CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về các loài Trà hoa vàng thuộc chi Camellia 1. Đặc điểm sinh trưởng Các loài Trà hoa vàng là loài cây chịu bóng, chúng chỉ có thể phát triển tốt trong điều kiện bóng râm và thường được tìm thấy trong rừng tự nhiên có độ tàn che từ 30 - 80%. Các loài này thường ưa mọc ở vùng đất ẩm cao và những nơi có độ ẩm không khí cao.
Vì vậy, chúng thường được tìm thấy ở các thung lũng, gần suối và các vực có nước, ẩm, chủ yếu ở độ cao 300-700 m. Đôi khi cũng có thể tìm được một số cây trong những vùng đất khô, nhưng chúng phát triển kém, còi cọc và có kích thước tương đối nhỏ. Các loài Trà hoa vàng có kích thước khá đa dạng, cao khoảng từ 2- 20 m; chồi và cành non có thể có lông hoặc không lông, cành già thường trơn nhẵn. Lá cây mọc cách và không có lá kèm, cuống lá tương đối ngắn.
Phần lớn các loài Trà hoa vàng đều có cuống lá nhẵn và lõm sâu ở mặt trên, lá có thể phủ lông ở mức độ khác nhau. Kích thước lá và hình thái phiến lá đa dạng, mép lá có răng cưa. Mặt trên lá thường có màu xanh sẫm và láng bóng, mặt dưới lá thường màu xanh sáng, xanh hơi vàng và nhẵn hoặc có lông và có nhiều điểm tuyến màu đen. Giống như các loài khác trong chi Trà (Camellia), hoa của các loài Trà hoa vàng cho hạt có kích thước lớn, chủ yếu là bị phân tán bởi trọng lực [13,15,44].
Do đó, cây con thường được tìm thấy dưới hoặc gần tán của cây mẹ. Hoa mọc thành cụm trong tự nhiên, ở nách lá hoặc đầu cành. Đối với các cá thể trưởng thành, ở những nơi có nhiều ánh sáng mặt trời, hoa sẽ có màu vàng đậm hơn những nơi có ít ánh sáng mặt trời [15]. Do đó, ánh sáng mặt trời có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nụ và hoa của cây.
Các loài Trà hoa vàng có hệ thống rễ nông và số lượng rễ mịn hạn chế (rễ có đường kính ≤ 2 mm), chúng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng cho sự sống của cây [16] dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp đối với độ ẩm, chất dinh dưỡng và sự neo đậu của cây so với các loài cây khác. Ngoài ra, hạt trà cũng là thức ăn cho các loài gặm nhấm và động vật hoang dã khác, điều này có thể làm cho mật độ của cây con trong tự nhiên không cao. Vùng phân bố tập trung chủ yếu của các loài Trà hoa vàng là ở miền Nam Trung Quốc và Việt Nam [17]. Một số loài Trà hoa vàng ở Trung Quốc và Việt Nam Bảng 1: Một số loài Trà hoa vàng ở Trung Quốc và Việt Nam [17].
STT Tên khoa học STT Tên khoa học 2 1 Camellia achrysantha Hung 27 Camellia longruiensis S. Ye Liang Liang & X.Dong 2 Camellia aurea H. Chang 28 Camellia nitidissima C.Chi 3 Camellia chrysantha (Hu) 29 Camellia megasepala Hung T. Tuyama Chang &Tr Ninh 4 Camellia chrysanthoides H.
30 Camellia nitidissima var.Tang 5 Camellia crassiphylla Ninh & 31 Camellia multipetala S. Ye Hakoda Liang & C. Deng 6 Camellia cucphuongensis 32 Camellia murauchii Ninh & Ninh & Rosmann Hakoda 7 Camellia dalatensis Luong, 33 Camellia longzhouensis J. Tran & Hakoda Luo 8 Camellia dilinhensis Ninh & 34 Camellia micrantha S.
Zhong 9 Camellia flava (Pit.) 35 Camellia parvifolia Makino 10 Camellia euphlebia Merr. ex 36 Camellia parvipetala J. Su 11 Camellia fascicularis Hung T. 37 Camellia petelotii (Merr.) Chang Sealy 12 Camellia dormoyana (Pierre) 38 Camellia phanii Hakoda et Sealy Ninh 13 Camellia gilbertii (A.
Sealy Fang 14 Camellia grandis (C. Liang 40 Camellia pingguoensis D. terminalis (Liang et Ye Liang (C. Lang 3 15 Camellia hakodae M.Sealy 41 Camellia pubipetala Y.
Huang 16 Camellia hamyenensis 42 Camellia quephongensis M.Sealy Hakoda et Ninh 17 Camellia hirsuta Hakoda et 43 Camellia quinqueloculosa Ninh S. Zhong 18 Camellia huana T. Ming & 44 Camellia flavida var.Ming 19 Camellia huulungensis 45 Camellia tamdaoensis Ninh Rosmann & Ninh et Hakoda 20 Camellia impressinervis Hung 46 Camellia terminalis J. Ye Liang Liang & Z.
Su 21 Camellia indochinensis 47 Camellia thanxaensa Hakoda Merrill et Kirino Camellia indochinensis var. Camellia tonkinensis (Pit. Chang) 48 Cohen-Stuart Camellia T.Zhang vuquangensis Luong, Tran & (C. Nguyen 23 Camellia kirinoi Ninh 49 Camellia tienii Ninh 24 Camellia leptopetala Chang & 50 Camellia tianeensis S.Luo 25 Camellia limonia C.
Liang 51 Camellia vuquangensis & S. Zhong) 26 Camellia flavida H. Chang 52 Camellia rosmannii Ninh 1. Thành phần hóa học Quá trình nghiên cứu về các loài Trà hoa vàng đã được thực hiện từ rất lâu ở các nước trên thế giới, và các thành phần hóa học của chúng cũng đã được mô tả tương đối đầy đủ [34].
Các kết quả nghiên cứu cho thấy trong Trà hoa vàng có khoảng 4 120-130 hoạt chất khác nhau, sắp xếp thành các nhóm như: nhómpolyphenol; nhóm pectin; nhóm tinh dầu; protein và acid amin; các sắc tố; các chất vô cơ; vitamin; các enzim; chất nhựa; các chất hữu cơ; tannin, flavonoid [2, 6, 37, 39]. Nhóm polyphenol Nhóm polyphenol được coi là nhóm chất quan trọng nhất trong các loài Trà hoa vàng do các tác dụng sinh học nổi bật của chúng [4,24]. Các hợp chất polyphenol của lá Trà hoa vàng rất khác với các hợp chất polyphenol được tìm thấy trong các loại cây khác, trong đó chiếm hàm lượng lớn nhất là các catechin. Nghiên cứu năm 2013 của Jia-Ni Lin và cộng sự trên 6 loài Trà hoa vàng đã phát hiện 8 loại catechin là (+)-catechin (C) (5), (-)-epigallocatechin (EGC) (6), (-)-epigallocatechin gallat (EGCG) (7), (-)-epicatechin gallat (ECG), (-)-epicatechin (EC), (-)-gallocatechin (GC), (-)-gallocatechin gallat (GCG) (10), (-) -catechin gallat (CG) [21].
Bên cạnh đó, các flavonol như myricitin (8), kaempferol (9), quercetin (10), và các glycosid của chúng như myricetin-3-glucosid, kaempferol-3-glucosid, quercetin-3- hamnoglucosid,… cũng được tìm thấy, trong đó flavonol glycosid chiếm 2 đến 3% chất rắn chiết xuất tan trong nước của trà [18, 19, 20, 21]. Epigallocatechin (6) Catechin (5) Epigallocatechin gallat (7) Myricitin (8) Kaempferol (9) Quercetin (10) Hình 1: Một số polyphenol trong Trà hoa vàng 5 Gần đây, cũng đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học được thực hiện trên các loài Trà hoa vàng. Song và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu và xác định được hàm lượng của polyphenol toàn phần, proanthocyanidin, tannin và flavonoid từ dịch chiết Aceton/EtOH/nước của 6 mẫu Trà hoa vàng bằng phương pháp HPLC và LC–ESI-MS. Kết quả cho thấy các thành phần hóa học trong lá Trà hoa vàng có sự khác biệt rõ rệt so với trà hoa trắng do sự giàu hơn đáng kể về hàm lượng catechin trong Trà hoa vàng, bao gồm EGCG, EGC, ECG, GC, EC, và C [38].
Nhóm saponin Saponin được cho là thành phần chính của nhiều loại thuốc từ thực vật và thuốc dân gian, và được coi là nguyên nhân tạo ra nhiều đặc tính dược lý của cây thuốc. Một số nghiên cứu về loài Trà hoa vàng Camellia niprisssima chỉ ra chiết xuất metanol của lá C. niprisssima chứa nhiều saponin hơn, lên đến 432,40 mg/g được xác định bằng phương pháp so màu axit vanilin-axit axetic-axit perchloric, so với các bộ phận khác của cây, bao gồm hoa (213 mg/g) và hạt (135,3 mg/g). Ngoài ra, chiết xuất metanol của lá C.
niprisssima có hàm lượng saponin cao hơn nhiều so với chiết xuất từ lá của các loài Camellia khác, ví dụ như Camellia chrysanthoides (300,8 mg/g), Camellia impressinervis (362,9 mg/g) và Camellia perpetua (359 mg/g) [39]. Nhóm tinh dầu Từ loài C. nitidissima, các nhà khoa học Trung Quốc đã phân lập được 56 chất tinh dầu từ lá và 34 chất từ hoa. Các tinh dầu chính là eudesmol (13), linalool (15), phytol, cis-geranyl aceton, n-hexanal, methyl salicylat (14),…[20].
Eudesmol (13) Methyl salicylat (14) Linalool (15) Hình 2: Một số tinh dầu trong Trà hoa vàng c. Nhóm acid amin và nguyên tố khoáng 6 Cũng trong nghiên cứu của Jia-Ni Lin và cộng sự đã phát hiện các acid amin trong 6 loài trà hoa vàng như GABA (16), theanin (17), Arg, Tyr (18), Trp (19), Glu (20), Thr (21),… [19]. GABA (Gamma-Aminobutyric Acid) là một dẫn truyền thần kinh quan trọng với hoạt động chính trong hệ thống thần kinh trung ương của động vật có vú. Trong nghiên cứu này, C.
euphlebia có hàm lượng GABA cao nhất trong số sáu loài [19]. Theanin là một axit amin tự do được tìm thấy độc quyền trong cây trà. Nó là một thành phần chính chịu trách nhiệm cho vị ngọt và hương vị của trà, đồng thời nó còn mang một số tác dụng dược lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy C.
microcarpa có hàm lượng theanin cao nhất trong số sáu loài được nghiên cứu [19]. Theanin (17) GABA (16) Tyr (18) Trp ( Tryptophan) (19) Glu (20) Thr (21) Hình 3: Một số acid amin chính trong Trà hoa vàng Thành phần các nguyên tố khoáng trong Trà hoa vàng cũng rất đa dạng. Hiện nay, 18 loại nguyên tố khoáng đã được phát hiện trong C. Các nguyên tố khoáng này bao gồm N, P, K, Ca, Mg, Fe, Zn, Mo, Ge, Na, Cu, Mn, Ni, V, Se, Cr, Al và Co.
Hơn nữa, hàm lượng của K và Ca trong các nguyên tố đa lượng và hàm 7 lượng Fe, Mn, Zn trong các nguyên tố vi lượng tương đối cao [33]. Trong Trà hoa vàng cũng chứa nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin C [34, 35]. Công dụng Trà đã được sử dụng như là một phương thuốc trong y học phương đông từ rất lâu.Trà hoa vàng theo truyền thống được sử dụng để làm trà vì các đặc tính có lợi của nó và hoa khô được sử dụng thường xuyên hơn lá [15]. Cả hoa và lá tươi hay khô đều dùng được.
Tuy nhiên, các sản phẩm khô được ưa chuộng hơn vì chúng có thể bảo quản được lâu hơn. Ngoài ra, hoa còn được ngâm rượu, được cho là có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người uống. Gần đây, một số mỹ phẩm được làm từ chiết xuất hoa và lá của hoa trà vàng như dầu tơ vàng, dầu hoa trà vàng hữu cơ và kem dưỡng da mặt. Các phát hiện lâm sàng cho thấy hoa trà có thể ức chế ung thư cấy ghép, giảm huyết áp, giảm lipid máu và giảm cholesterol, và ngăn ngừa xơ vữa động mạch [28, 29].
Các loại hoa trà vàng như C. niprisssima đã được sử dụng để điều trị đau họng, tiêu chảy, huyết áp cao, kinh nguyệt không đều và phòng chống ung thư [24]. Các nghiên cứu về C. euphlebia, một loài hoa trà vàng được trồng rộng rãi ở Việt Nam [23], chỉ ra rằng lá có thể được sử dụng để điều trị bệnh kiết lỵ, tăng huyết áp, tiêu chảy, viêm đường ruột và kinh nguyệt không đều [29], trong khi các chất chiết xuất của nó được báo cáo là có tác dụng chống ung thư đặc tính chống oxy hóa, hạ đường huyết, và hạ natri máu [30, 31].
Tổng quan về loài Trà hoa vàng Camellia Hakodae Ninh 2.