Chương 1 TỔNG QUAN ---------- 1.1 Giơi thiệu chung về cây đỗ trọng nam 1.1 Danh pháp [1], [3] Tên khoa học: Parameria laevigata (A. Thuộc họ: Trúc đào (Apocynaceae). Tên Việt Nam: Đỗ trọng Nam, Song tiết. Tên nước ngoài: Var ang kot (Cambodia);Jie jia teng (China); Gembor, Ragen, Akar gerip putih, Kayu rapet (Indonesia).2 Mô tả [3] [10], [23] Hình 1.1 Cây đỗ trọng nam Huỳnh Văn Thanh 3 Cây có dạng dây leo, là một dạng thảo dược thường xanh, phát triển chậm, dài 5-10m, có nhiều nhánh và không có lông.
Mủ cây có màu trắng, khi gặp không khí thì khô lại, do đó nếu bẻ đôi vỏ hay lá sẽ thấy những sợi tơ mảnh, dài. Lá có hình bầu dục, thuôn hoặc hình trái xoan ngược, dài 5-13cm, rộng 2-5cm, có mũi nhọn dài, nhọn hoặc tù ở chóp, có góc ở gốc, mặt trên sáng bóng, có mép hơi cong về phía dưới, dạng màng, thường mọc đôi có khi mọc vòng ba. Hoa có màu trắng, tỏa mùi thơm nhẹ xếp thành từng chùm ở nách lá và đầu nhánh, đài có tuyến ở trong, ống vành ngắn, tai hoa đài dài khoảng 4mm có 5 cánh xếp chồng xen kẽ nhau. Quả gồm 2 quả đại, dài 15-30cm, rẽ đôi, nhọn, nhẵn, mào lông mềm, trắng, dài 2-5cm, mùa hoa quả từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau.3 Phân bố và sinh trưởng[1], [3], [9] Cây đỗ trọng nam là loài sinh vật bản địa của Ấn Độ và Malaysia.
Ngoài ra cây cũng phân bố ở một số nước khác như: Trung Quốc, Indonesia, Philippine, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Tại Việt Nam, cây đỗ trọng nam chủ yếu sinh sống ở miền bắc như: Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang và một số tỉnh miền trung như: Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Huỳnh Văn Thanh 4 Thuận, Ninh Thuận. Vì có sức chịu đựng tốt nên cây thường mọc hoang ở những nơi có đất đai cằn cỗi, các vùng núi cao. Ngoài ra, cây còn mọc ở các bở suối, những khu rừng nhiệt đới, hay quấn vào những cây cổ thụ ở đồng bằng và trung du.
Cây đỗ trọng nam là loài thực vật ưa sáng, nên thường sinh trưởng mạnh vào mùa hè. Vào mùa đông, cây gần như ngừng sinh trưởng nhưng lá vẫn xanh tốt. Cây ra hoa quả nhiều vào mùa hè và mùa thu. Cây trồng bằng hạt hay bằng cành.
Các bộ phận dùng làm thuốc của cây như: rễ, thân và lá. Có thể thu hái quanh năm, đem về rửa sạch, thái nhỏ, rồi phơi khô để làm thuốc.2 Công dụng của cây đỗ trọng nam 1.1 Theo y học cổ truyền [2], [10] , [22] Từ xưa, dân gian đã truyền nhiều bài thuốc chữa bệnh từ cây đỗ trọng nam, đây là cây thuốc quý có khả năng chữa được rất hiều bệnh như: phong thấp, đau lưng, mỏi gối, thận hư, liệt dương, sưng, tê, phù, cao huyết áp. Ngoài những công dụng trên thì cây đỗ trọng nam còn có một số công dụng khác tại các nước như: Ở Trung Quốc, thân và lá dùng để trị phong thấp, đau nhức xương, viêm thận. Ở Campuchia, cây được dùng để trị sốt.
Ơ Ấn Độ, lá được dùng để trị kiết lỵ, cầm máu vết thương. Ở Philipine, thân cây được nghiền nhuyễn ngâm trong dầu dừa được dùng để trị bệnh lao và ghẻ lở. Ở Malaysia và Indonesia, vỏ còn được dùng làm thuốc chống loét bao tử, chống tiêu chảy, giúp tử cung co lại sau khi sinh. Một số bài thuốc có cây đỗ trọng nam: Chữa bệnh phong thấp: vỏ cây đỗ trọng nam nghiền nát phối với các vị thuốc khác theo đơn sau: đỗ trọng nam, cẩu tích, ngưu tất, thục địa, đương quy, ba kích, mỗi vị 12g sắc uống.
Huỳnh Văn Thanh 5 Chữa mụn nhọt, ghẻ lở: thân cây đốt thành than, tán mịn, cùng với dầu dừa, nghệ tươi lá ngải cứu, giã nát, làm thành bánh, đắp lên. Chữa bệnh giãn nở tử cung sau khi sinh: dùng 15 g vỏ đỗ trọng nam đã rửa sạch đun với 3 chén nước trong 25 phút, sau đó lấy nước hòa vào rượu trắng rồi uống. Chữa bệnh tiêu chảy cấp tính: lá cây đỗ trọng nam đem đun với gừng tươi và rau má theo khối lượng bằng nhau, giã nát, hòa với nước đun để nguội, rồi uống 2 đến 3 lần trong ngày. Chữa bệnh tê, phù chân tay: lá cây đỗ trọng nam đem nghiền nát và phối hợp với các loại thuốc khác theo đơn sau: đỗ trọng nam 12g, mạch môn 12g, trích thảo 6g, xuyên khung 9g, hoài sơn 10g, quế chi 5g, xương truật 9g, sắc lấy nước uống.2 Theo y học hiện đại Khả năng chống ung thư và gây độc tế bào.
Năm 2005, Chikako Murakami Nakai, Kohei Kamiya và cộng sự đã cô lập từ vỏ cây đỗ trọng nam 2 hợp chất Parameritannin A-2 và Parameritannin A-3. Hai hợp chất này có khả năng ức chế tác nhân điển hình của DNA là topos I, II. Mặc dù là đồng phân nhưng khả năng ức chế lên các topos của chúng lại khác nhau, Parameritannin A-2 chỉ tác dụng lên topo II (IC50=0,5µM), nhưng Parameritannin A-3 thì tác động lên cả topo I (IC50=50µM) và topo II (IC50=0,5µM). Kết quả cho thấy được tiêm năng về hợp chất chống ung thư và gây độc tế bào.[8], [20] Khả năng chống oxi hóa.
Năm 2006, Muhammad Taher cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hoạt tính chống oxi hóa của Cinamtannin B1, chiết a từ cây đỗ trọng nam. Thí nghiệm đã được tiến hành bằng phương pháp Ferric Thiocyanate (FTC), kết hợp với phương pháp bao vay góc tự do (DPPH), dùng các tác nhân oxi hóa là lipid peroxy. Kết quả cho thấy Cinamtannin B1có khả năng chống lại quá trình peroxy hóa lipid, và đồng thời cũng khử được gốc tự do 1,1-diphenyl1-2- picrylhyrazyl.[16],[18] Huỳnh Văn Thanh 6 Khả năng chống gây quái thai và dị tật trên phôi. Herrera và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hoạt tính của dịch chiết từ lá cây đỗ trọng lên phôi của loài vịt cổ xanh.
Kết quả cho thấy dịch chiết có tiềm năng lớn trong việc chống các tác nhân gây ra quái thai, khi dùng lần lượt với các nồng độ: 10; 30 và 50µg/mL. Ngoài ra hòa chung dịch chiết 30; 50µg/mL với acid retinoic (vitamin A acid) thì cũng tạo ra hợp chất giẩm thiểu được các dị tật ở thai do tác dụng phục của acid này gây ra. [7] Khả năng kiểm soát bệnh tiểu đường túyp II. Năm 2009 Muhamad Taher cùng các cộng sự thử hoạt tính của Cinamtannin B1 trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường túyp II.
Nghiên cứu được tiến hành trên các tế bào tạo mỡ. Kết quả cho thấy Cinamtannin B1 có những tác động giống ngư insulin trong việc hấp thụ glucoe ở tế bào 3T3-L1, một đơn vị của tế bào tạo mỡ. Hơn nữa, Cinamtannin B1 còn có khả năng kích thích các đơn vị của insulin trở lại thực hiện phản ứng phosphoryl hóa, bằng cách kích hoạt các PT3-kinase insulin thực hiện phản ứng chuyển vị glucose transposer-4 (GLUT-4) nhằm tạo sự hấp thụ glucose trở lại. [17], [24], [25] Khả năng giảm đau.
Năm 2012, Imelda Christina cùng các cộng sự tiến hành thí nghiệm khả năng giảm đau của dịch chiết từ vỏ cây đỗ trọng nam lên chuột nhắt, các con chuột được chia làm 5 nhóm điều trị, dịch chiết được tiêm dưới da chuột với các liều lượng: 0,975; 1,95; 3,9g/kg trọng lượng cơ thể chuột, cùng với dùng thuốc giảm đau Diclofenac Sodium để so sánh. Quá trình theo dõi tác dụng giảm đau được thực hiện bằng phương pháp dùng tấm nhiệt cảm ứng ở 55ºC. Kết quả cho thấy khi dùng liều lượng 3,9g/kg trọng lượng cơ thể thì dịch chiết có tác dụng tương tự như Diclofenac Sodium (P>0.3 Thành phần hóa học Các hợp chất trong cây đỗ trọng nam đã được cô lập, xác định cấu trúc hóa học và định danh. Trong luận văn này các hợp chất được sắp xếp theo năm tìm ra chúng: Huỳnh Văn Thanh 7 Năm 2001, nhóm của Kohei Kamiya, Hanani Endang cùng cộng sự cô lập được 6 hợp chất từ thân cây đỗ trọng nam gồm: Proanthocyanidin A-2, Proanthocyanidin A-6, Cinamtannin B-1, Aesculitannin B, Epicacatechin- (2β→0→7,4β→6)-epicacatechin-(2β→0→7,4β→8)- epicacatechin, parameritannin A-1.
[12] Huỳnh Văn Thanh 8 Năm 2003, Kohei Kamiya, Akiko Ohno cùng các cộng sự đã cô lập từ thân cây đỗ trọng nam được 4 hợp chât có dạng vô định hình màu vàng nhạt: Cinamtannin B-2, pavetannin C-1, Cinamtannin D-1 và Epicatechin. [13] Huỳnh Văn Thanh 9 Năm 2005, Chikako Murakami- Nakai, Kohei Kamiya và công sự đã cô lập từ vỏ cây đỗ trọng nam 2 hợp chât Parameritannin A-2 và Parameritannin A-3. [19] Huỳnh Văn Thanh 11 Chương 2 THỰC NGHIỆM ---------- 2.1 Hóa chất, thiết bị 2.1 Hóa chất - Hạt silica gel cỡ hạt 0,04– 0,06 mm dùng cho pha thường và pha đảo. - Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên lớp mỏng tráng sẵn DC Alufolien F 254 (Merck) dùng cho pha thường và Rp 18 F254S (Merck) cho pha đảo.
- Dung môi dùng cho quá trình thí nghiệm gồm: n-hexane, chloroform, methanol, ethyl acetate, ethanol, acetone, nước cất. - Thuốc thử hiện hình trên TLC: dùng H2SO4/EtOH, FeCl3/EtOH.2 Thiết bị - Đèn UV tử ngoại cầm tay, bước sóng 254 nm và 365 nm hiệu UVITEC. - Máy cô quay chân không Buchi – 111. - Bếp cách thủy Julabo 461 Water Bath.
- Thiết bị gia nhiệt hồng ngoại, hiệu SCHOTT. - Cột sắc ký đường kính từ 2 – 5,5 cm. - Cân phân tích. - Tủ sấy Memmert.
- Các dụng cụ thủy tinh: phễu lọc, ống đông, bình cô quay.2 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Phương pháp cô lập các hợp chất Sử dụng phương pháp ngâm với ethanol để chiết xuất cao ethanol thô. Huỳnh Văn Thanh 12 Các cao phân đoạn được điều chế bằng phương pháp trích pha rắn cao ethanol ban đầu với các dung môi có độ phân cực tăng dần: hexane, chloroform, ethyl acetate và methanol. Sử dụng sắc ký cột silica gel pha thường, pha đảo Rp18, sephadex LH20 kết hợp sắc ký lớp mỏng để phân lập các hợp chất. Phát hiện các chất bằng đèn tử ngoại ở hai bước sóng 254nm và 365nm hoặc dùng thuốc thử dung dịch 10% H2SO4/EtOH.2 Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất Điểm nóng chảy được đo trên máy Electrothermal IA 9000 series, dùng mao quản không hiệu chỉnh của phòng các Hợp chất thiên nhiên, Viện Công nghệ hóa học.
Phổ khối lượng phun mù điện tử (Electron Spray Ionization mass spectral) được đo trên máy Agilent 1100 LC-MSD Trap của Viện Hoá học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Phổ khối lượng phân giải cao ghi trên máy HR-FT-ICR- MS, Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR): 1H-NMR (500 MHz) và 13C-NMR (125 MHz) được đo trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer, Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với chất chuẩn nội là TMS (tetrametyl silan).1 Thu hái nguyên liệu Mẫu nguyên liệu là thân cây đỗ trọng nam được thu hái tại huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận vào tháng 8 năm 2013.