ĐẶT VẤN ĐỀ Từ thời xa xưa, con người đã sử dụng các phương thuốc từ cây cỏ để chữa bệnh dựa vào kinh nghiệm của người đời trước. Thời nay, với sự kết hợp giữa kiến thức truyền thống và sự phát triển của khoa học đã giúp chúng ta tìm ra các phương thuốc đặc trị từ các cây cỏ mà ít gây ra tác dụng phụ, bằng cách xác định các thành phần hóa học trong các loại cây cỏ, hiểu rõ cơ chế hoạt động của chúng và áp dụng chúng vào việc chữa trị bệnh tật. Nước ta là một nước có diện tích rừng khá rộng lớn và thảm thực vật đa dạng, nhiều loại cây thảo dược đã được nghiên cứu và ứng dụng trong các lĩnh vực y học và mỹ phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn một số loại cây vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
pteropoda, là một cây mà được người xưa dùng để chữa nhiều bệnh như: hạ sốt, hạ huyết áp, điều trị bệnh sốt rét, nhức đầu, tức ngực, khó thở, ho, thương hàn, điều trị đau lưng và kiết lỵ… Mặc dù có nhiều công dụng như vậy nhưng hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu chuyên sâu. Các nghiên cứu về cây P. pteropoda mới chỉ xác định được một số hợp chất trong cây và trong tinh dầu, khảo sát một số hoạt tính sinh học trên các cao phân đoạn chủ yếu về hoạt tính kháng khuẩn. Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, việc quan tâm đến sức khỏe con người trở nên ngày càng quan trọng.
Với các tác dụng với nhiều loại bệnh, chưa được nghiên cứu nhiều và chuyên sâu với cây P. pteropoda, nhận thấy các điều trên, dưới sự hướng dẫn của giảng viên, với vai trò là sinh viên ngành Hóa hữu cơ, tôi đã quyết định thực hiện đề tài " Nghiên cứu phân lập thành phần hóa học từ phân đoạn Butanol của thân cây Sài hồ nam (Pluchea pteropoda Hemsl, Asteraceae.)" để tìm hiểu cũng như hiểu rõ hơn về thành phần hóa học của cây P. pteropoda, làm tiền đề cho các nghiên cứu hoạt tính sinh học về các hợp chất từ cây P. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ➢ Thân cây Sài hồ nam – Pluchea pteropoda, được thu hái tại Sóc Trăng vào năm 2022.
x MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ➢ Điều chế cao phân đoạn Me40 từ thân cây Sài hồ nam – Pluchea pteropoda. ➢ Phân lập các hợp chất tinh khiết từ phân đoạn Me40. ➢ Xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được từ phân đoạn Me40. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN Ý nghĩa khoa học ➢ Cung cấp thông tin về thành phần hóa học của cây Sài hồ nam – Pluchea pteropoda.
➢ Nghiên cứu chuyên sâu về các hợp chất được phân lập để ứng dụng vào các lĩnh vực liên quan. Ý nghĩa thực tiễn ➢ Các hợp chất này có thể được sử dụng trong các lĩnh vực trong ngành dược phẩm. ➢ Nghiên cứu sâu hơn về tính chất và ứng dụng của các hợp chất. xi TỔNG QUAN 1.
Tổng quan về chi Pluchea Cass. Pluchea là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc (Asteraceae). Các cây của họ này còn có được biết đến với tên gọi khác như camphorweeds, plucheas, hoặc ít khi được gọi là fleabanes, trong khi một số loài như P. odorata được gọi là sour bushes [1].
Các loài trong chi này thường được tìm thấy ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên khắp thế giới. Chi Pluchea bao gồm 80 loài phân bố chủ yếu ở Bắc và Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Úc [2]. Ở Châu Á thì có khoảng 10 loài bao gồm 3 loài có ở Việt Nam là Pluchea indica Less, Pluchea pteropoda Hemsl và Pluchea eupatoroides [3]. Các chiết xuất từ các loài thuộc chi Pluchea đã được sử dụng như chất chống oxy hóa, bảo vệ gan, tác động độc hại cho tế bào, chống loét dạ dày, hạ sốt, chống vi khuẩn, chống nấm, chống virus, chống đau, chống ký sinh trùng và để trung hòa độc tố.
Các phân tích thực vật học của các loài thuộc chi Pluchea đã phát hiện sự hiện diện của các hợp chất flavonoid, tannin, alkaloid, sesquiterpenoid loại eudesmane, monoterpene, lignan glycoside và triterpenoid [2, 4] là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và phát triển các ứng dụng mới trong tương lai. Tổng quan về loài Pluchea pteropoda Hemsl. Phân loại và phân bố Tên khoa học là Pluchea pteropoda Hemsl (P. Tên gọi khác ở Việt Nam là Cúc tần biển, cây Lức, cây Nam sài hồ (Sài hồ nam), Hải sải… Thuộc giới Plantae, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Asterales, họ Asteraceae, chi Pluchea [5].
Cây Sài hồ nam (Pluchea pteropoda) 1 P. pteropoda sống chủ yếu ở các vùng ven biển nhiệt đới châu Á, từ phía Nam Trung Quốc đến khu vực Đông Nam Á,…[6]. pteropoda thường phổ biến ở các tỉnh ven biển, nhiều nhất là ở miền Trung và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. pteropoda là loài cây ưa nước lợ nhưng vẫn có thể sinh trưởng tốt ở các vùng nước ngọt hay nước mặn nên chúng sống chủ yếu ở các khu rừng ngập mặn, các bờ kênh rạch, khu vực cửa sông, ven đường bờ mương ruộng… P.
pteropoda có thể được trồng bằng cành một cách dễ dàng và chịu được ngập úng vào những ngày mưa. Mô tả thực vật Cây thảo sống lâu năm, mang nhiều cành ở phía trên. Lá mọc so le, hình thìa, mép có răng cưa, phiến lá dày, láng ở mặt trên, nhạt màu ở mặt dưới, có mùi thơm hắc. Cụm hoa hình đầu, màu đỏ nhạt, hơi tím tím.
Quả bế có 10 cạnh, có mào lông không rụng. Cây bụi cao 0,5 – 3 m, phân nhánh ở gốc, tiết diện thân tròn, thân non màu xanh, có ít lông mịn. Lá đơn, mọc cách, có mùi hơi hắc, phiến lá dày, cứng dòn, hình bầu dục, bìa lá có răng cưa nhọn hơi sâu và không đều. Lá ở cành mang phát hoa có kích thước khoảng 2 – 4 x 1,5 – 3 cm, rất ít hoặc gần như không có lông.
Cuống lá ngắn khoảng 0,3 cm, cụm hoa đầu hợp thành dạng ngù ở ngọn cành, khi hoa nở có hình chuông hơi thắt ở giữa, kích thước 0,6 – 0,7x 0,4 – 0,5 cm; cuống hoa ngắn khoảng 0,5 – 1 cm. Hoa cái màu trắng ngà, đài hoa là một chùm lông mào màu trắng bẩn dài 0,3 – 0,5 cm; tràng hoa dính nhau bên dưới thành một ống rất hẹp, dài 0,4 – 0,5 mm. Bộ nhuỵ: 2 lá noãn, bầu màu trắng xanh, vòi nhụy màu trắng hồng, nhẵn, dạng sợi dài khoảng 0,4 mm. Hoa lưỡng tính: màu tím nhạt, tràng hoa dính nhau bên dưới thành một ống dài khoảng 0,4 – 0,5 cm, phía trên hơi loe, chỉ nhị màu tím hồng, rời, dài khoảng 0,3 cm, bao phấn màu tím hồng dính nhau thành ống dài khoảng 2 mm bao lấy vòi nhụy, gốc bao phấn có tai tam giác nhọn; hạt phấn màu trắng, hình bầu dục gần cầu, có gai, đường kính 25 – 30 x 17,5 – 27,5 µm; bầu giống ở hoa cái nhưng kích thước ngắn và to hơn; vòi nhụy dạng sợi màu hồng nhạt đậm dần ở đỉnh, dài 0,4 – 0,5 cm, 2 đầu nhụy màu hồng nhạt, dạng máng hẹp.
Quả bế màu nâu nhạt, hình trụ khoảng 1 mm, có túm lông mào của đài tồn tại, mặt ngoài vỏ quả có sọc lồi dọc, có lông ngắn và tuyến rất nhỏ [5, 7]. Mô tả cấu tạo thực vật P. Tình hình tổng quan nghiên cứu về thành phần hóa học. Thành phần hóa học của loài Pluchea pteropoda Hemsl.
Hiện nay, nghiên cứu về thành phần hóa học của cây P. pteropoda trong nước còn khá ít. Năm 2001, từ các dịch chiết từ thân, rễ, lá của P. pteropoda, Đoàn Thanh Tường đã phân lập được 7 hợp chất: taraxast-20(30)-en-3β-yl acetate (taraxasterol acetate) (1), hop-17(21) en-3β-yl acetate (2), hop-17(21)-en-22-ol-3β-yl acetate (3), 26α,27β,28β- neohop-13(18)-en-3β-yl acetate (boemeryl acetate) (4), stimast-5,22-diene-3β-ol (stigmasterol) (5), β-sitosterol (6), β-Sitosterol 3-O-β-D-glucopyranoside (7) [8].
Năm 2005, Nguyễn Thị Chung cũng đã phân lập được 2-(pent-1',3'-diynyl)-5-(3'',4''- dihidroxybut-1''-ynyl)-thiophene (8) [9] và đến năm 2007 thì phân lập được triacontanoic acid (9) [10] từ các bộ phân cây P. 3 1 2 R=H 3 R=OH 4 5 8 6 R=H 7 R=Glc 9 Hình 1. Cấu trúc các hợp chất được phân lập từ P. pteropoda Năm 2023, Đinh Thị Quyên và các cộng sự đã nhận biết sự có mặt của các hợp chất như các hợp chất flavonoid, sterol, saponin, đường khử, và tanin qua các phản ứng hóa học đặc hiệu [11].
Thành phần hóa học của tinh dầu từ cây P. pteropoda đã được nghiên cứu bởi Nguyễn Thị Chung và cộng sự vào năm 2001, và sau đó là Ninh Thế Sơn và cộng sự vào năm 2022. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Chung và cộng sự, họ xác định được 13 hợp chất, trong đó Longifolene chiếm tỷ lệ cao nhất là 61% [12]. Trong nghiên cứu của Ninh Thế Sơn và đồng nghiệp vào năm 2022, họ đã xác định được tổng cộng 29 hợp chất từ tinh dầu của cây P.
pteropoda, với monoterpen và sesquiterpene chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 44,6% và 35,1% [5]. Điều này cho thấy sự đa dạng và phong phú của thành phần hóa học trong tinh dầu của cây P. 4 Ac Ara Caffeoyl EMB Glu Gla Glu6- Api HMCB HMHB MHEB Man Rha Rut Vali Hình 1. Một số ký hiệu sử dụng trong cấu trúc của các hợp chất Bảng 1.
Thành phần hóa học tinh dầu của P. pteropoda [12] STT Tên hợp chất Hàm lượng (%) 1 Δ3- Caren 0,4 2 α- Cucuben 0,8 3 Longifolene 61 4 1β, 4βH, 10βH-Guaia-5, 11-dien 2,5 5 Aristolen 1,2 6 τ-cadinene 1,7 7 Alloaromadendren oxit 10,1 8 (-)-α-Neocloven 2,9 9 Caryophylen oxit 5,0 10 Spathoulennol 1,2 11 Tetracyclo[6.0(1,6)]undecan-3-ol, 2-methylene-6,8,8-trimethyl 3,1 5 Bảng 1. Thành phần hóa học của tinh dầu của P. pteropoda [5] STT Tên hợp chất Rt a RIE b RIL Hàm lượng (%) 1 n-Hexanol 8,43 862 871 0,3 2 Sabinene 11,71 979 975 0,2 3 β-Pinene 11,89 985 979 0,2 4 α-Phellandrene 12,70 1010 1003 0,6 5 p-Cymene 13,36 1029 1026 0,3 6 Limonene 13,52 1034 1029 1,2 7 β-Phellandrene 13,57 1035 1030 0,4 8 Linalool 15,83 1101 1097 0,2 9 Albene 18,24 1170 1167 0,4 10 Terpinen-4-ol 18,80 1186 1177 0,3 11 α-Terpineol 19,23 1198 1189 0,1 12 Thymol methyl ether 20,64 1239 1235 0,5 13 Silphiperfol-5-ene 24,05 1340 1329 0,2 14 Silphin-1-ene 24,79 1362 1351 3,3 15 α-Copaene 25,72 1390 1377 2,2 16 β-Maaliene 26,01 1399 1382 14,0 17 α-Isocomene 26,22 1405 1388 9,0 18 2,5-Dimethoxy-p-cymene 26,97 1429 1417 43,5 19 (E)-β-Caryophyllene 27,24 1438 1419 3,9 20 α-Humulene 28,32 1472 1455 1,6 21 γ-Amorphene 29,50 1511 1496 0,2 22 δ-Cadinene 30,29 1537 1523 1,0 23 (E)-Nerolidol 31,55 1579 1563 0,4 24 Neryl isovalerate 31,75 1586 1583 2,7 25 Caryophyllene oxide 32,31 1605 1584 0,6 26 1-Epi-cubenol 33,49 1647 1629 0,2 27 α-Cadinol 34,22 1673 1654 0,9 28 Geranyl valerate 34,33 1676 1659 1,8 29 Geranyl tiglate 34,97 1699 1696 0,2 Tổng 90,4% a Chỉ số lưu giữ của dãy n-alkanes (C7-C30) trên cột HP5-MS.