Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Đồng Nai sở hữu bề dày lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, là trung tâm kinh tế năng động thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với quy mô dân số năm 2018 đạt 3.086.070 người và diện tích tự nhiên 5.907 km². Song hành cùng tốc độ phát triển công nghiệp với 31 khu công nghiệp tập trung và mức tăng trưởng GRDP bình quân trên 12%/năm giai đoạn 2000 – 2015, Đồng Nai đang lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ gồm hơn 1.500 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, 50 ngôi mộ cổ và 57 di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng. Tuy nhiên, áp lực từ quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã đặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với việc gìn giữ tính nguyên vẹn của các di sản vật thể và phi vật thể trước nguy cơ xuống cấp, xâm hại và mai một.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là tái hiện bức tranh toàn diện về hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong 20 năm (1998 – 2018), đánh giá khách quan các thành tựu và hạn chế, đồng thời đúc kết bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả quản trị văn hóa trong thời kỳ mới. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 11 đơn vị hành chính của tỉnh gồm thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh và 9 huyện lân cận. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa các chỉ số bảo tồn, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ quy hoạch văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030, hỗ trợ chính quyền địa phương định hình giải pháp cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn nguồn lực nội sinh văn hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên hai trường phái lý thuyết bảo tồn di sản tiêu biểu trên thế giới: lý thuyết "bảo tồn nguyên vẹn" theo quan điểm của Gregory J. Ashworth (nhấn mạnh việc bảo vệ cấu trúc gốc, cách ly di sản khỏi những tác động tiêu cực của đời sống đương đại) và lý thuyết "bảo tồn trên cơ sở kế thừa, thích ứng" của các học giả Alfrey, Putnam, Boniface và Fowler (coi di sản là nguồn tài nguyên nhân văn của công nghiệp văn hóa và du lịch). Đồng thời, tác giả vận dụng các nguyên tắc từ Hiến chương Athen (1931), Hiến chương Venice (1964), Hiến chương Burra (1981, sửa đổi 1999) và Công ước Di sản Thế giới (1972) để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được xây dựng chuẩn xác theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009:

  • Di sản văn hóa vật thể: Các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học như di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
  • Di sản văn hóa phi vật thể: Sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng, được lưu truyền qua truyền khẩu, diễn xướng dân gian, lễ hội và tri thức làng nghề.
  • Hoạt động bảo tồn và phát huy: Chuỗi tác động chuyên môn nhằm duy trì tính bền vững của di sản và chuyển hóa giá trị văn hóa thành động lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình 20 năm vận hành công tác di sản trong sự gắn kết chặt chẽ với bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo phương pháp tổng điều tra toàn diện trên 100% hệ thống 57 di tích đã xếp hạng (gồm 2 di tích quốc gia đặc biệt, 29 di tích cấp quốc gia và 25 di tích cấp tỉnh), kết hợp khảo sát phân tầng 123 ngôi đình làng, 376 ngôi chùa, 347 lễ hội truyền thống và hơn 400 ngôi nhà cổ phân bố tại 11 huyện, thành phố.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp điền dã thực địa, phỏng vấn chuyên sâu và thống kê định lượng xuất phát từ tính đa dạng của nguồn tư liệu văn hóa. Tác giả tiến hành khai thác 64 danh mục tài liệu chuyên khảo, các hồ sơ kiểm kê di tích từ Bảo tàng Đồng Nai, báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai từ năm 1998 đến năm 2018. Việc xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả giúp đối chiếu rõ nét sự biến thiên của nguồn kinh phí trùng tu và hiệu quả xếp hạng di tích qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ sinh thái di sản văn hóa vật thể tại Đồng Nai mang tính đa dạng cao nhưng có sự phân bố không đồng đều giữa các tiểu vùng địa lý. Toàn tỉnh hiện diện 123 ngôi đình làng, trong đó thành phố Biên Hòa tập trung 41 đình (chiếm 33,33%) và huyện Vĩnh Cửu có 37 đình (chiếm 30,08%), phản ánh không gian định cư trù phú ven sông Đồng Nai từ thế kỷ XVII; ngược lại, các huyện miền núi như Xuân Lộc, Trảng Bom chỉ có 1 đình mỗi huyện (chiếm 0,81%). Về kiến trúc tôn giáo, tỉnh có 376 ngôi chùa, tiêu biểu với 3 chùa cổ được xếp hạng quốc gia là Đại Giác, Long Thiền và Bửu Phong. Hệ thống nhà ở dân gian lưu giữ hơn 400 công trình nhà rường, nhà rọi chữ đinh và sắp đọi có niên đại hàng thế kỷ.

Thứ hai, công tác xếp hạng và bảo quản di tích ghi nhận bước tiến nhảy vọt trong 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII. Trước năm 1998, toàn tỉnh mới chỉ lập hồ sơ xếp hạng được 22 di tích (20 di tích cấp quốc gia, 2 di tích cấp tỉnh). Đến giai đoạn 1998 – 2018, tổng số di tích được công nhận đã nâng lên 57 công trình, đạt mức tăng trưởng hơn 159%, trong đó có 2 di tích xếp hạng Quốc gia đặc biệt gồm Mộ Cự thạch Hàng Gòn (xếp hạng năm 2015) và Căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Kho cơ sở của Bảo tàng tỉnh Đồng Nai đã sưu tầm, lưu giữ và quản lý trên 16.000 hiện vật, tài liệu khoa học quý giá.

Thứ ba, kho tàng di sản văn hóa phi vật thể duy trì sức sống bền bỉ với 347 lễ hội truyền thống (nổi bật là Lễ hội Kỳ yên, Sayangva của người Chơro, Lồng Tồng của người Tày - Nùng) cùng hệ thống nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo như hát bội, hát bóng rỗi. Tuy nhiên, các làng nghề thủ công trứ danh như nghề điêu khắc đá Bửu Long, làng gốm Biên Hòa hay nghề đúc gang Thạnh Phú đang đứng trước nguy cơ suy giảm quy mô sản xuất do thiếu hụt lực lượng lao động trẻ kế cận và khả năng cạnh tranh thương mại.

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu dữ liệu nghiên cứu với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai (nông nghiệp giảm từ 22,2% năm 2005 xuống 5,0% năm 2018, công nghiệp - xây dựng chiếm 57,9%, dịch vụ chiếm 37,1%), kết quả có thể được minh họa sinh động qua biểu đồ cơ cấu nguồn vốn và bảng tương quan phân cấp quản lý. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh đã tạo điều kiện tăng cường nguồn ngân sách nhà nước và huy động hàng trăm tỷ đồng vốn xã hội hóa cho các dự án trùng tu cấp thiết như Đài Chiến sĩ, Thành cổ Biên Hòa, Chùa Bửu Phong và Chùa Long Thiền.

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên các thành tựu trên xuất phát từ sự chỉ đạo nhất quán của Tỉnh ủy Đồng Nai qua Nghị quyết 39-NQ/TU năm 1998, cùng việc ban hành kịp thời các văn bản quản lý nhà nước như Quyết định số 64/2009/QĐ-UBND và Quyết định số 39/2018/QĐ-UBND về phân cấp quản lý di tích. Ngược lại, những hạn chế về tình trạng xâm hại di tích, mất cắp cổ vật hay thương mại hóa lễ hội bắt nguồn từ sự thiếu hụt nhân lực chuyên môn tại cấp huyện, xã. So với các trung tâm di sản lớn trong cả nước, Đồng Nai chưa khai thác hết tiềm năng kinh tế di sản để tạo thành chuỗi giá trị du lịch văn hóa bền vững kết nối giữa di tích lịch sử và hệ sinh thái du lịch sinh thái rừng - hồ Trị An.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý và số hóa di sản: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai cần chủ trì rà soát, chuẩn hóa quy trình phân cấp quản lý theo Quyết định 39/2018/QĐ-UBND. Đặt mục tiêu đến năm 2025 hoàn thành 100% việc cắm mốc giới bảo vệ và số hóa dữ liệu 3D cho toàn bộ 57 di tích đã xếp hạng trên địa bàn tỉnh.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư và xã hội hóa bảo tồn: Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cần chủ động xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức tôn giáo và cộng đồng dân cư tham gia trùng tu 123 ngôi đình làng và hơn 400 ngôi nhà cổ. Phấn đấu nâng tỷ trọng vốn huy động xã hội hóa đạt từ 40% đến 50% trong tổng kinh phí tôn tạo di tích giai đoạn 2021 – 2030.

Thứ ba, phát triển sản phẩm du lịch di sản đặc thù: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh phối hợp cùng các doanh nghiệp lữ hành xây dựng 3 đến 5 tuyến du lịch chuyên đề kết nối di sản khảo cổ Mộ Cự thạch Hàng Gòn, di tích lịch sử cách mạng Chiến khu Đ, Căn cứ Rừng Sác với hệ sinh thái sông Đồng Nai. Thiết lập mục tiêu tăng trưởng lượng khách tham quan di sản văn hóa đạt từ 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2022 – 2027.

Thứ tư, bảo tồn sống di sản phi vật thể và làng nghề truyền thống: Hội đồng Di sản văn hóa tỉnh cần tham mưu chính sách tôn vinh, trợ cấp hàng tháng cho các nghệ nhân dân gian nắm giữ bí quyết nghề gốm Biên Hòa, chạm khắc đá Bửu Long và nghệ thuật diễn xướng dân gian. Thực hiện phục dựng nguyên bản 100% các lễ hội dân tộc thiểu số như lễ cúng Thần Lúa Sayangva trước năm 2025 nhằm giữ gìn bản sắc cộng đồng bản địa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên văn hóa: Cung cấp khung tham chiếu thực tiễn về cơ chế phân cấp quản lý di tích, giải pháp quản trị lễ hội và phương pháp lập hồ sơ khoa học phục vụ quy hoạch văn hóa địa phương.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Việt Nam học: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng chuẩn xác về 57 di tích xếp hạng, lịch sử hình thành 123 đình làng và không gian văn hóa khảo cổ học miền Đông Nam Bộ.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch: Nguồn dữ liệu phong phú để khảo sát, định vị tuyến điểm du lịch văn hóa - lịch sử, xây dựng các tour trải nghiệm di sản và sản phẩm du lịch học đường tại Đồng Nai.

Nhóm ban quản lý di tích cơ sở và cộng đồng dân cư: Tài liệu hướng dẫn thiết thực về quy chuẩn trùng tu di tích, quy trình bảo tồn hiện vật cổ và phương thức tổ chức lễ hội truyền thống văn minh theo đúng quy định pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn phân loại hệ thống di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai như thế nào? Luận văn phân loại di sản Đồng Nai thành hai khối chính: Di sản vật thể (gồm 57 di tích xếp hạng, tiêu biểu với Mộ Cự thạch Hàng Gòn, Thành cổ Biên Hòa, 123 đình làng, 376 ngôi chùa, hơn 400 nhà cổ và trên 16.000 hiện vật bảo tàng) và Di sản phi vật thể (347 lễ hội truyền thống, nghề gốm Biên Hòa, điêu khắc đá Bửu Long, nghệ thuật hát bội, bóng rỗi).

Vì sao giai đoạn 1998 – 2018 được lựa chọn làm mốc thời gian nghiên cứu? Năm 1998 đánh dấu bước ngoặt khi Trung ương ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Tỉnh ủy Đồng Nai ra Nghị quyết số 39-NQ/TU. Năm 2018 là thời điểm tổng kết tròn 20 năm thực hiện đường lối văn hóa này, cho phép đánh giá toàn diện các chỉ số phát triển.

Thực trạng bảo tồn các di tích khảo cổ học tại Đồng Nai có điểm gì đặc thù? Đồng Nai phát hiện hơn 100 di chỉ khảo cổ thời tiền sử và sơ sử, song mới chỉ có Mộ Cự thạch Hàng Gòn được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt năm 2015. Phần lớn các địa điểm còn lại như Cầu Sắt, Suối Chồn hiện ở dạng phế tích hoặc nằm trong vùng rừng tự nhiên, đòi hỏi các giải pháp khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt.

Tỷ lệ phân bố đình làng tại Đồng Nai phản ánh điều gì về lịch sử định cư? Toàn tỉnh có 123 ngôi đình, nhưng phân bố tập trung dày đặc ở thành phố Biên Hòa (41 đình) và huyện Vĩnh Cửu (37 đình), chiếm tới 63,41% tổng số đình toàn tỉnh. Số liệu này chứng minh không gian ven sông Đồng Nai là cái nôi khai phá sớm nhất của người Việt từ thế kỷ XVII khi lập dinh Trấn Biên.

Giải pháp nào mang tính quyết định để kết nối di sản văn hóa với phát triển kinh tế? Giải pháp then chốt là xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch di sản chuyên đề gắn với hạ tầng giao thông đồng bộ. Việc kết nối các di tích lịch sử cách mạng như Chiến khu Đ, Căn cứ Rừng Sác với các làng nghề truyền thống sẽ biến di sản thành nguồn tài nguyên du lịch sinh lợi, tạo nguồn thu tái đầu tư cho bảo tồn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai trong 20 năm (1998 – 2018).
  • Lượng hóa các thành tựu nổi bật với sự gia tăng từ 22 di tích xếp hạng lên 57 di tích (trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt) và quản lý hơn 16.000 hiện vật quý giá.
  • Luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn di sản văn hóa và tăng trưởng kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược về hoàn thiện thể chế số hóa, xã hội hóa nguồn vốn, phát triển du lịch di sản và bảo tồn sống làng nghề truyền thống giai đoạn 2021 – 2030.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền, nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp chung tay hành động, biến di sản văn hóa Đồng Nai thành động lực nội sinh mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững của địa phương.