LỜI MỞ ĐẦU Theo WHO, “Thế kỉ 21 là thế kỉ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hóa”, trong đó, bệnh đái tháo đường (DTD) là một căn bệnh mang tính xã hội cao được WHO quan tâm hàng đầu trong các chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng. DTD là một căn bệnh không lây nhiễm có mức độ nguy hại cao, là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước đang phát triển. Tăng glucose máu mãn tính trong DTD làm rỗi loạn, suy yếu chức năng các cơ quan nội tạng, là thủ phạm chính dẫn đến các ton thương mắt, thận, tim mạch, thần kinh. DTD va các biến chứng của nó trở thành gánh nặng kinh tế cho xã hội, người bệnh và gia đình, khi mà số tiền phải chi cho việc phòng chống và điều trị lên đến 26 tỷ USD vào năm 2007, dự kiến con số này sẽ là 47,2 tỷ USD vào năm 2030.
Số người mac bệnh DTD gia tăng nhanh chóng mỗi năm. Nếu như 20 năm về trước số người bị DTD chi là 135 triệu thì bây giờ con số đó đã lên đến 382 triệu, dự đoán vào 20 năm tới toàn thế giới sẽ có 592 triệu người bị DTD. Ở Việt Nam, số người mắc bệnh DTD chiếm 5/7% dân số vào năm 2014, trong đó DTD tuýp 2 chiếm 90 đến 95% số người bệnh. Các phương pháp điều trị bệnh DTD bao gồm: dinh dưỡng, luyện tập và sử dụng thuốc.
Trên thị trường ngày nay có nhiễu loại thuốc điều trị bệnh DTD tuýp 2 với các cơ chế khác nhau, nhằm mục tiêu chính là giữ glucose máu ở mức bình thường. Các loại thuốc này cũng tôn tại nhiều hạn chế như: tăng cân, loãng xương. hạ đường huyết, rồi loạn tiêu hóa,. Hơn nữa, chi phí cho việc điều trị căn bệnh mãn tính này là một gánh nặng đối với bệnh nhân, gia đình và xã hội.
Sử dụng thao được trong việc điều trị DTD tuýp 2 là một phương án lựa chọn tốt để thay thế cho các loại thuốc tong hop. Nhiéu loai cây co ở Việt Nam đã được su dụng như một loại thuốc trị DTD tuýp 2 từ hàng nghìn năm qua. Trong đó, một số loại cây đã được nghiên cứu ở Việt Nam như lá ôi, lá vối, sen, bằng lăng, khổ hoa. Không giống như các lại thuốc tong hợp tri DTD theo một co chế cu thé, các loài dược thảo tác dụng theo nhiều cơ chế khác nhau, bao gồm: tăng sự tiết insulin, tăng độ nhạy của insulin, giảm lượng carbonhydrat hap thu bằng cách ức chế enzyme ơ- glucosidase.
Thuốc từ thao dược thường không có tác dụng hạ đường huyết mạnh | băng thuốc tổng hợp, nhưng chúng chứa nhiều hoạt chất giúp ngăn ngừa các biến chứng DTD. Ngoài ra, các thảo dược có ưu điểm nổi bật là nguồn nguyên liệu déi dao, có thé tìm thay ở nhiều noi, phù hợp với tình hình kinh tế của nhiều người có thu nhập thấp và trung bình. Với mục đích nghiên cứu khả năng điều trị bệnh DTD tuýp 2 bang con đường ức chế enzyme a-glucosidase, chúng tôi tiễn hành dé tài “Sang lọc các hoạt chất có kha năng ức chế enzyme a-glucosidase từ một số thực vật”. Từ kết quả sang lọc, loài thực vật có hoạt tính tốt nhất sẽ được chọn làm khảo sát sâu hơn và thử nghiệm các hoạt tính ngăn ngửa biến chứng của bệnh DTD tuýp 2.
Năm loài thực vật được chon làm khảo sát đều được thu hái ở An Giang, bao gồm: diệp hạ châu đăng, dây bình bát, cây bình bát, cây nghề va cây rau trai. Các thực vat này phân bố rộng rãi nhiều nơi (trồng làm rau, mọc hoang nhiều trên các đồng ruộng, hoặc được trông ở các vườn thuốc nam), nên khả năng áp dụng vào thực tiễn của chúng là rất cao, làm giảm sự phụ thuộc vào các thuôc tông hợp từ nước ngoài. BENH DAI THAO DUONG 1. Bénh DTD trén thé gidi va Viét Nam Bệnh đái tháo đường (DTD) là một trong những bệnh man tính không lây nhiễm pho biến trên thé giới, là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở các nước phát triển.
Sự phát triển của quá trình đô thị hóa, lỗi sống không lành mạnh, tiêu thụ nhiều thực phẩm giau năng lượng, ít vận động. là nguyên nhân chính làm bệnh DTD gia tăng nhanh chóng. Khoảng 50% bệnh nhân DTD bị các biến chứng như bệnh mạch vành, tim mach, đột quy, bệnh lý thần kinh do DTD, cắt đoạn chi, suy thận, mù mat,. dan dén tan tat va giam tudi tho [1].
DTD là một căn bệnh phức tap và nguy hiểm, là gánh nặng kinh tế của xã hội va gia đình bởi hậu quả nặng nề của bệnh do phát hiện và điều trị muộn. Theo số liệu cập nhật mới nhất của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes Federation — IDF), tỷ lệ dân số bi DTD là 8,8% trong 7.3 tỷ người vào năm 2015, gây ra 5 triệu cái chết và cứ 11 người trưởng thành thì có 1 người mắc bệnh DTD. Trong đó, số ca bệnh DTD tuýp 2 chiếm 87 đến 91% bệnh DTD và tập trung nhiều ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Nguy hiểm hon, có đến 46% số người mac bệnh DTD tuýp 2 không nhận thức được bệnh cho đến khi có những biến chứng nghiêm trọng [2].
Ở Việt Nam, số người mắc bệnh DTD cũng gia tăng nhanh chóng. Dựa trên các nghiên cứu dịch té học được tiến hành trên toàn quốc năm 2012 của bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ người bị DTD ở Việt Nam lên đến 5,7%, cao hơn hắn so với con số 3,7% ma IDF đưa ra vào năm 2014 [3]. Hon nữa, tỷ lệ mắc DTD ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi. Đây là con số đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ lệ mắc DTD mới tăng gấp đôi.
Trong khi đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về bệnh DTD [2-4]. Gánh nặng kinh tế của căn bệnh này mang lại bao gồm chỉ phí điều trị, giảm khả năng lao động va tàn tật. Theo IDF, chi phí dành cho điều trị DTD và các bién chứng của nó chiếm khoảng 12% tổng chi phi chăm sóc sức khỏe năm 2015, ước tính 415 tỷ USD. Trong khi đó 77% trường hợp bị DTD tập trung ở các nước có thu nhập thấp va trung bình [2].
Việt Nam nam trong nhóm những quốc gia này, chịu những tác động xấu từ bệnh DTD, nhiều bệnh nhân va gia đình đang phải chịu những gánh nặng về kinh tế do chi phí rất lớn dé điều trị DTD. Định nghĩa và phương pháp chuẩn đoán PTD là một bệnh rối loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân. Bệnh được đặc trưng bởi tăng glucose máu mãn cùng với những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein, do hậu quả của sự suy giảm bài tiết insulin, hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai [5]. Các phương pháp chan đoán DTD bao gồm: chỉ số glucose máuvà chỉ số HblAc.
e Chỉ số đường huyết lúc đói lớn hơn 126 mg/dL, lớn hon 200 mg/dL trong xét nghiệm dung nạp glucose sau 2h hoặc đường huyết ngẫu nhiên lớn hơn 126 mg/dL đi kèm với triệu chứng “4 nhiều” đặc trưng là ăn nhiều, gay nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều [5|. e Chỉ số HbAIc (tỷ lệ hồng cầu gan với glucose) lớn hơn 6,5% thành một tiêu chí mới dé chân đoán DTD [6]. Nong độ HbA 1c phản ánh chính xác tinh trạng đường huyết của một người trong vòng 2 tháng đến 3 tháng theo tudi thọ của hong cau. Phan loai Theo phân loại cua ADA, DTD được phan chia thành 4 nhóm chính sau day: DTD tuyp 1, DTD tuyp 2, DTD thai ky, DTD do cac nguyén nhan khac [7].
DTD tuýp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 đến 10% tổng số bệnh nhân DTD thé giới. DTD tuýp | còn gọi là bệnh tiểu DTD tự miễn, cơ thé tự tiêu diệt các tế bào sản xuất ra hormone insulin của tuyến tụy, làm cho co quan này không còn khả năng sản xuất insulin nữa. Bệnh nhân DTD tuýp 1 cần phải tiêm insulin suốt đời, nên trước đây bệnh này còn gọi là bệnh DTD phụ thuộc insulin |2, 8]. Trong đó có hơn 50% ca DTD tuýp 1 xuất hiện trước 20 tuổi [2.
DTD tuýp 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% ca bệnh DTD trên thế giới, thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi [2]. Ở bệnh nhân bị DTD tuýp 2, tuyến tụy van sản xuất insulin, nhưng lượng insulin tiết ra không đủ hoặc tế bào không thé sự dụng 4 insulin do cơ thé sản xuất ra. Bệnh nhân DTD tuýp 2 không nhất thiết phải tiêm insulin, tuy nhiên trong một sô trường hợp cũng can tiêm insulin đề kiêm soát lượng đường huyết. DTD tuýp 2 thường được chan đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose mau tiên triên âm thâm không có triệu chứng.
Khi có biêu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hoá, lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mach, thần kinh, thận. nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nang [9]. DTD thai kì: thường gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng khi có thai lần dau. Sự tiến triển của DTD thai kì sau đẻ theo ba kha năng: bị đái tháo đường, giảm dung nap glucose và bình thường.
Ước tính có khoảng 2 đến 5% thai phụ bị DTD thai kỳ [2. DTD do các nguyên nhân khác như: Khiếm khuyết gene liên quan đến hoạt tính insulin. Các bệnh lý liên quan đến tụy như: viêm tụy, xơ hóa tuy,. Các bệnh nội tiết khác như: Acromegal, hội chứng Cushing, bệnh Basedow.
ĐTĐ do thuốc hay hóa chất như các thuốc điều trị HIV như pentamidine, thuốc kháng viêm nhóm corticoid, thyroid hormone. Các biến chứng của bệnh DTD tuýp 2 Tăng nông độ glucose máu là nguyên nhân chính dẫn tới các biến chứng của DTD tuýp 2. Do bệnh khởi phát âm thầm, nếu không được chan đoán sớm và điều tri kip thời, những biến chứng mạn tính sẽ làm gia tăng mức độ tàn phế và tử vong trên bệnh nhân DTD tuýp 2. Các biên chứng này có 2 loại: biên chứng cap tính và biên chứng man tính.
Biến chứng cấp tinh bao gdm hôn mê do nhiễm ceton máu hoặc do tăng áp lực thâm thấu, hội chứng tăng thân nhiệt ác tính dẫn tới tiêu cơ vân. Các biến chứng này thường xảy ra đột ngột trong thời ngăn, và rat dé tử vong [10]. Các biến chứng mãn tinh được chia thành: bién chứng mach máu nhỏ (gây tổn thương mắt, thận, thần kinh), biến chứng mạch máu lớn (gây các bệnh về mạch vành, mạch máu ngoại biên và mạch máu não) và biến chứng không phải mạch máu (rỗi loạn tiêu hoá, rối loan tình dục, nhiễm trùng và những thay đối ở da) [11, 12].