ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, các thuốc chống ung thư mới ra đời hầu hết đều bắt nguồn từ mục tiêu phân tử (đích tác dụng) nhằm tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu độc tính so với các phương pháp cổ điển như hóa trị hay xạ trị. Một số đích tác dụng phổ biến có thể kể đến như protein kinase, protein gây ung thư ALK, PARP, Bcl-2,…trong đó đích histon deacetylase (HDAC) đã và đang mở ra nhiều triển vọng [1]. Có rất nhiều chất ức chế HDAC đã được tổng hợp và đánh giá hoạt tính, trong đó có nhóm các dẫn chất của acid hydroxamic [2]. Sau SAHA, đã có thêm các chất thuộc nhóm acid hydroxamic, chẳng hạn Belinostat (Beleodaq®) và gần đây nhất là panobinostat (Farydax®) cũng được FDA cấp phép sử dụng trong điều trị một số bệnh ung thư [4, 5].
Ngoài ra, các chất mang bộ khung benzimidazol với hoạt tính kháng ung thư cũng đã được báo cáo trong nhiều nghiên cứu [6-8]. Trong số đó phải kể đến chất ức chế HDAC là pracinostat vừa mang khung benzimidazol, vừa có nhóm acid hydroxamic trong cấu tạo phân tử và đã được thử nghiệm lâm sàng pha II [9]. Như vậy, có thể thấy rằng các dẫn chất của acid hydroxamic (trong đó có nhóm các dẫn chất N-hydroxyheptanamid) và benzimidazol nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà hoá dược. Một ví dụ điển hình là minomustin với cấu trúc lai hoá giữa N-hydroxyheptanamid và khung benzimidazol, đang được thử nghiệm lâm sàng pha I [10].
Từ những nghiên cứu về các chất ức chế HDAC tại Việt Nam và trên thế giới, đề tài luận văn “Tổng hợp và đánh giá tác dụng kháng ung thư của một số dẫn chất N- hydroxyheptanamid mới mang khung benzimidazol hướng ức chế histon deacetylase” được thực hiện với hai mục tiêu: 1. Tổng hợp được 10 dẫn chất N-hydroxyheptanamid mới mang khung benzimidazol. Đánh giá hoạt tính gây độc trên một số dòng tế bào của các dẫn chất N- hydroxyheptanamid tổng hợp được. Giới thiệu về histon deacetylase Năm 1964, các nhà khoa học Allfrey, Faulkner và Mirsky đã phát hiện ra sự acetyl hóa thuận nghịch của protein histon và đề xuất rằng quá trình biến đổi này có thể điều hoà biểu hiện gen [11].
Nhiều đặc tính của protein được điều chỉnh thông qua quá trình acetyl hóa lysin, bao gồm tương tác ADN-protein, hoạt động phiên mã, tính ổn định và tham gia vào các con đường truyền tín hiệu [12-14]. Vai trò của HAT và HDAC Các histon acetyltransferase (HAT) là họ enzym đóng vai trò acetyl hóa nhóm ε-amino của lysin trên histon (Hình 1.1), do đó trung hòa điện tích dương của chúng và làm mất khả năng liên kết với ADN tích điện âm [15]. Điều này khiến nhiễm sắc thể tháo xoắn dễ dàng và thuận lợi hơn cho quá trình phiên mã. Đến thời điểm hiện tại, đã có 18 loại HDAC trên cơ thể người được xác định, chia làm 4 nhóm căn cứ vào sự tương đồng của chúng với HDAC ở nấm men [17-19]: - Nhóm I: bao gồm HDAC1, HDAC2, HDAC3, HDAC8.
Cấu trúc của chúng có sự tương đồng rất cao với HDAC Rpd3 của nấm men. - Nhóm II: cấu trúc tương tự với HDA1 của nấm men và được chia thành hai phân nhóm nhỏ hơn: + Phân nhóm IIa: bao gồm HDAC4, HDAC5, HDAC7, HDAC9. + Phân nhóm IIb: bao gồm HDAC6, HDAC10. - Nhóm III: có cấu trúc tương đồng với Sir2 của nấm men, còn được gọi là các sirtuin.
Nhóm này bao gồm các sirtuin 1-7. - Nhóm IV: chỉ có duy nhất một đại diện là HDAC11. Cấu trúc tương tự với Hos3 của nấm men. Nếu căn cứ vào cơ chế xúc tác cho phản ứng deacetyl hoá, các HDAC có thể được chia (Bảng 1.1) thành 2 phân nhóm lớn [17]: + Phân nhóm phụ thuộc ion Zn2+ + Phân nhóm phụ thuộc NAD+ Bảng 1.
Các phân nhóm HDAC theo cơ chế xúc tác Phụ thuộc Zn2+ Phụ thuộc NAD+ Nhóm I Nhóm IIa Nhóm IIb Nhóm IV Nhóm III HDAC 1 HDAC 4 HDAC 6 HDAC 11 Sirt 1 HDAC 2 HDAC 5 HDAC 10 Sirt 2 HDAC 3 HDAC 7 Sirt 3 HDAC 8 HDAC 9 Sirt 4 Sirt 5 Sirt 6 Sirt 7 3 1. Histon deacetylase và vai trò của chúng trong bệnh ung thư Về bản chất, sự cuộn và tháo xoắn của chromatin là một quá trình thuận nghịch. Quá trình acetyl hóa đuôi lysin là một cơ chế có ý nghĩa quan trọng trong sự giãn cấu trúc ADN và phiên mã gen. Trong các tế bào ung thư, sự mất cân bằng giữa HAT và HDAC gây ra những thay đổi trong cấu trúc chromatin và làm thay đổi biểu hiện của các gen cơ bản trong chu kỳ tế bào, sự biệt hóa và quá trình chết theo chương trình (apoptosis).
Chẳng hạn, trong các tế bào mà histon bị acetyl hóa quá mức, do ức chế HDAC, chất nhiễm sắc ít bị nén hơn và thuận lợi cho việc tăng khả năng tiếp cận của các yếu tố phiên mã đến các vùng khởi động trình tự ADN, làm tăng biểu hiện của nhiều gen, có thể bao gồm gen gây ung thư, dẫn đến phát sinh khối u [20]. Mặt khác, trong các tế bào bị giảm acetyl hóa, do sự huy động quá mức HDAC, có hiện tượng gia tăng quá trình tăng sinh tế bào thông qua các protein ảnh hưởng đến chu kỳ tế bào. Một cơ chế có thể làm thay đổi quá trình kiểm soát chu kỳ tế bào trong các tế bào có biểu hiện quá mức HDAC, là thông qua sự ức chế protein p21 bởi HDAC, bắt giữ chu kỳ tế bào ở pha G1-S [21]. HDAC cũng đã được tìm thấy trong quá trình loại bỏ các nhóm acyl khỏi các protein không phải histon khác, như các yếu tố phiên mã và các protein điều hòa quan trọng của quá trình tăng sinh, biệt hóa và chết theo chương trình của tế bào [20].
Hơn nữa, sự biểu hiện quá mức HDAC trong các tế bào ung thư có liên quan đến việc tăng cường macropinocytosis (đại ẩm bào), sự di chuyển của tế bào và khả năng di căn của khối u [22]. HDAC cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc kháng hóa trị. Một giả thuyết có thể giải thích cho phát hiện này là dựa vào những thay đổi trên cấu trúc chromatin. Việc thay đổi trạng thái cuộn của chromatin có thể ngăn các thuốc hướng đích ADN tấn công vào mục tiêu phân tử của chúng, giảm mức độ tổn thương ADN và cải thiện khả năng sống sót của tế bào [23].
Cấu trúc trung tâm hoạt động enzym histon deacetylase Bằng phương pháp kết tinh tạo tinh thể và chụp tia X, các nhà khoa học đã xác định được cấu trúc 3D của một số HDAC và các trung tâm hoạt động, xúc tác cho phản ứng deacetyl hóa của chúng (Hình 1. Cấu trúc trung tâm hoạt động của HDAC Nhìn chung, các HDAC đều có cấu trúc trung tâm hoạt động tương tự nhau, bao gồm 2 phần chính là ion Zn2+ và kênh enzym [24]: + Ion Zn2+ là coenzym của HDAC, nằm dưới đáy kênh enzym và cũng là thành phần tham gia liên kết mạnh nhất với phần đuôi histon qua liên kết phối trí. Ion Zn2+ có thể tạo 4 liên kết phối trí với các acid amin trên HDAC và 1 liên kết phối trí với nguyên tử oxy của nhóm acetyl lysin ở đầu N của histon từ đó xúc tác cho quá trình tách loại nhóm acetyl. Thông thường, các chất ức chế HDAC liên kết càng mạnh với Zn2+ thì tác dụng ức chế HDAC và gây độc tế bào càng tăng.
Chẳng hạn acid hydroxamic ức chế HDAC bằng cách tạo hai liên kết phối trí với Zn2+ qua 2 nguyên tử oxy của nó [24]. + Kênh enzym có dạng túi hình ống hẹp, là nơi chứa và tham gia liên kết Van der Waals với cơ chất. Lòng kênh được cấu tạo bởi các acid amin thân dầu, đặc biệt là các acid amin có nhân thơm như: Phe, Tyr, Pro, His. Cấu trúc của hợp phần này là khá linh động, có thể thay đổi kích thước để phù hợp với cơ chất.
Miệng túi có một vài vòng xoắn protein để tương tác với nhóm nhận diện bề mặt của chất ức chế HDAC (HDAC inhibitor – HDACi). Đáy túi có một vài phân tử nước, giúp vận chuyển nhóm acetyl trong phản ứng deacetyl hóa và tạo liên kết hydro khi không có -OH của Tyr [24]. CÁC CHẤT ỨC CHẾ HISTON DEACETYLASE 1. Giới thiệu về các nhóm chất ức chế histon deacetylase PEPTID VÒNG ACID HYDROXAMIC O O O H H O NH N OH N H N HO S H N O NH O O O H Vorinostat (SAHA) S S O Belinostat (PXD101) H Phê duyệt 2006 (CTCL) Phê duyệt 2014 (PTCL) NH O NH O O Romidepsin (FK228) OH Phê duyệt 2009/2011 N H H (CTCL, PTCL) N N Panobinostat (LBH589) H ACID BÉO Phê duyệt 2015 (MM) MẠCH NGẮN O Na+ O- Natri butyrat Phase I, II BENZAMID O O OH N NH2 H H N N Chidamid (CS005) O Acid valproic Phê duyệt 2015 (PTCL) O Phase I, II F O N H CETON NH2 O N O H H Cl-994 N N Phase II 5 CF3 H H N O N NH2 O TFMK O MS-275 O Phase III H N 6 N H O O α-cetonamid Hình 1.
Phân loại các chất ức chế HDAC theo cấu trúc Một số chất ức chế histon deacetylase (histon deacetylase inhibitor – HDACi) và phân nhóm của chúng được minh hoạ trong Hình 1.3, bao gồm các acid hydroxamic, các benzamid, các peptid vòng, các acid béo mạch ngắn và các ceton [25, 26]. Năm 2006, FDA đã phê duyệt chất HDACi đầu tiên là Vorinostat (SAHA), cho chỉ định điều trị u lympho tế bào T ở da (CTCL). Hiện tại, đã có tổng cộng 3 chất ức chế HDAC khác, cụ thể là Belinostat (PXD101), Panobinostat (LBH589), Romidepsin 6 (FK228) đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt trong điều trị các loại ung thư khác nhau như CTCL, u lympho tế bào T ngoại biên (PTCL) và u đa tủy. Năm 2015, một chất HDACi chọn lọc là Chidamid (CS005) đã được Trung Quốc phê duyệt để điều trị PTCL tái phát hoặc khó điều trị [27].
Hiện nay, một số chất HDACi khác cũng cho thấy tiềm năng là đơn trị liệu hoặc phối hợp với nhiều loại thuốc chống khối u khác để điều trị bệnh ung thư ác tính, như Pracinostat (SB939), ITF2357 (Givinostat), MGCD0103 (Mocetinostat), Entinostat (MS-275), PCI-24781 và acid valproic [28]. Cơ chế tác dụng của các HDACi trong điều trị ung thư Các HDACi đã được thử nghiệm và đưa vào sử dụng trên lâm sàng với tác dụng kháng ung thư, vì hiệu quả kháng khối u in vitro và in vivo [29]. Trong nhiều trường hợp, sự ức chế quá trình acetyl hóa bất thường trên histon có thể đóng vai trò như một liệu pháp điều trị, gây ra (Hình 1.