Đồ Án Khảo Sát Thành Phần Hóa Học Cây An Xoa (Helicteres hirsuta Lour) Tại Tỉnh Bình Phước

Khảo sát thành phần hóa học cây an xoa helicteres hirsuta lour tại Bình Phước, cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu và ứng dụng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

70
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặc điểm thực vật

1.2. Giới thiệu về chi Helicteres

1.3. Loài Helicteres hirsuta L.

1.4. Ứng dụng chữa bệnh của các loài thuộc chi Helicteres

1.5. Những nghiên cứu về loài thuộc chi Helicteres

1.5.1. Thành phần hóa học loài Helicteres angustifolia L.

1.5.2. Thành phần hóa học loài Helicteres isora L.

1.6. Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Helicteres

1.6.1. Hoạt tính sinh học của loài Helicteres angustifolia L.

1.6.2. Hoạt tính sinh học của loài Helicteres isora L.

2. THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Hóa chất thiết bị

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp trích ly

2.4. Phương pháp thử nghiệm độ tinh khiết

2.5. Phương pháp cô lập các hợp chất

2.6. Phương pháp nhận dạng và giải đoán cấu trúc

2.7. Xử lý nguyên liệu

2.8. Điều chế cao tổng

2.9. Điều chế cao phân đoạn từ cao ethanol

2.10. Khảo sát các phân đoạn

2.11. Khảo sát phân đoạn cao HTC

2.12. Khảo sát phân đoạn cao HTE

2.13. Khảo sát phân đoạn cao HLH

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Khảo sát cấu trúc hợp chất HC-A

3.2. Khảo sát cấu trúc hợp chất HC-B

3.3. Khảo sát cấu trúc hợp chất HC-C

3.4. Khảo sát cấu trúc hợp chất HC-D

4. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây An Xoa

Cây An Xoa, tên khoa học là Helicteres hirsuta, thuộc họ Trôm (Sterculiaceae). Cây có chiều cao từ 1-3 mét, với lá hình trái xoan và hoa màu hồng hoặc đỏ. Cây An Xoa được biết đến với nhiều công dụng trong y học cổ truyền, đặc biệt là trong việc điều trị các bệnh liên quan đến gan. Nghiên cứu cho thấy cây An Xoa có khả năng ức chế tế bào ung thư gan, điều này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Việc khảo sát thành phần hóa học của cây An Xoa tại tỉnh Bình Phước không chỉ giúp xác định các hợp chất có lợi mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển thuốc từ thiên nhiên.

1.1. Đặc điểm thực vật

Cây An Xoa có đặc điểm thực vật nổi bật với lá hình trái xoan, chiều dài từ 5-17 cm và rộng từ 2,5-7,5 cm. Cụm hoa của cây thường xuất hiện vào mùa đông, với hoa có màu sắc bắt mắt. Cây thường mọc ở những nơi có ánh sáng mặt trời, thường gặp trên các đồi cây bụi. Việc hiểu rõ về đặc điểm thực vật của cây An Xoa là cần thiết để có thể tiến hành các nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học và tác dụng của nó.

II. Thành phần hóa học của cây An Xoa

Nghiên cứu về thành phần hóa học của cây An Xoa cho thấy cây chứa nhiều hợp chất hữu cơ có giá trị. Các hợp chất này bao gồm steroid, triterpenoid, flavonoid và nhiều nhóm hợp chất khác. Việc chiết tách và phân lập các hợp chất từ cây An Xoa được thực hiện thông qua các phương pháp như sắc ký cột và phổ NMR. Kết quả cho thấy có ít nhất bốn hợp chất chính được phân lập, bao gồm HC-A, HC-B, HC-C và HC-D. Những hợp chất này không chỉ có giá trị trong việc nghiên cứu mà còn có tiềm năng ứng dụng trong y học.

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thu hái mẫu cây An Xoa tại tỉnh Bình Phước, sau đó tiến hành chiết xuất bằng dung môi ethanol 96°. Các mẫu được xử lý thành dạng bột khô và ngâm trong dung môi để thu được cao chiết. Các phân đoạn cao được phân loại và tinh chế bằng các kỹ thuật sắc ký cột. Kết quả cho thấy các hợp chất cô lập có độ tinh khiết cao, điều này cho thấy tiềm năng ứng dụng của cây An Xoa trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm.

III. Tác dụng của cây An Xoa trong y học

Cây An Xoa đã được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị nhiều loại bệnh, đặc biệt là các bệnh liên quan đến gan. Nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ cây An Xoa có khả năng ức chế dòng tế bào Hep-G2, một loại tế bào ung thư gan. Điều này mở ra hy vọng cho việc phát triển các phương pháp điều trị mới từ thiên nhiên. Việc khảo sát tác dụng của cây An Xoa không chỉ có ý nghĩa trong việc phát triển thuốc mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của các loại cây thuốc nam.

3.1. Ứng dụng trong điều trị bệnh

Cây An Xoa được sử dụng để điều trị các bệnh như viêm gan, ung thư gan và các bệnh lý khác liên quan đến gan. Nhiều bệnh nhân đã phản hồi tích cực về hiệu quả của cây An Xoa trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe. Việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm từ cây An Xoa có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ so với các phương pháp điều trị hiện đại.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Từ lâu, ngành Dƣợc liệu cổ truyền đƣợc xem nhƣ nguồn gốc của ngành Dƣợc hiện đại. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy những chế phẩm phục vụ chữa trị của Tây y có nguồn gốc từ Đông y, hay nói cách khác là từ cây, cỏ. Vì vậy, việc tìm hiểu và nhận danh các chất hữu cơ của một loại cây, cỏ là điều cần thiết và có ý nghĩa khoa học. Thực tế cho thấy Việt Nam là một quốc gia có tỷ lệ dân số mắc ung thƣ cao, trong đó ung thƣ gan là một căn bệnh phổ biến và chƣa có thuốc đặc trị, yếu tố này thúc đẩy các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc luôn nỗ lực để tìm ra phƣơng pháp, thuốc điều trị.

Trong những năm gần đây, xu hƣớng bào chế thuốc đi từ nguồn gốc thiên nhiên đƣợc ƣa chuộng hơn những phƣơng pháp khác, do sự tƣơng tác của các thành phần tự nhiên với cơ thể êm dịu hơn và thƣờng không gây tác dụng phụ ảnh hƣởng đến cơ thể bệnh nhân. Theo tìm hiểu, có rất nhiều bệnh nhân bệnh gan đáp ứng rất tốt với cây An xoa nên trong khóa luận này sẽ tập trung vào nghiên cứu thành phần hóa học của cây An xoa đƣợc thu hái tại Xã Bù Nho, Huyện Phƣớc Long, Tỉnh Bình Phƣớc. Để góp phần tìm hiểu và nhận danh một số hợp chất có trong thành phần của cây An Xoa Helicteres hirsuta Lour chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát thành phần hóa học của cây An Xoa (Helicteres hirsuta Lour.) thu hái tại tỉnh Bình Phƣớc”. Mục tiêu luận văn: Nghiên cứu chiết tách một số hợp chất từ các phân đoạn cao thân và lá cây An Xoa (Helicteres hirsuta L.), thuộc họ Trôm Sterculiaceae đƣợc thu hái tại Xã Bù Nho Huyện Phƣớc Long, Tỉnh Bình Phƣớc.

Từ đó làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu sau này. Nội dung luận văn bao gồm: 1. Trích ly các hợp chất từ bột cây 2. Điều chế các loại cao có độ phân cực tăng dần từ cao tổng ethanol 3.

Phân lập một số hợp chất tự nhiên 4. Xác định cấu trúc hóa học các hợp chất đã phân lập bằng phổ 1D-NMR (1H,13C- NMR), 2D-NMR (HSQC, HMBC), MS. 1 do an CHƢƠNG 1. Đặc điểm thực vật 1.

Giới thiệu về chi Helicteres Chi Helicteres thuộc Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ: Bông (Malvales) Họ: Trôm (Sterculiaceae) Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học và dƣợc tính của cây thuộc chi Helicteres. Các loài thuộc chi Helicteres đƣợc sử dụng trong y học cổ truyền để chữa sốt rét, cảm mạo, viêm họng, sởi, tiêu chảy, lỵ, viêm ruột,. Ở Việt Nam, 6 loài thuộc chi Helicteres đƣợc ghi nhận trong tài liệu [1], bao gồm:  Tổ kén (Helicteres angustifolia L.)  Tổ kén cái (Helicteres hirsuta L.)  Tổ kén hoa trắng (Helicteres viscida Blume.)  Tổ kén không lông (Helicteres glabriuscula Wall.)  Tổ kén lá mác (Helicteres lanceolata DC.)  Tổ kén tròn (Helicteres isora L. Loài Helicteres hirsuta L.

Tên tại Việt Nam: Cây An Xoa, Tổ Kén Cái, Dó Lông, Thâu Kén Cái (Hình 1. Tên khoa học: Helicteres hirsuta L., thuộc họ Trôm - Sterculiaceae. Mô tả: Cây bụi cao từ 1-3 m; nhánh hình trụ, có lông. Lá hình trái xoan dài 5-17 cm, rộng 2,5-7,5 cm, gốc cụt hay hình tim, đầu nhọn thành mũi nhọn, mép có răng không đều, mặt dƣới màu trắng, cả hai mặt phủ đầy lông hình sao; gân gốc 5, cuống dài 0,8-4 2 do an cm; lá kèm hình dải, có lông dễ rụng.

Cụm hoa là những bông ngắn, đơn hay xếp đôi ở nách lá. Hoa màu hồng hay đỏ; cuống hoa có khớp và có lá bắc dễ rụng; đài hình ống phủ lông hình sao, màu đo đỏ, chia 5 răng; cánh hoa 5; cuống bộ nhị có vân đỏ; nhị 10, nhị lép bằng chỉ nhị; bầu có nhiều gợn, chứa 25-30 màu trong mỗi lá noãn. Quả nang hình trụ nhọn; hạt nhiều, hình lang trụ. Ra hoa kết quả vào mùa đông.

Bộ phận dùng: Rễ và lá - Radix et Folium Heliteres Hirsutae. Nơi sống: Nam Trung Quốc và nhiều nƣớc Nam Á. Ở nƣớc ta, cây mọc rất phổ biến, thƣờng gặp trên các đồi cây bụi trãi nắng. Công dụng: Cây dùng làm thuốc chữa u nhọt.

Rễ dùng làm dịu đau, dùng chữa kiết lỵ, đậu sởi, cảm cúm và làm thuốc tiêu độc, còn dùng chữa đái dắt [1]. Cây An Xoa [1, 2] 1. Ứng dụng chữa bệnh của các loài thuộc chi Helicteres Các loài thuộc chi Helicteres có nhiều ứng dụng đƣợc nhắc đến trong các bài thuốc dân gian, các bộ phân trên mỗi loài cũng mang những công dụng khác nhau [1] :  Tổ kén (Helicteres angustifolia L.): thƣờng đƣợc dùng chữa sốt rét, cảm mạo nhiệt độ cao không giảm, viêm họng, viêm tuyến mang tai, sởi, ỉa chảy, lỵ, viêm ruột, lở ngứa ngoài da, trĩ, tràng nhạc, đau đầu, miệng khát. Cũng đƣợc dùng trị rắn độc cắn.

Trong dân gian, ngƣời ta dùng làm thuốc giải trừ ban sởi giải nhiệt độc và rửa loại 3 do an mụn đóng vẩy nến.  Tổ kén hoa trắng (Helicteres viscida Blume.): Lá, rễ đƣợc dùng làm thuốc chữa hen có kết quả, thân và lá đƣợc dùng trị đau bụng, ỉa chảy, lỵ, đái ra máu và thoát giang.  Tổ kén không lông (Helicteres glabriuscula Wall.): rễ đƣợc dùng để trị sốt rét, lỵ, trị cảm mạo, bệnh sởi và trị rắn cắn  Tổ kén lá mác (Helicteres lanceolata DC.): lá đƣợc ngâm rƣợu làm thuốc bổ cho phụ nữ sau khi sinh, rễ đƣợc dùng trị cảm mạo, ho, bệnh sởi và lỵ.  Tổ kén tròn (Helicteres isora L.): Ở Trung Quốc, rễ cây đƣợc dùng để chữa viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, dùng chữa tắc ruột và cảm mạo phát nhiệt.

Ở Ấn độ, rễ và vỏ cây đƣợc dùng chữa trị bệnh về ruột, chống tiết sữa, trị cảm cúm và dùng ngoài đắp mụn nhọt, vỏ đƣợc dùng để chữa lỵ, ỉa chảy, dịch rễ dùng chữa đái đƣờng, đau dạ dày và trị rắn cắn, quả đƣợc dùng trị đau bụng và đầy hơi ở trẻ em. Ở Thái Lan, ngƣời ta dùng vỏ thân và rễ làm thuốc lợi tiêu hóa. còn quả dùng trị đau dạ dày, đau cơ, viêm gan chống đầy hơi trừ ỉa chảy, lỵ, và làm thuốc long đƣờm. Những nghiên cứu về loài thuộc chi Helicteres Chi Helicteres rất đa dạng về hoạt tính sinh học cũng nhƣ thành phần hóa học.

Thành phần hóa học bao gồm các hợp chất thuộc họ: steroid, triterpenoid, lignan, phenyl pro- panoid, flavonoid, alkaloid,. Trong các loài thuộc chi Helicteres, 3 loài: tổ kén (Helicteres angustifolia L.), tổ kén cái (Helicteres hirsuta L.), tổ kén tròn (Helicteres isora L.) đƣợc nghiên cứu rộng rãi trên thế giới. Thành phần hóa học loài Helicteres angustifolia L. Cây tổ kén (Helicteres angustifolia L.) thuộc họ trôm - Sterculiaceae là một loài thực vật có hoa, ra hoa kết quả quanh năm nhƣng chủ yếu vào tháng 5-7, rễ cây tổ kén có công dụng chữa bệnh trong dân gian [1].

Chính vì vậy các nghiên cứu dƣới đây đều lấy rễ cây tổ kén làm đối tƣợng để nghiên cứu. Cây tổ kén đƣợc nghiên cứu thành phần hóa học vào năm 1990, Chiu-Ming Chen cùng với các cộng sự đã phân lập 5 hợp chất mansonone là mansonone E (45), H (46), M (47), F (48) và helicquinone (49) [3]. Năm 2003, nhóm tác giả đến từ Trung Quốc đã cô lập đƣợc 2 hợp chất triterpenoid từ vỏ rễ của cây tổ kén là: methyl 3β-hydroxyolean-12-en-27-benzoyloxy-28-oate (17) và 3β-O-(p-hydroxy-(E)-cinnamoyl) -12-oleanen-28-oic acid (18) [4]. 4 do an Vào năm 2006, nhóm tác giả đến từ Đài Loan đã phân lập đƣợc 4 hợp chất tự nhiên thuộc họ steroid là cucurbitacin B 2-sulfate (1) và cucurbitacin G 2-O-β-D- glucopyranose (2) - hai hợp chất mới, cùng hai hợp chất đã đƣợc biết đến trƣớc đó là arvenin I (4) và III (3) [5].

Cùng năm 2006, Wenliang Chen cùng các cộng sự đã phân lập đƣợc 28 hợp chất từ rễ và thân của cây tổ kén [6] : Steroid (4 hợp chất): 2α,7β,20α-trihydroxy-3β,21-dimethoxy-5-pregnene (5), cucur- bitacin D (6), J (7), β-sitosterol (8). Ketone: 6,7,9α-trihydroxy-3,8,11α-trimethylcyclohexo-[d,e]-coumarine (50) Lignan-phenylpropanoid (7 hợp chất): Lariciresinol (52), Coniferyl alcohol (53), 3- (3,4-dimethoxyphenyl)-2-propenal (54), rosmarinic acid (59), (±)-Pinoresinol (63), lirioresinol B (66), (±)-trans-Dihydrodiconiferyl alcohol (69). Sau đó, năm 2012, rễ của loài này tiếp tục đƣợc nghiên cứu, kết quả là 16 hợp chất đã đƣợc phân lập [8]: heligenin A (10), heligenin B (11), helicterone A (89), cucurbitacin B (12), D (6), I (13), E (14), 3β-acetoxy-27-[(4-hydroxybenzoyl)oxy]lup-20(29)-en- 5 do an 28-oic acid (31), protocatechuic aldehyde (96), tiliroside (72), (±)-trans- dihydrodiconiferyl alcohol (69), urolignoside (70), rosmarinic acid (59), Syringic acid- 4-O-α-rhamnopyranose (91), 3β-acetoxybetulinic acid (40), hexanorcucurbitacin I (16). Năm 2016, Xiang Yin và các cộng sự đã phân lập đƣợc 12 hợp chất [9]: 8-acetyl-9- hydroxy-3-methoxy-7-methyl-1-phenalenone (51), hedyotol C 7”-O-β-D- glucopyranoside (57) và hedyotol D 7”-O-β-D-glucopyranoside (58), machicendonal (56), dihydrodehydrodiconiferyl alcohol (69), kaempferol 3-O-β-D-glucopyranoside (71), tiliroside (72), kaempferol (73), (5,7,8,3’-tetrahydroxy-4’-methoxyflavone) (74), (5,7,8-trihydroxy-4’-methoxy flavone) (75), hesperidin (77), homoeriodictyol-7-O-β- D-glucopyranoside (78).

Thành phần hóa học loài Helicteres isora L. Tổ kén tròn (Helicteres isora Linn.) thuộc họ trôm - Sterculiaceae là một loài thực vật có hoa mọc ở rừng ven suối ở nƣớc ta. Ở những nơi khác nhau mục đích trị bệnh cũng khác nhau, rễ đƣợc dùng để chữa viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày ở Trung Quốc, còn ở Ấn Độ rễ và vỏ cây đƣợc dùng trị bệnh về ruột, chống tiết sữa, trị cảm cúm, dùng ngoài đắp mụn nhọt [1]. Nghiên cứu của nhóm tác giả dẫn đầu bởi Mark F.

Bean đã phân lập 2 hợp chất thuộc họ steroid từ rễ cây tổ kén tròn là cucurbitacin B (12) và isocucurbitacin B (15) [10]. Sau đó, năm 1999, Tosiko Satake cùng các cộng sự đã nghiên cứu thành phần hóa học của quả cây tổ kén tròn [11], kết quả cho thấy có 3 hợp chất dẫn xuất của rosmarinic acid là: 4'-O-β-D-glucopyranosyl rosmarinic acid (60), (4,4'-O-di-β-D-glucopyranosyl rosmarinic acid) (61), 2R-O-(4'-O-β-D-glucopyranosylcaffeoyl)-3-(4-hydroxyphenyl) lactic acid (62) và rosmarinic acid (59) đƣợc phân lập từ quả của loài này. Năm 2001, nhóm tác giả đến từ Nhật Bản và Indonesia đã phân lập thành công 5 hợp chất họ fla- vonoid có liên kết với các glucuronide từ quả của loài này, đây là những dẫn xuất của isoscutellarein gồm các hợp chất (84-88) [12]. Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Helicteres 1.

Hoạt tính sinh học của loài Helicteres angustifolia L. Nghiên cứu của nhóm tác giả từ Nhật Bản đã chỉ ra rằng: chiết xuất từ rễ cây tổ kén H. angustifolia làm giảm lƣợng đƣờng huyết sau 28 ngày điều trị. Ngoài ra nồng độ cho- lesterone tốt đƣợc tăng lên [13].

Nghiên cứu của Shuang Sun cùng các cộng sự cũng cho thấy phân đoạn chứa các pol- ysaccharide từ rễ cây tổ kén thu tập tại Lào thể hiện hoạt tính điều hòa miễn dịch trên đại thực bào [14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo Sát Thành Phần Hóa Học Cây An Xoa Tại Bình Phước" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thành phần hóa học của cây An Xoa, một loại thảo dược nổi tiếng trong y học cổ truyền Việt Nam. Tác giả đã thực hiện các phân tích chi tiết để xác định các hợp chất có trong cây, từ đó làm nổi bật những lợi ích tiềm năng của nó trong việc hỗ trợ điều trị một số bệnh lý. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị của cây An Xoa mà còn mở ra cơ hội nghiên cứu sâu hơn về các ứng dụng của nó trong y học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến thảo dược và thành phần hóa học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Hcmute cô lập lignan và iridoid từ cây mắm trắng avicennia alba bl avicenniaceae", nơi khám phá các hợp chất có lợi từ cây mắm trắng. Ngoài ra, bài viết "Hcmute nghiên cứu cô lập depside từ loài địa y usnea aciculfera" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các hợp chất tự nhiên và ứng dụng của chúng trong y học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về "Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tác dụng ức chế enzym α glucosidase của cây chè vằng jasminum subtriplinerve trên mô hình in vitro và in silico", một nghiên cứu khác về tác dụng của thảo dược trong việc điều trị bệnh. Những bài viết này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các thành phần hóa học trong thực vật.