CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Ung thư là gì? Theo hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ năm 2015 thì bệnh ung thư có thể xuất hiện ở bất kỳ phần nào trên cơ thể. Nó bắt đầu khi các tế bào phát triển vượt mức kiểm soát và chèn lấn các tế bào bình thường.
Điều này làm cho cơ thể khó hoạt động như bình thường. Ung thư có thể được điều trị rất tốt ở nhiều người. Thực tế, hiện tại số người trở lại có cuộc sống bình thường sau khi được điều trị ung thư là nhiều hơn bao giờ hết. Ung thư không chỉ là một bệnh.
Có nhiều loại ung thư, chứ nó không chỉ là một bệnh đơn thuần. Ung thư có thể bắt đầu ở phổi, vú, đại tràng, hoặc thậm chí trong máu. Các loại ung thư đều giống nhau ở một số phương diện, nhưng khác nhau ở cách phát triển và lan rộng. Các tế bào trong cơ thể chúng ta đều phải làm những công việc nhất định.
Những tế bào bình thường phân chia một cách có trật tự. Chúng chết đi khi bị yếu hoặc bị tổn thương, và các tế bào mới thế chỗ của chúng. Ung thư xảy ra khi các tế bào bắt đầu phát triển vượt mức kiểm soát. Các tế bào ung thư tiếp tục phát triển và tạo ra các tế bào mới.
Chúng chèn lấn các tế bào bình thường. Điều này gây ra các vấn đề ở phần cơ thể nơi mà ung thư xuất hiện. Tế bào ung thư cũng có thể lan rộng sang các phần khác của cơ thể. Ví dụ, các tế bào ung thư trong phổi có thể di chuyển đến xương và phát triển ở đó.
Khi các tế bào ung thư lan rộng, hiện tượng này được gọi là di căn. Khi ung thư phổi lan đến xương, nó vẫn được gọi là ung thư phổi. Đối với bác sĩ, các tế bào ung thư trong xương nhìn vẫn giống như các tế bào ung thư trong phổi. Ung thư không được gọi là ung thư xương trừ khi nó bắt đầu từ trong xương.
Một số loại ung thư phát triển và lan truyền nhanh. Một số loại khác phát triển chậm hơn. Các bệnh ung thư khác nhau cũng đáp ứng với việc điều trị theo những cách khác nhau. Một số loại được điều trị tốt nhất bằng phẫu thuật; những loại khác đáp ứng tốt hơn khi dùng loại thuốc được gọi là hóa trị.
Người ta thường sử dụng 2 hay nhiều biện pháp điều trị để có được kết quả tốt nhất. Luan van 7 Khi một người nào đó bị ung thư, bác sĩ sẽ cần tìm hiểu xem đó là loại ung thư nào. Những người bị ung thư cần được điều trị bằng phương pháp có hiệu qủa cho loại ung thư của họ. Hầu hết các bệnh ung thư hình thành một cục u được gọi là khối u hoặc bướu.
Nhưng không phải tất cả các cục u đều là ung thư. Bác sĩ sẽ lấy ra một phần của khối u và kiểm tra nó để tìm hiểu xem có phải là ung thư không. Những cục u mà không phải là ung thư được gọi là lành tính. Những cục u mà là ung thư được gọi là ác tính.
Có một số loại ung thư, như bệnh bạch cầu (ung thư máu), không hình thành các khối u. Ung thư này phát triển trong các tế bào máu hay tế bào khác của cơ thể.2 Tổng quan về cây Sâm đá Cây Sâm Đá hay còn gọi là cây khỏe (tên địa phương), có tên khoa học là Curcuma singularis, thuộc chi Nghệ (Curcuma), họ Gừng (Zingiberaceae), bộ Gừng (Zingiberales), có các điểm tương đồng với loài Curcuma vitellina và loài Curcuma sahuynhensis. Cây Sâm Đá được phát hiện lần đầu tiên ở Việt Nam và phân bố chủ yếu ở các vùng diện tích nhỏ thuộc huyện Kbang (Gia Lai) và thị trấn Măng Đen, huyện Kplông (Kon Tum). Thân rễ và củ của cây Sâm Đá được ghi nhận có tác dụng bồi bổ sức khỏe, cường gân, bổ cốt, tăng sinh lực, trị phong thấp, bổ thận, hạn chế suy nhược cơ thể và hỗ trợ điều trị một số bệnh [1].
Tuy nhiên, các tác dụng dược lý của cây này chưa được nghiên cứu nhiều. Mẫu cây Sâm đá (Curcuma singularis) [1] Luan van 8 1. Tổng quan về con đường tín hiệu liên quan tới sự chết của tế bào. Apoptosis là một cơ chế nội mô quan trọng đảm bảo sự cân bằng giữa sự tăng sinh và sự chết của tế bào nhằm đảm bảo số lượng tế bào thích hợp trong mỗi cấu trúc mô.
Việc hoạt hóa quá trình apoptosis được xem là một trong các cách tiếp cận chính để loại bỏ tế bào ung thư. Apoptosis thường được đặc trưng bởi những thay đổi điển hình về mặt cấu trúc của tế bào, bao gồm sự co lại tế bào, sự cô đặc của chromatin, sự phân mảnh DNA và sự dịch chuyển của phân tử Phosphatidylserine (PS) từ bên trong ra bên ngoài của màng tế bào. Quá trình apoptosis được kích hoạt bởi các kích thích bên trong và bên ngoài, từ đó hình thành hai con đường chính. Thứ nhất là con đường nội bào hay còn gọi là còn đường ti thể.
Thứ hai là con đường ngoại bào hay còn gọi là con đường phụ thuộc vào thụ thể trên bề mặt tế bào [2][3]. Các protein và con đường tín hiệu liên quan đến quá trình apoptosis ở tế bào Luan van 9 Con đường apoptosis ngoại bào liên quan tới tương tác giữa các phân tử trên bề mặt tế bào như Fas hay yếu tố hoại tử khối u (TNF-α) với các phối tử tương ứng (Fas-L hay TNFR). Sự tương tác này hình thành các tín hiệu gây chết bên ngoài tế bào khởi sự con đường apoptosis ngoại bào thông qua việc hoạt hóa các phân tử Caspase-8 và Caspase-3 thuộc con đường Casapse nội bào [3]. Khác với con đường apoptosis ngoại bào, con đường apoptosis nội bào được kích hoạt bởi các stress ảnh hưởng tới bộ gen như tia UV, hóa trị liệu.
Con đường apoptosis nội bào được kiểm soát bởi các protein trong họ protein Bcl-2 [4]. Các protein kháng apoptosis thuộc họ Bcl-2, bao gồm cả Bcl-2 và Bcl-xL, ức chế quá trình apoptosis bằng cách ức chế sự giải phóng các nhân tố cảm ứng apoptosis từ ti thể vào tế bào chất. Ngược lại, các protein cảm ứng apoptosis thuộc họ Bcl-2, như Bax và Bak kích thích sự giải phóng các nhân tố cảm ứng apoptosis thông qua các hoạt động dịch chuyển trên màng của ty thể, hoạt hóa tính thấm màng ngoài ty thể (mitochondrial outer membrane permeabilization-MOMP) [4][2]. Do đó, những thay đổi biểu hiện của các protein thuộc họ Bcl-2 ảnh hưởng trực tiếp tới việc giải phóng các nhân tố cảm ứng apoptosis từ màng ti thể vào tế bào chất.
Các nhân tố cảm ứng apoptosis giải phóng từ màng ti thể được chia thành 2 nhóm: nhóm các nhân tố cảm ứng apoptosis phụ thuộc vào Caspase và nhóm các nhân tố cảm ứng apoptosis độc lập với Caspase. Nhóm các nhân tố cảm ứng apoptosis phụ thuộc vào Caspase bao gồm Cytochrome c, Smac/DIABLO ảnh hưởng trực tiếp tới sự hoạt hóa phân tử Caspase-9, Casapse-3 thuộc con đường Caspase nội bào. Nhóm các nhân tố cảm ứng apoptosis độc lập Caspase bao gồm nhân tố cảm ứng apptosis AIF (Apoptosis induce factor) và EndoG [2][5]. AIF và EndoG được giải phóng khỏi màng ti thể vào tế bào chất, sau đó dịch chuyển vào nhân.
AIF liên quan đến sự cô đặc phân tử chromatin, sự phân mảnh DNA, sau đó dẫn tới gây chết tế bào độc lập với Caspase. Trong khi đó, EndoG phân cắt chromatin thành các đơn vị nucleosomal trong tế bào trải qua quá trình apoptosis. Sự thoái biến DNA gây ra EndoG xảy ra độc lập với con đường Caspase theo cách tương tự như AIF [2]. Luan van 10 Hình 1.
Các protein và con đường tín hiệu liên quan quá trình autophagy ở tế bào. Bên cạnh quá trính apoptosis, một số cơ chế gây chết tế bào cũng được phát hiện gần đây như sự tự thực bào (autophagy) hay sự chết tế bào dạng necrosis theo chương trình (necroptosis). Tự thực bào là một cơ chế dị hóa liên quan đến sự thoái biến những thành phần không cần thiết hoặc các thành phần bị rối loạn chức năng trong tế bào, thông qua hoạt động của lysosome [3]. Sự tự thực bào được hoạt hóa bởi sự thiếu hụt ATP nội bào, được phát hiện thông qua sự hoạt hóa enzyme adenosine monophosphate kinase (AMPK).
Sự tự thực bào được đặc trưng bởi sự hình thành màng bao xung quanh các bao quan (acidic vesicular organelles – AVO) tạo thành các túi bao và được vận chuyển đến một cơ quan tiêu hoá lysosome trong tế bào chất. Một số protein tham gia vào quá trình tự thực bào bao gồm: protein Beclin 1-Vps34/ class 3 PI3 kinase có vai trò trong việc khởi động tự thực bào, protein LC3/Atg8 và Atg7 giúp mở rộng kích thước của các thể thực bào (autophagosome) cũng như khuếch đại quá trình tự thực bào, và protein p62 đóng vai trò trung gian nhận biết các thể polyubiquitin (Hình 1. Necroptosis là sự chết tế bào dạng necrosis theo chương trình của tế bào viêm, hay dạng chết necrosis theo chương trình thúc đẩy bởi sự tổn thương tế bào. Sự hình thành thể “necrosome” bởi tương tác thụ Luan van 11 thể giữa protein kinase 1 (RIP1) và RIP3 là điểm đăch trưng của necroptosis [7].
Necroptosis hay autophagy đều có thể được cảm ứng bởi sự hoạt hóa thụ thể bề mặt như thụ thể yếu tố hoại tử khối u (TNFR), thụ thể tế bào T (TCR), thụ thể của interferon, thụ thể giống Toll (Toll-like receptors) hoặc tác động nội bào như stress hay các nhân tố kháng ung thư. Sự chết tế bào theo chương trình (Programmed cell death) đều liên quan tới cả 3 quá trình apoptosis, autophagy và necroptosis. Trong một số trường hợp, các tác nhân chỉ hoạt hóa một trong ba quá trình nêu trên. Tuy nhiên, có những trường hợp, hai hoặc cả ba quá trình nêu trên đều được kích hoạt trong tế bào.
Các quá trình này được kích hoạt, tồn tại và tương tác qua lại trong tế bào. Tuy nhiên, trong đó sẽ có một quá trình đóng vai trò chính. Yếu tố quyết định tế bào trải qua quá trình nào trong ba quá trình nêu trên kiểm soát bởi một vài yếu tố như mức năng lượng ATP nội bào, mức độ tổn thương tế bào, và sư hiện diện các con đường phân tử chuyên biệt của các chất ức chế (ví dụ: chất ức chế caspase). Sự thiếu hụt ATP có thể hoạt hóa quá trình autophagy là chính.
Tuy nhiên, nếu quá trình autophagy thất bại trong việc duy trì mức ATP nội bào, thì quá trình necroptosis sẽ xảy ra. Các tổn thương ở mức độ nhẹ hoặc tín hiệu gây chết tế bào ở mức độ thấp có thể cảm ứng quá trình apoptosis xảy ra.