Chương 1 TÔNG QUAN I1 GIỚI THIỆU VE BO CAP Bò cạp là loài động vật chân khớp đã có từ lâu đời trên thế giới. Trải qua hơn 450 triệu năm tiến hóa, hình dạng của bò cạp không thay đổi nhiều [9, 10]. Bên cạnh việc nghiên cứu đặc điểm hình thái, tính đa dạng loài, phương diện sinh thái, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu các thành phan cua noc độc bò cạp. Hướng nghiên cứu nay dang thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học vi noc bò cạp chứa nhiều thành phan có hoạt tính sinh học.1 Phân bố địa lý Bò cạp có thể gặp ở mọi miền địa lý trên thế giới, thường xuất hiện ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Bò cạp sống trong rừng, sa mạc, trong hang và vài loài còn được tìm thay dưới các tang đá ở những núi có độ cao 5000 m [11]. Có khoảng 2000 loài bò cạp, thuộc 20 họ khác nhau, phân bồ rộng rãi nhất tại những vùng phía nam của vĩ tuyến 45 Bắc (ngoại trừ New Zealand và Nam cực). Ví dụ như: giống Androctonus, Leiurus: phân bỗ chủ yếu ở Châu A, Bắc Phi, Trung Đông [12, 13]; giống Tityus phân bố ở Nam Mỹ (chủ yếu ở Brazil, Venezuela, Columbia và Argentina) [14]; giống Centruroides phân bố ở Trung Mỹ [15]; giống Heterometrus phân bỗ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam A (Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam), cũng như Ấn Độ, Sri Lanka, Nepal và Trung Quốc (Tây Tạng) [16, 17]. Ở Việt Nam, bò cap phân bố khắp nơi trong nước từ đồng bang đến miễn núi trong những khu rừng âm ướt và hải đảo.
Có bốn họ thuộc bộ bò cạp: Buthidae, Scorpionidae, họ Chaerilidae và họ Pseudochactidae. Trong đó, họ Buthidae và Scorpionidae chiếm nhiều nhất [18]. Chúng phân bố ở các vùng khác nhau [18, 19, 20, 21,22, 23): Ho Buthidae: ~ Lychas mucronatus Fabricius: phân bỗ ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, phát triển mạnh về số lượng cá thể ở Đồng Phú (Bình Phước). Nguyễn Thị Thanh Thảo 4 ~ Isometrus basilicus karch: phan bố ở các tinh Nghệ An, Quảng Tri, Bình Định, Khánh Hoà (Trường Sa).
Bình Phước (Đồng Phú). — Isometrus sp: phân bỗ ở Nghệ An (Vinh). — Isometrus deharvengi sp: phân bỗ ở Hòn Chồng, Kiên Giang. Họ Scorpionidae: — Heterometrus spinifer spinifer: phân bỗ ở Bình Phước (Bu Đốp, Bù Gia Mập, Đồng Phú).
— Heterometrus petersii petersii: phan bố ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Khánh Hoà, Gia Lai, Lâm Đồng, Quảng Ninh. — Heterometrus laoticus: phân b6 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Dong Nai (Biên Hoà), An Giang. — Heterometrus cyaneus cyaneus: phân bỗ ở Thừa Thiên Huế, Quảng Trị. — Heterometrus sp: phan bố ở Sơn La (Mộc Châu), Hà Tây (Ba Vì).
Họ Chaerilidae: —_ Chaerilus petrzelkai: ở miền Nam Việt Nam, đảo Côn Son. Chaerilus Simon, 1877: ở miền Nam Việt Nam. — Chaerilus vietnamicus Lourenco and Zhu, 2008: phân bố ở miền Bắc. - Chaerilus julietteae Lourenco, 2011: phân bố ở miền Nam.
~ Chaerilus pham sp: tập trung ở dao Côn Sơn. Họ Pseudochactidae: — Vietbocap canh: Lourenco & Pham, 2010.canhi Lourenco & Pham, 2010. thienduongensis Lourenco & Pham, 2012. Va trong năm 2013, vừa phat hiện loài bọ cạp mới ở miền núi phía bắc Việt Nam có tên có tên khoa học Euscorpiops cavernicola Lourenco & Phạm.
Loài bò cạp mới này thuộc họ Euscorpiidae, phân bố ở hang Hua Ma, xã Quảng Khê (huyện Ba Bẻ, tỉnh Bắc Kạn) [24]. Trong nghiên cứu này, đối tượng chúng tôi để cập đến là loài bò cạp đen Heterometrus laoticus phân bỗ ở An Giang. Đây là loại bò cạp den hay bò cạp rừng, chúng hầu hết được tìm thấy ở vùng có than bùn ở Lào, vùng Nam Bộ của Việt Nguyễn Thị Thanh Thảo 5 Nam và ở Thái Lan. Cơ thể có màu đen hoặc xanh đen, chiều dài trung bình khoảng 10-12 cm [18].
Bò cạp là động vật trong ngành thân có đốt (Arthropod), thuộc lớp Arachnida (bao gdm nhện, ve, bét.1 Hình thái học Sự biến đổi về màu sắc của bd cạp được quan sát rõ nhất. Loài bò cạp Heterometrus có mau trăng khi mới sinh, năm trên lưng mẹ vài ngày, màu trang chuyển mâu sam dan, đến khi lột xác lần thứ nhất, bò cạp con có màu nâu đen gần giống màu của bò cạp me [26]. Bên cạnh sự biến đổi về màu sac, kích thước cũng tăng dan qua các lần lột xác. Ví dụ: loài Heterometrus spinifer có chiều dài cơ thé qua các tháng tuổi như sau: thang |: 12 -15 mm, tháng 2: 32 - 40 mm, tháng 3: 44 - 51 mm, tháng 4: 56 - 62 mm, tháng 5: 69 - 75 mm, tháng 6: 82 - 90 mm.
Trong phòng thí nghiệm, ở dang trưởng thành loài này có chiều dài từ 95 -110 mm, trong tự nhiên có thể dài 125 mm [18]. Nguyễn Thi Thanh Thảo a 2 as & ts wnetrUŠ Spinife + % " -„ oS MR x⁄; ¿ at. VN ee > “Hetérometnis tongimanus: jays L (Nguồn Internet) Hình 1.2: Sự phát triển của bò cạp H.2 Đặc tính sinh học Toàn thân bò cạp được bao bọc bởi một lớp giáp băng chất sừng, ở một số chỗ có lông làm cơ quan cân bằng. Một lớp phủ ngoài giáp trong suốt, khi có tia tử ngoại sẽ chuyên thành màu xanh lục huỳnh quang [2].
Thân bò cạp có tất cả khoảng 18 đốt, chia làm hai phan: phan đầu ngực (đốt thân trước) và phan bụng (vùng thân sau), phần bụng này gồm cả bụng trước và đuôi [2]. Phần đầu ngực có 7 đốt, đốt đầu có 2 mắt giữa và 6 mắt bên, đốt 2 có câu túc và miệng, đốt 3 có chân xúc giác (càng), 4 đốt còn lại mỗi đốt có một cặp chân. Phần bụng trước có 8 đốt, hai đốt đầu tiên chứa cơ quan sinh dục và nắp sinh dục (chỉ còn dâu vết trong quá trình tiên hóa), đôt kê là cơ quan cảm giác — lược pectine, Nguyễn Thị Thanh Thảo 7 các đốt còn lại bao gdm 4 đôi túi hô hấp mở ra ngoài là 4 đôi lỗ thở trong túi có nhiều tâm kitin xếp song song, bên trong có khe dé máu di chuyền trao đôi khí CO; và O; với không khí [2]. Phần đuôi hep lai gồm 5 đốt, hậu môn của bò cap năm ở đốt cuối cùng, đồng thời tại đốt này chứa tuyến độc và mũi tiêm noc độc [2, 18].3 Tap tính sinh học Tuổi thọ của bd cạp phụ thuộc vào loài, cá thé, thức ăn, chuyển hóa và bệnh tật.
Bò cạp có thể sống từ 4 - 25 năm (loài Hadrurus arizonensis thọ 25 năm); trong thiên nhiên, loài Hadogenes sông được 25 - 30 năm [2, 18]. Môi trường sống có nhiệt độ cao và phạm vi hoạt động kiếm ăn rộng giúp gia tăng sự trưởng thành, tuy nhiên sẽ làm giảm tuổi thọ của loài [27]. Bò cạp thích sống tại những vùng nhiệt độ thay đối từ 68 đến 99 độ F (20 - 37°C) giới hạn chịu dựng khoảng 14 - 45°C [27, 28]. Bò cạp là loài động vật sống về đêm, ban ngày hay đào hang tìm noi trú an mát mẻ (dưới hoặc trong kẽ các tảng đá, các thần g6 muc,.), ban đêm ra ngoài săn môi.
Bò cạp thường sợ ánh sáng và các loài chim, than lăn, những thú có túi và chuột [27]. Bò cạp là động vật ăn thịt, thức ăn của chúng rất đa dang, từ các loài côn trùng và những động vật thân khớp nhỏ như: nhện, rudi, dán, bướm, cào cào, châu chau, kiến, rết. tới những con chuột nhắt mới sinh [29]. Đầu tiên chúng dùng càng dé bat môi, tùy vào lượng noc độc và kích cỡ càng mà bò cạp sẽ chích độc hay dùng càng ép con môi.
Cách này có thé làm tê liệt, thậm chí giết chết con môi dé sau đó bọ cạp có thé ăn [27, 30]. Bò cạp có một kiểu ăn duy nhất là sử dụng chân kim (là những vuốt nhỏ từ miệng) dé nghiền mỗi, và chỉ có thé tiêu hóa thức ăn ở dang lỏng, tất cả chat ran (lông, bộ xương ngoài,. của con môi) đều bị chúng bỏ lại [2, 30]. Bò cạp khá là nhút nhát và vô hại với con người, chúng chỉ phun nọc khi bắt môi hoặc tự vệ.
Trong một số trường hợp nguy hiểm, bò cạp thường bỏ chạy tìm cách an mình hoặc là đứng yên [2].4 Sinh sản và phát triển Bò cạp sinh sản theo phương thức hữu tính, có con đực và con cái riêng biệt, ngoại trừ vài loài có cách sinh sản v6 tính. Bò cạp Heterometrus thường sinh sản Nguyễn Thị Thanh Thảo vào mùa mưa, khoảng từ tháng 5 — 7 hàng năm [1, 2|. Bo cap con sinh ra sẽ được mang trên lung me trong một thời gian ít nhất là một kỳ lột xác. Trước kỳ lột xác đầu tiên, bò cạp con không thể sống sót nếu không phụ thuộc vào mẹ chúng.
Sau 5 — 7 lần lột xác, bò cạp mới trưởng thành và rất giống bố mẹ của mình. Lớp vỏ mới sau mỗi kỳ lột xác rất mềm, nhưng sau đó sẽ cứng dan theo tiến trình keratin hóa [2, 11].1 Giới thiệu về độc tinh của noc bò cap Tất cả các loài bò cạp được nghiên cứu đến nay đều có nọc độc. Nọc độc của tat cả các loài bò cạp đều có độc làm hủy than kinh, ngoài trừ loài Hemiscorpius lepturus có noc độc hoại tế bào. Bò cạp dùng noc của mình dé giết hay làm tê liệt con mồi trước khi ăn thịt [31].
Noc bồ cạp có độc tố đối với động vật, côn trùng và các loài giáp xác. Với hơn 1500 loài bò cạp trên toàn thế giới thi phan lớn là vô hại đối với con người, chỉ khoảng 20 - 25 loài được xem là nguy hiểm. Một số bò cạp có nọc độc mạnh và nguy hiểm như họ Buthidae (Leiurus quinquestriatus), chi Parabuthus, Tityus, Centruroides va Androctonus. Nọc độc của các loài bò cap có thể gây đau, sưng phông, tê liệt, hay bị cảm giác khó chịu kèm theo các phản ứng toàn thân như nôn mửa, bắp thịt co tê, mắt mờ, chảy nước bọt, khó nuốt, tinh thần bất 6n và có thé dẫn đến tử vong [31].
Nhưng thật ra, lượng noc cua một con bò cạp không du để giết chết một cơ thé trưởng thành khỏe mạnh, chỉ có một số trường hợp dị ứng với bò cạp mới có thể gây tử vong nhanh. Thông thường, sau khi bị bò cạp chích, vị trí lân cận sẽ đau tê cứng trong vài ngày, sau đó sẽ trở lại bình thường [32].laoticus thường không độc, nhưng gây ra sự sưng phù, đau va vùng bị chích có màu đỏ khoảng vài giờ đến nhiều ngày [16, 17].