CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT 1. Vị trí phân loại Loài củ dòm có tên khoa học là Stephania dielsiana Y. Wu, ngoài ra còn có các tên gọi khác như bình vôi nhựa tím, củ tòm, củ gà ấp [1], [2].
Theo hệ thống phân loại của Takhtajan năm 1996 [25], chi Stephania Lour. có vị trí phân loại như sau: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), Phân lớp Hoàng liên (Ranunculidae), Bộ Hoàng liên (Ranunculales), Họ Tiết dê (Menispermaceae) Chi Stephania Lour. Đặc điểm thực vật loài củ dòm Dây leo nhỏ, yếu, sống nhiều năm. Rễ củ to.
Thân leo cuốn dài khoảng 3 m. Thân non màu tím hồng nhạt. Cành non màu nâu nhạt, khi già chuyển màu nâu xám. Toàn cây không lông, có nhựa màu đỏ.
Củ dạng thay đổi, vỏ xù xì có những nốt sần dọc dài, màu nâu xám, nâu nhạt hay màu đất, ruột củ màu hồng, lát cắt có nhiều xơ [26]. Lá đơn màu xanh, mép nguyên, mọc so le, có cuống dài 4,5-8,5 cm. Phiến lá hình tam giác tròn, 9-13 x 8-13,5 cm. Mép lá hơi lượn sóng có răng tù rất thưa ở ngọn; ngọn lá nhọn; gốc bằng hoặc hơi lõm; gân chính xếp chân vịt, xuất phát từ chỗ đính của cuống lá.
Gân 9-12 chiếc, tỏa tròn xuất phất từ đỉnh của cuống lá. Cuống lá đính vào 1/5 đến 1/3 phiến lá tính từ gốc [26]. Ngọn non, cuống lá và cuống cụm hoa có màu tím hồng [1]. Hoa đơn tính khác gốc.
Cụm hoa đực xim tán kép, cuống cụm hoa dài 1,3- 2 cm, gồm 8-12 tán kép, ở gốc tán có lá bắc nhỏ dài 0,8-1,2 cm, mỏng, màu vàng xanh, hình mác đầu nhọn, mép lá màu vàng nhạt có răng cưa, mỗi tán lại gồm 7- 11 tán nhỏ, cuống tán rất ngắn. Hoa đực nhỏ, lá đài 6, rời, xếp thành 2 vòng 3, kích thước đều nhau, hình tim, đỉnh nhọn, sống giữa cánh đài có gân màu xanh nâu, có các gân nhỏ màu nâu từ sống giữa tỏa ra 2 bên, mép bên cụp vào trong; 3 luan an cánh hoa 3, rời, đều nhau, xếp xen kẽ lá đài, hình trứng ngược, màu đỏ cam, có các vân màu nâu, dày, nạc, mép cuốn vào bên trong; bộ nhị 6, chỉ nhị dính liền nhau, bao phấn 6, xếp thành vòng tròn trên 1 mặt phẳng [26]. Cột nhị ngắn, bao phấn 6, dính thành đĩa 6 ô [27]. Cụm hoa cái xim tán kép gần dạng đầu, 7-8 đầu nhỏ, cuống rất ngắn [2].
Hoa cái nhỏ, đài 1, màu vàng xanh đậm dần về phía gốc, có các vân màu đỏ, hình mác rộng nhọn đầu, mép dưới cuốn vào trong; cánh hoa 2, rời xếp lệch về 1 phía, màu vàng nhạt, hình trứng ngược, dày, nạc, dài 0,6-1 mm. Bầu hình trứng ngược, cuống ngắn, núm nhụy chia 5 thùy. Quả hình trứng ngược, dài 0,8-1,2cm, khi chín có màu đỏ tươi. Hạt hình móng ngựa (kích thước 6-8mm, 3-5mm) có lỗ nhỏ ở giữa hình trái xoan, trên lưng có 4 hàng gai, mỗi hàng có 13-17 gai.
Ra hoa vào tháng 3, có quả vào tháng 5 [26]. Một số đặc điểm hình thái của củ dòm được trình bày trong hình 1. Cành mang hoa quả, 2. Hình ảnh của loài S.
Phân bố của loài củ dòm Chi Stephania Lour. có khoảng 107 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới các nước châu Á như: Trung Quốc (43 loài), Thái Lan (18 loài), Indonesia (17 loài), Việt Nam (23 loài), các nước châu Phi (12 loài), Malaysia (11 loài), Ấn Độ (11 loài), Philippin (8 loài), Papua New Guinea (8 loài), Australia (7 loài), Myanma (5 loài), Đài Loan (5 loài), khu vực Hymalaya (3 loài), Campuchia (3 loài), Nhật Bản (2 loài), Sri Lanka (2 loài), Lào (2 loài), Đông 4 luan an Timor (1 loài), Quần đảo Solomon (1 loài), Banglades (1 loài), Nepal (1 loài)… [29], [30], [31], [32], [33], [34], [35], [36]. Củ Thân và lá Cụm hoa đực Cụm hoa cái Quả xanh Hạt Hình 1. Một số đặc điểm hình thái loài Stephania dielsiana Y.
Wu [26] 5 luan an Ở Việt Nam, theo các tài liệu tham khảo, chi Stephania Lour. có 23 loài, các loài bình vôi thường mọc hoang từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng, ven biển, có loài mọc ngay trên bãi cát hoặc gò hoang vùng ven biển (S. Chúng phân bố rộng khắp trên cả 3 miền, từ miền Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây, Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Giang, Sơn La, Nam Định, Ninh Bình) đến miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Phú Yên) và miền Nam (An Giang, Đồng Nai, Sông Bé, Bà Rịa-Vũng Tàu). dielsiana) phân bố tương đối hẹp ở Việt Nam, chủ yếu gặp ở các tỉnh miền Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Nội (Hà Tây cũ), Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh [2], [27], [28], [37], [38], [39], [40].
Tóm lại, củ dòm là một loài bình vôi có nhựa đỏ thuộc chi Stephania Lour. phân bố tương đối hẹp ở miền bắc Việt Nam và một số tỉnh phía nam Trung Quốc, hiện đang được xếp vào danh mục VU (sắp nguy cấp) trong Sách đỏ Việt Nam. Cần tiếp tục các nghiên cứu sâu hơn để vừa đảm bảo bảo tồn cây thuốc, vừa phát hiện và chứng minh được tác dụng của các thành phần có hoạt tính sinh học trong cây củ dòm. THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CÂY CỦ DÒM 1.
Alcaloid Alcaloid là thành phần chính trong củ và thân lá của cây củ dòm (Stephania dielsiana Y. Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã chiết xuất phân lập được từ loài S. dielsiana 27 alcaloid trong đó chiếm tỷ lệ lớn chất là các alcaloid nhóm aporphin (20/27), ngoài ra còn có các alcaloid nhóm morphinan, protoberberin và benzylisoquinolin (hình 1. Năm 2009, Zhang Yi và cộng sự đã phân lập và nhận dạng được 12 alcaloid từ loài Stephania dielsiana Y.Wu là sinoacutin (1), stephanin (2), ayuthianin (3), dehydrostephanin (4), cephamorphinanin (5), aknadinin (6), liriodenin (7), sinomenin (8), L-tetrahydropalmatin (9), (-) corydalmin (10), oxocrebanin (11), nor-canelillin (12) [3].
6 luan an CH3 2 O 3 1 H 3CO 4 11 10 HO 12 15 16 HO HO 13 9 17 14 N 5 CH 3 NH N-CH3 6 H 3C 7 8 O HO OCH 3 O OCH3 O OH OCH 3 1 5 6 3 4 O 2 3a 5 O 12 O 6a N N 1 1a 1b CH3 O CH3 11a R4 7 11 7a OH 2 , R 1 = OCH 3 , R 2 = R3 = R 4 = H R1 13, R 1 = R 2 = OCH 3 , R 3 = R4 = H 10 8 R3 9 R1 15, R 1 = OCH 3, R2 = OH, R3 = R 4 = H R2 R2 16 , R 1 = R 3 = R 4 = H, R 2 = OCH 3 3 , R 1 = OCH3 , R2 = H 20, R 1 = R 4 = OCH 3 , R 2 = R3 = H 22, R1 = R 2 = OCH3 O O N O N O CH3 R4 R4 R5 O R3 R1 R3 R1 R2 R2 4, R1 = OCH 3 , R 2 = R 3 = R 4 = R 5 = H 14, R 1 = R2 = OCH 3, R 3 = R 4 = R5 = H 7, R1 = R 2 = R3 = R 4 = H 19, R 1 = OH, R 2 = OCH3 , R 3 = R4 = R 5 = H 11 , R 1 = R2 = OCH 3, R3 = R 4 = H 21 , R 1 = R3 = R 4 = R5 = H, R 2 = OCH3 17, R 1 = R3 = R 3 = H, R4 = OCH 3 24, R 1 = R2 = R 3 = R4 = R 5 = H H 3CO O O O O HO N N-CH3 N O O HO OCH 3 8 O 9 O 10 HO O O O NH O N N H 3CO CH3 O CH3 OH H3 CO 12 H3 CO 18 OCH 3 25 OCH 3 Hình 1. Cấu trúc các alcaloid phân lập được từ loài củ dòm 10 luan an OCH 3 O OCH 3 + O N CH3 N O H 3CO + OCH 3 Cl- OCH 3 26 27 Hình 1. Cấu trúc các alcaloid phân lập được từ loài củ dòm (tiếp) Năm 2011, Yecheng Deng và cộng sự đã phân lập được hai alcaloid từ loài Stephania dielsiana Y.Wu là stephanin (2) và crebanin (13) [5]. Năm 2018, De-Xiong Zhou và cộng sự đã phân lập được 17 alcaloid nhóm aporphin bao gồm stephanin (2), ayuthianin (3), dehydrostephanin (4), liriodenin (7), oxocrebanin (11), crebanin (13), dehydrocrebanin (14), stesakin (15), isolaurelin (16), oxoputerin (17), (+)-O-methylbulbocapnin (18), 8- demethyldehydrocrebanin (19), vireakin (20), dehydroisolaurelin (21), sukhodianin (22), crebanin N-oxid (23), và dehydroroemerin (24) [4].
Các nghiên cứu của Đào Đức Thiện và cộng sự năm 2018 [41], của J. Knockleby và cộng sự năm 2020 [42] đều sử dụng nguyên liệu là thân lá loài S. dielsiana thu hái ở Việt Nam và đều phân lập được 7 alcaloid là stephanin (2), tetrahydropalmatin (9), crebanin (13), O-methylbulbocapnin (18), oxostephanin (25), palmatin (26) và thailandin (27). Ở Việt Nam, năm 2009, Phạm Thanh Kỳ, Nguyễn Quốc Huy đã phân lập và nhận dạng được ba alcaloid từ củ của loài củ dòm là: L-tetrahydropalmatin (9), dehydrocrebanin (14) và oxostephanin (25) [8].
Từ thân lá củ dòm, nghiên cứu của Nguyễn Quốc Huy, Phạm Thanh Kỳ đã phân lập và xác định cấu trúc của oxostephanin (25) [9]; Nguyễn Vũ Minh và cộng sự đã phân lập và xác định cấu trúc của thailandin (27) [10]. Các nhóm hợp chất khác Năm 2009, Zhang Yi và cộng sự đã phân lập và nhận dạng được bốn lignan gồm gomisin A (28), gomisin B (29), schisandrin C (30), 6-O-benzoyl-gomisin (31), một oligopeptid asterinin B (32) và một sterol β-sitosterol (33) từ rễ loài S. 11 luan an Năm 2018, Yan Liang và cộng sự đã phân lập được 2 flavonoid là rutin (34), quercetin (35) và các sterol là β-sitosterol (33), stigmasterol (36) và α- spinasterol (37) từ phân đoạn không alcaloid của cây củ dòm [6]. Cấu trúc của các hợp chất khác phân lập từ củ dòm được trình bày trong hình 1.