cytokine loại 1 (IFN-gamma và IL-2) của tế bào T nguyên phát được kích thích bởi mAbs kháng CD3 / CD28, triệt tiêu phản ứng quá mẫn do 2,4-dinitrofluorobenzene (DNFB) gây ra, ngăn chặn sản xuất kháng thể IgG kháng collagen type II (CII), làm giảm sự tăng sinh tế bào lympho do CII và cytokine sản xuất.18 Một số tác dụng khác 7 Luan van Các nghiên cứu cho thấy dầu, alkaloid, flavonoid, steroid và axit hữu cơ là thành phần chính của F.oldhamii có tác dụng chống khối u, chống viêm, giảm đau, giãn cơ trơn và các hoạt động sinh học khác.oldhamii cũng chứa các alkaloid Aristolactam có độc tính mạnh đối với thận. Tuy nhiên, các nghiên cứu toàn diện điều tra sự khác biệt hóa học giữa các phần riêng lẻ của F.oldhamii vẫn còn chưa đầy đủ. Công dụng Hoa của F.oldhamii tạo ra một loại dầu thơm. Dầu hạt được sử dụng trong mỹ phẩm và công nghiệp.3 Rễ khô của cây được sử dụng phổ biến với tác dụng khu phong, thúc đẩy tuần hoàn máu và giảm đau, quả chín có vị ngọt và ăn được.
Tuy nhiên, ở các vùng Hakka (Trung Quốc), các bộ phận trên mặt đất của nó, bao gồm cả lá và thân đôi khi trộn với mật côn trùng, được sử dụng rộng rãi để điều trị viêm phụ khoa. Hơn nữa, trong Đông y, thân và lá của nó còn được dùng để hỗ trợ điều trị gãy xương và phù thũng, toàn cây còn được dùng trong y học để chữa bệnh phong thấp, đau nhức xương, tê bì tay chân, di chứng bại liệt và co giật ở trẻ em.9 Theo y học cổ truyền Trung Quốc, F.oldhamii cũng đã được phê duyệt và sử dụng rộng rãi để điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp ở Trung Quốc. Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về thành phần hoá học và tác dụng sinh học của cây Lãnh công 1. Tại Việt Nam Năm 2016, các tác giả Võ Công Dũng và cộng sự thuộc Khoa Hoá học, Trường Đại học Vinh và Vũ Đình Hoàng thuộc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã nghiên cứu trên chiết xuất methanol của F.oldhamii và phân lập thành công bốn flavonoid: 6-hydroxy-5,7,8-trimethoxy flavanone, 2',5'-dihydroxy-3', 4',6'-trimethoxy chalcone, quercetin, rutin và hai steroid: β-sitosterol và β-sitosterol-3-O-β- D-glucopyranoside.
Cấu trúc của các hợp chất được thiết lập trên cơ sở các phương pháp quang phổ (UV, IR, MS, 1D-NMR và 2D-NMR). Đây là lần đầu tiên 6 hợp chất được phân lập từ F.oldhamii tại Việt Nam.13 Năm 2018, các tác giả Võ Công Dũng và Trần Đình Thắng thuộc Viện Sư phạm Tự nhiên, Trường Đại học Vinh tiếp tục phân lập và nhận dạng được hai triterpenoid là taraxer-14-en-6α-ol và taraxerol từ quả cây F. oldhami của Việt Nam. Trên thế giới 8 Luan van Loài F.oldhamii bắt đầu được nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX.
Dựa trên số kết quả tìm kiếm, có thể nhận định số lượng thông tin về F.oldhamii là không nhiều. Các nghiên cứu gần đây chủ yếu xác định thành phần hoá học của cây, ưu điểm là được nghiên cứu khá đầy đủ, số lượng thành phần trong dược liệu này ngày càng được bổ sung. Tác dụng sinh học và công dụng phòng bệnh, chữa bệnh của cây có được xem xét nhưng chưa được khai thác nhiều, chủ yếu được nghiên cứu dựa trên cơ sở y học cổ truyền đã có sẵn.