Khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase của nấm linh chi đỏ Ganoderma lucidum

Đồ án nghiên cứu hcmute nghiên cứu khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase trên tế bào của nấm linh chi đỏ, áp dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu giải pháp kỹ thuật cho bài toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: Tổng quan về tế bào da người

1.1. Lớp thượng bì (Epidemis)

1.2. Tổng quan về Tyrosinase

1.2.1. Các dạng oxy hóa của Tyrosinase

1.2.2. Trung tâm hoạt động của Tyrosinase

1.3. Nấm linh chi

1.3.1. Phân loại khoa học

1.3.2. Đặc điểm sinh học

1.3.3. Một số loại nấm linh chi Việt Nam

1.3.4. Thành phần hóa học

1.3.5. Nghiên cứu dược học

1.3.6. Định hướng nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU – HÓA CHẤT – THIẾT BỊ - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu, hóa chất, thiết bị

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Thuyết minh quy trình

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Điều chế cao trích

2.6. Sàng lọc hoạt tính kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase

2.7. Khảo sát thành phần hóa học

2.8. Nghiên cứu khả năng ức chế melannin và tyrosinase nội bào

2.9. Thử độc tính tế bào

2.10. Đánh giá tyrosinase nội bào và melanin nội bào

2.11. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Điều chế cao trích

3.2. Hiệu suất thu hồi cao trích (Phụ lục 1)

3.3. Độ ẩm cao trích (Phụ lục 2)

3.4. Sàng lọc khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase

3.5. Xác định tổng hàm lượng polyphenol (Phụ lục 3)

3.6. Xác định hoạt tính ức chế gốc tự do DPPH (Phụ lục 4)

3.7. Năng lực khử Fe3+ (Phụ lục 5)

3.8. Khả năng ức chế enzyme tyrosinase (Phụ lục 6)

3.9. Mối tương quan giữa tổng hàm lượng polyphenol với khả năng ức chế gốc tự do (DPPH), khả năng khử Fe3+ và khả năng ức chế enzyme tyrosinase (Phụ lục 7)

3.10. Bàn luận và lựa chọn mẫu tối ưu

3.11. Phân tích thành phần hóa học (Phụ lục 8)

3.12. Nghiên cứu khả năng ức chế melanin và tyrosinase nội bào

3.13. Thử độc tính tế bào (Phụ lục 9)

3.14. Đánh giá khả năng ức chế tyrosinase nội bào (Phụ lục 10)

3.15. Đánh giá khả năng ức chế melanin nội bào (Phụ lục 11)

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nấm linh chi đỏ Ganoderma lucidum

Nấm linh chi đỏ Ganoderma lucidum được biết đến như một loại nấm dược liệu quý giá trong y học cổ truyền. Nấm này chứa nhiều thành phần hoạt tính sinh học, bao gồm polysaccharidetriterpenoid, có khả năng kháng oxy hóa mạnh mẽ. Nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất này không chỉ giúp tăng cường sức khỏe mà còn có tác dụng tích cực trong việc chăm sóc da. Đặc biệt, Ganoderma lucidum đã được chứng minh có khả năng ức chế hoạt động của enzyme tyrosinase, enzyme chính trong quá trình tổng hợp melanin, từ đó giúp làm sáng da và ngăn ngừa sự hình thành nám. Theo một nghiên cứu gần đây, nấm linh chi đỏ có thể trở thành một nguồn nguyên liệu tự nhiên an toàn cho các sản phẩm mỹ phẩm.

II. Khả năng kháng oxy hóa của nấm linh chi đỏ

Khả năng kháng oxy hóa của nấm linh chi đỏ Ganoderma lucidum đã được nghiên cứu rộng rãi. Các nghiên cứu cho thấy rằng chiết xuất từ nấm này có thể ức chế gốc tự do, nhờ vào hàm lượng cao của các hợp chất phenolic và polysaccharide. Hoạt tính kháng oxy hóa được đánh giá thông qua các phương pháp như xác định tổng hàm lượng polyphenol và khả năng ức chế gốc tự do DPPH. Kết quả cho thấy mẫu cao trích từ nấm linh chi đỏ có khả năng kháng oxy hóa vượt trội, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong việc bảo vệ tế bào da khỏi tổn thương do oxy hóa. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc phát triển các sản phẩm chăm sóc da tự nhiên, an toàn và hiệu quả.

III. Ức chế enzyme tyrosinase và hình thành melanin

Enzyme tyrosinase đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp melanin, và việc ức chế enzyme này có thể giúp giảm thiểu sự hình thành sắc tố trên da. Nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ nấm linh chi đỏ có khả năng ức chế hoạt động của tyrosinase, từ đó làm giảm sản xuất melanin. Kết quả thử nghiệm cho thấy mẫu cao E-HQ từ nấm linh chi đỏ có khả năng ức chế enzyme này ở nồng độ 40µg/ml, với tỷ lệ ức chế lên đến 21,93%. So với các chất đối chứng như arbutin, hoạt tính ức chế của mẫu E-HQ không có sự khác biệt đáng kể, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong ngành mỹ phẩm. Việc sử dụng nấm linh chi đỏ như một thành phần trong sản phẩm làm đẹp có thể mang lại hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

IV. Đánh giá độc tính tế bào

Đánh giá độc tính tế bào là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu dược phẩm và mỹ phẩm. Nghiên cứu cho thấy cao E-HQ từ nấm linh chi đỏ không gây độc tính đáng kể ở nồng độ 40µg/ml, với tỷ lệ sống sót của tế bào lên đến 95,08%. Điều này cho thấy rằng nấm linh chi đỏ không chỉ có khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase, mà còn an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Việc phát triển các sản phẩm từ nấm linh chi đỏ có thể giúp cung cấp giải pháp tự nhiên cho việc chăm sóc da mà không gây hại cho sức khỏe. Điều này mở ra cơ hội cho các nhà nghiên cứu và sản xuất trong việc phát triển các sản phẩm mỹ phẩm an toàn và hiệu quả hơn.

V. Ứng dụng trong ngành mỹ phẩm

Nghiên cứu về khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase của nấm linh chi đỏ Ganoderma lucidum đã chỉ ra tiềm năng lớn trong ngành mỹ phẩm. Các sản phẩm chiết xuất từ nấm này có thể được sử dụng để phát triển các sản phẩm làm sáng da, ngăn ngừa nám và tàn nhang. Việc sử dụng các hợp chất tự nhiên từ nấm linh chi đỏ không chỉ mang lại hiệu quả cao mà còn đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Xu hướng hiện nay đang chuyển dịch sang việc sử dụng các thành phần tự nhiên trong mỹ phẩm, và nấm linh chi đỏ chính là một lựa chọn lý tưởng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo mà còn mở ra hướng đi mới cho ngành công nghiệp mỹ phẩm.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tổng quan về tế bào da người Hình 1. Cấu tạo da người Da chiếm diện tích lớn nhất trên cơ thể người và bảo vệ chúng ta khỏi vi khuẩn và các yếu tố môi trường, giúp điều chỉnh nhiệt độ cơ thể và cho phép cảm nhận nóng, lạnh. Da gồm có ba lớp (Chaurasia, 2004): Lớp thượng bì (Epidemis): lớp ngoài cùng của da có chức năng cung cấp một hàng rào chống thấm nước và tạo ra màu da của chúng ta.

Lớp nội biểu bì (Dermis): bên dưới lớp biểu bì, chứa mô liên kết cứng, nang lông và tuyến mồ hôi. Lớp hạ bì (Hypodemis): Các mô dưới da được cấu thành từ chất béo và mô liên kết. Lớp thượng bì (Epidemis) Thượng bì là lớp ngoài cùng của da có thể chạm và cảm nhận được, gồm chủ yếu là các tế bào biểu mô sừng (Keratinocyte) chiếm tới 95%, ngoài ra còn có tế bào hắc tố (Melanoma), tế bào thần kinh (Merkel) và tế bào Langerhans. Thượng bì vừa có tác dụng bảo vệ da vừa có khả năng giữ các chất lỏng cần thiết cho cơ thể, bao gồm 4 lớp tế bào chính (tính từ ngoài vào trong): lớp tế bào sừng, lớp tế bào hạt, lớp tế bào gai, lớp tế bào đáy.

Riêng ở lòng bàn tay và bàn chân có thêm 1 lớp bóng, nằm xen kẽ giữa lớp sừng và lớp hạt (tức là do an có 5 lớp). Thượng bì có độ dày 0,4 – 1,5 mm tùy theo từng vị trí trên cơ thể (Monteiro- Riviere, 2010). Lớp tế bào đáy (Stratum basale) Lớp này còn gọi là lớp tế bào cơ bản (Basal cells), đó là lớp sâu nhất của thượng bì, gồm những tế bào hình trụ, nhân có trục dài, thẳng đứng. Nguyên sinh chất ưa kiềm chứa các hạt sắc tố melanin.

Đây cũng là nơi sản sinh ra các tế bào keratinocyte với chức năng chính là chống lại tia UV, hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh, nấm, kí sinh trùng và giữ nước cho cơ thể. Mặt khác, các tế bào đáy có khả năng sản sinh rất mạnh để sản xuất ra các tế bào mới thay thế các tế bào cũ đã biệt hóa. Thời gian để cho một tế bào đáy phân chia, biệt hóa và di chuyển tới lớp sừng khoảng 14 ngày và cho đến khi hình thành vảy da và bong ra ở lớp sừng thì cần khoảng 14 ngày nữa. Như vậy khả năng tái tạo của lớp thượng bì khoảng 4 tuần (Montagna, 2012).

Lớp tế bào gai (Stratum spinosum) Các tế bào lớp gai bao gồm 5-10 hàng tế bào hình đa diện. Các tế bào này không nối hẳn với nhau mà chỉ tiếp xúc bằng các thể nối (desmosome) có bản chất là phospholipid. Khi tách các tế bào gai rời nhau ra thì thấy trên bề mặt có những chỗ nhú lên như những cái gai. Tương tự như các tế bào lớp đáy thì các tế bào gai cũng có khả năng sản sinh tế bào rất nhanh và liên tục.

Chính vì vậy, khoảng từ 20-27 ngày biểu bì của da người lại được đổi mới một lần. Lớp tế bào hạt (Stratum granulosum) Lớp này bao gồm có 3 – 4 hàng tế bào dẹt nằm trên lớp tế bào gai. Tại đây các tế bào sản sinh ra các hạt nhỏ và di chuyển lên lớp sừng để hình thành chất sừng và lipid biểu bì. Ngoài ra, bào tương của các tế bào hạt chứa rất nhiều hạt keratohyalin mà thành phần chủ yếu là tiền chất Filaggrin và các lá keratin trung gian.

Sự xuất hiện của các hạt này chứng tỏ quá trình sừng hóa đang diễn ra (Walters, 2002). Lớp tế bào sáng (Stratum lucidum) Lớp này chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân và nằm ở trên lớp hạt bao gồm những tế bào trong, không có nhân, dẹt, sắp xếp thành 2 - 3 hàng. Các tế bào này thường bằng phẳng và khó có thể phân biệt. Lớp tế bào sừng (Stratum corneum) Lớp tế bào sừng là lớp ngoài cùng của da với trung bình khoảng 20 lớp và là nơi chứa các tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn.

Đây cũng là những tế bào có kích thước lớn nhất ở lớp 2 do an thượng bì. Thành phần chủ yếu là chất sừng (keratin). Các tế bào ở lớp sừng gắn kết với nhau nhờ chất gian bào tạo thành một khối vững chắc để chống lại các tác động từ bên ngoài. Do các sợi thần kinh chỉ phân nhánh đến lớp đáy của da nên thượng bì không có mạch máu và chỉ được nuôi dưỡng bởi dịch gian bào (Monteiro-Riviere, 2010).

Lớp nội bì (trung bì) (Dermis) Lớp nội bì hay còn gọi là trung bì là lớp nằm dưới thượng bì và là vùng dày nhất của da, tuy nhiên độ dày cũng khác nhau tùy từng vùng của cơ thể từ 0,1 mm đến vài mm. Lớp nội bì bao gồm có các biểu mô liên kết để giữ hạ thượng bì và lớp hạ bì. Trung bì và thượng bì ngăn cách nhau bởi màng đáy (hay còn gọi là màng cơ bản), màng đáy dày chừng 0,5 mm. Mặt khác, dịch trong lớp nội bì sẽ là chất nuôi dưỡng thượng bì bằng cách vận chuyển qua màng đáy.

Ranh giới giữa thượng bì và trung bì không phải là một đường thẳng mà là đường lượn sóng, phần sóng nhô lên phía trên là gai bì (còn gọi là trung bì nông), phần sóng lượn xuống dưới giữa 2 gai bì gọi là mào liên gai (Parker, 1974). Màu da được tạo ra bởi các tế bào đặc biệt nằm trong lớp biểu bì gọi là melanocyte. Các tế bào này sẽ sản sinh ra sắc tố melanin dưới sự hoạt động của enzyme tyrosinase. Các nghiên cứu hiện nay đều hướng tới các phương pháp ức chế tyrosinase để ức chế sự hình thành melanin trên da hay còn gọi là nám da.

Tổng quan về Tyrosinase 1. Các dạng oxy hóa của Tyrosinase 3 do an Tyrosinase hay còn gọi là enzyme polyphenol oxidase (PPO), là một enzyme monooxygenase kiểm soát việc sản xuất melanin. Enzyme chủ yếu tham gia vào hai phản ứng khác nhau của quá trình tổng hợp melanin: một là hydroxyl hóa monophenol thành o- diphenol và hai là oxi hóa o-diphenol thành o-quinone tương ứng. Sau đó, o-quinone trải qua một số phản ứng để cuối cùng tạo thành melanin (Kumar CM, 2011).

Tyrosinase là một enzyme chứa đồng có trong các mô thực vật và động vật xúc tác cho việc sản xuất melanin và các sắc tố khác thông qua quá trình oxy hóa từ các amino acid tyrosine. PPO được tìm thấy bên trong melanosome được tổng hợp trong các tế bào melanocyte. Enzyme tyrosinase có mặt trong các loại nấm, động vật và thực vật, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành sắc tố. Enzyme tyrosinase có thể tồn tại ở 3 dạng là: oxy, deoxy, met-tyrosinase được biểu diễn qua sơ đồ trong Hình 1.

Cả dạng met-tyrosinase và dạng oxy-tyrosinase đều có khả năng oxy hóa o-diphenol thành các o-quinone (diphenolase), trong khi chỉ có dạng oxy-tyrosinase mới có thể hydroxyl hóa monophenol thành o-diphenol (monophenolase). Dạng deoxy-tyrosinase là dạng yếu, không ổn định, phản ứng với oxy để tạo thành dạng oxy- tyrosinase. Trung tâm hoạt động của Tyrosinase 4 do an Trung tâm hoạt động của tyrosinase gồm có túi enzyme và 2 nguyên tử đồng nằm ở đáy túi, đóng vai trò quan trọng trong cơ chế xúc tác của enzyme. Mỗi nguyên tử đồng tạo liên kết phối trí với 3 phân tử histamin.

Miệng túi được hình thành từ các chuỗi acid amin như Val283, Phel264, His244, Val248, Asn260… (Hình 1. Melanogenesis Melanogenesis là quá trình sản xuất các sắc tố melanin và thường được sản xuất bởi các tế bào melanocyte (Bonaventure, 2013). Melanin là một loại polymer được sản xuất tự nhiên ở vô số vị trí trong cơ thể đặc biệt là mắt, tai, não, tóc và da. Có ba dạng melanin chính ở người: eumelanin, pheomelanin và neuromelanin.

Trong đó, neuromelanin nằm trong não, eumelanin và pheomelanin được tìm thấy trong da. Eumelanin và pheomelanin là các sắc tố chính chịu trách nhiệm cho các tông màu da khác nhau. Eumelanin là sắc tố màu nâu đen, trong khi pheomelanin là sắc tố màu vàng đỏ. Màu da bị ảnh hưởng bởi nền tảng di truyền cũng như các yếu tố môi trường (tia cực tím và ánh sáng nhìn thấy) và sẽ thay đổi theo tỷ lệ của eumelanin với pheomelanin.

Nếu lượng eumelanin cao sẽ khiến da có tông màu tối hơn, lượng pheomelanin cao giúp màu da sáng hơn và đều màu hơn (Yamaguchi, 2007). Cấu trúc hóa học của eumelanin (A) và pheomelanin (B) 5 do an 1. Quá trình sản xuất melanin (melanogenesis) Hình 1. Quá trình sản xuất melanin Hình 1.

cho thấy eumelanin và pheomelanin được tổng hợp trong melanosome của tế bào melanocyte thông qua chuỗi các phản ứng được xúc tác bởi các melanogenic enzyme (PAH, TRYP1, TPYP2) (màu đen). Việc sản xuất các enzyme này được thúc đẩy bởi yếu tố phiên mã liên quan đến microphthalmia (MITF) có hoạt động như một chất điều chỉnh tổng hợp melanin trong melanocyte. Bản thân MITF cũng được điều chỉnh bởi một số con đường truyền tín hiệu bao gồm Protein kinase C (PKC) (màu xám), Cyclic adenosine monophosphate (cAMP) (màu xanh), MAP Kinase (MEK) (màu tím) và Wingless – related integration site (WNT) (màu cam). Các đường dẫn tín hiệu này được kích hoạt ngược dòng bởi các thụ thể như KIT (Phối tử: Stem cell factor (SCF)) và Melanocyte – specific melanocortin – 1 receptor (MC1R) (Phối tử: α – melanocyte – stimulating hormone (α- MSH), Adrenocorticotropic hormone (ACTH) và Agonist stimulating protein (ASP)).

MITF còn thúc đẩy sự biểu hiện của một số gen bao gồm SOX10 và PAX3 (D’Mello, 2016). Quá trình hình thành melanin bắt đầu với enzyme tyrosinase (TYR). TYR hydroxyl hóa amino acid tyrosine thành L-3,4-dihydroxyphenylalanine (DOPA) và sau đó DOPA nhanh chóng bị oxy hóa thành DOPA quinone. Khi có mặt của cysteine và glutathione, cysteinyl - DOPA được hình thành sẽ bị oxy hóa và trùng hợp thành pheomelanin (melanin hòa tan màu vàng đỏ).

Còn khi không có cysteine và glutathione, DOPA quinone đóng vòng 6 do an thành DOPA chrome. Có hai con đường mà DOPA chrome có thể tham gia để hình thành melanin, một là chuyển hóa thành 5,6-dihydroxyindole (DHI) và sau đó DHI sẽ bị oxy hóa thành DHI-melanin có màu nâu đen; hai là DOPA chrome biến đổi thành axit DHI-2- carboxylic (DHICA) do DOPAchrome tautomerase (TYRP2) xúc tác, sau đó TYRP1 xúc tác DHICA để tạo thành DHICA-melanin màu nâu nhạt (Thanh, 2015). Cả DHICA-melanin và DHI-melanin đều thuộc về eumelanin, loại này đóng vai trò quan trọng hơn trong màu da và tạo sự đa dạng về màu da giữa các nhóm dân tộc (Wang, 2017). Các phương pháp ức chế sự hình thành melanin Việc kiểm soát nám da vẫn là một vấn đề thách thức đối với các bác sĩ da liễu, vì có rất nhiều phương pháp trị liệu khác nhau nhưng không mang lại hiệu quả cao.

Hiện nay, khi nghiên cứu các phương pháp để ức chế melanin thì người ta tập trung chủ yếu vào việc ức chế họat động của enzyme tyrosinase và các melanogic enzyme.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase của nấm linh chi đỏ Ganoderma lucidum" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc tính sinh học của nấm linh chi đỏ, đặc biệt là khả năng kháng oxy hóa và tác dụng ức chế enzyme tyrosinase, một yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành melanin. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật tiềm năng của nấm linh chi trong việc hỗ trợ sức khỏe và làm đẹp, mà còn mở ra hướng đi mới cho các sản phẩm chăm sóc sức khỏe tự nhiên. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách nấm linh chi có thể được ứng dụng trong các lĩnh vực như dược phẩm và mỹ phẩm.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến các hợp chất tự nhiên và tác dụng của chúng, hãy tham khảo bài viết "Nghiên cứu thành phần hóa học và đánh giá tác dụng kháng ung thư của thân lá cây củ dòm stephania dielsiana". Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu tác dụng chống lão hóa của lãnh công fissistigma oldhamii" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các tác dụng chống lão hóa của các loại thảo dược khác. Cuối cùng, bạn có thể khám phá bài viết "Nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng mangiferin trong cây tri mẫu bằng phương pháp hplc" để hiểu rõ hơn về quy trình chiết xuất và định lượng các hợp chất có lợi từ thực vật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực nghiên cứu dược liệu.