MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Làng nghề - một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển làng nghề đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết lao động nông nhàn, tăng thu nhập ở nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đảng và Nhà nước nhận thức được tầm quan trọng của làng nghề nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước, đã ban hành hàng loạt chính chính sách hỗ trợ lĩnh vực kinh tế này.
Trong nghị quyết 26/NQTW tại hội nghị 7/2008 của ban chấp hành Trung Ương khóa X của Đảng cộng sản Việt Nam về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” đã khẳng định việc phát triển bền vững các nghành nghề ở nông thôn có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển của làng nghề Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế như: các làng nghề mang tính tự phát, nhỏ lẻ; trang thiết bị thủ công, đơn giản, công nghệ lạc hậu; hiệu quả sử dụng nguyên, nhiên liệu thấp; ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe chưa cao. Làng nghề đứng trước nhiều khó khăn như thiếu thông tin thị trường, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, khả năng cạnh tranh thấp, môi trường ở nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế.
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung Du và miền núi phía Bắc nơi hội tụ của nhiều của nhiều giá trị tự nhiên và văn hóa. Bên cạnh đó, Thái Nguyên còn là vùng đất nổi tiếng về nghề truyền thống trồng và chế biến chè, cùng với nhiều làng nghề chè truyền thống nổi tiếng được hình thành từ lâu đời. Ở Thái Nguyên, cây chè là cây trồng chủ lực góp phần xóa đói giảm nghèo và n 2 hiện nay chè còn được coi là cây làm giàu của nhiều hộ dân. Cây chè không những đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần giải quyết vấn đề việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cuộc sống người dân.
Và cây chè còn giúp phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo đất, tăng độ phì đất, bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó sản phẩm chè hiện nay là mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng. Thái Nguyên rất chú trọng việc khôi phục và phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh đặc biệt là làng nghề chè truyền thống. Hiện nay, trên toàn tỉnh có 162 làng nghề, trong đó có 140 làng nghề chè truyền thống.
Việc bảo tồn, khôi phục các làng nghề thủ công truyền thống nói chung và làng nghề chè nói riêng (bảo vệ, lưu giữ, truyền lại) và phát huy giá trị để làng nghề có thể tiếp tục phát triển bền vững là rất cần thiết. Tuy nhiên các làng nghề chè vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu nên hiệu quả sản xuất kinh doanh chè chưa cao, chưa giải quyết được vấn đề đầu ra ổn định cho sản phẩm chè của các hộ làng nghề, sản phẩm làng nghề chưa có thương hiệu khả năng cạnh tranh với sản phẩm thị trường không cao, ô nhiễm môi trường xung quanh làng nghề. Năng lực quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế chung còn kém. Mối liên kết giữa làng nghề với nhau và với doanh nghiệp còn lỏng lẻo.
Để nghiên cứu tình trạng trên và đưa ra giải pháp nhằm phát triển làng nghề chè, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển làng nghề chè truyền thống tại địa bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng làng nghề chè tại xã Phúc Xuân, từ đó đưa ra một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của làng nghề tại vùng chè đặc sản xã Phúc Xuân. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng phát triển của làng nghề chè tại xã Phúc Xuân.
- Phân tích được thuận lợi và khó khăn trong phát triển làng nghề chè. - Đề xuất một số giải phát thúc đẩy sự phát triển của làng nghề chè. Ý nghĩa khoa học của luận văn Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, tạo điều kiện cho sinh viên tích lũy kiến thức và kinh nghiệm trong thực tiễn. - Rèn luyện các kỹ năng thu thập và xử lý số liệu, viết báo cáo.
- Dùng làm tài liệu tham khảo và góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển các đề tài khác. Ý nghĩa thực tiễn Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề tại xã Phúc Xuân và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề. Trên cở sở đó đề xuất giải pháp phát triển làng nghề tại xã phúc xuân. n 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm cơ bản về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống - Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. [6] - Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. [6] - Làng nghề là khi một làng nào đó ở nông thôn có một hay một số nghề thủ công được tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập thì đó là làng nghề.
[6] - Làng nghề truyền thống là đơn vị dân cư cùng làm sản xuất những mặt hàng có từ lâu đời, những sản phẩm này có nét đặc thù riêng đặc trưng cho vùng và con người ở đó. [6] * Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống. - Tiêu chí công nhận nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí: + Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm đề nghị công nhận. + Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.
+ Nghề gắn với tên tuổi của một hoặc nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của một làng nghề. [6] n 5 - Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí: + Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn. + Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. + Chấp hành tốt chính sách pháp luật nhà nước.
[6] - Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống. Phân loại làng nghề Hiện nay có nhiều cách phân loại làng nghề gồm: Phân loại theo tuổi đời làng nghề (có làng nghề truyền thống và làng nghề mới). Phân loại theo quy mô sản xuất và quy trình công nghệ. Phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm.
Phân loại theo nguồn nước thải và mức độ ô nhiễm. Phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phân loại theo mức độ sử dụng nguyên liệu. Dựa vào tổng hợp các tiêu chí phân loại trên, làng nghề được phân thành các nhóm chính sau đây: Làng nghề dệt, nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Các làng nghề này thường có từ lâu đời, có sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, bản sắc địa phương như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may… Quy trình sản xuất không thay dổi nhiều, với lao động tay nghề cao.
Tại các làng nghề này lao động nghề thường là lao động chính cao hơn tỷ lệ lao động nông nghiệp. [3] Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: Số lượng làng nghề lớn, phân bố khá đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao n 6 động nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và ít thay đổi quy trình sản xuất so với thời điểm khi làng nghề hình thành. Các làng nghề truyền thống như nấu rượu, đậu phụ, bánh đa nem, miến dong, bún, bánh… Với nguyên liệu chính là gạo, khoai ngô, sắn, đậu, mỳ. Phế phụ phẩm cảu các sản phẩm này thường được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình.
Ngoài ra, các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng xếp vào loại hình làng nghề này. Đa số các làng nghề nằm ở phía bắc với công nghệ sản xuất từng bước cơ khí hóa. [3] Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng. Lao động gần như hoàn toàn thủ công, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay đổi.
[3] Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Gồm các làng nghề gốm, sành sư, thủy tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, sản xuất mây tre đan, chạm mạ vàng bạc, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren… Đây là nhóm nghề chiếm tỷ trọn lớn về số lượng, có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét văn hóa đặc trưng địa phương, dân tộc. Lao động đòi hỏi có tay nghề cao, chuyên môn hóa, tỷ mỷ và sáng tạo, quy trình sản xuất ít thay đổi. [3] Các nhóm nghề khác: Gồm ngành nghề chế tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt, đan vó, đan lưới… Những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu đời, sản phẩm phục vụ trực tiếp nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương. Lao động thủ công với số lượng và chất lượng ổn định.
[3] n 7 Bộ Tài Nguyên và Môi trường dự báo, nhìn chung số lượng làng nghề trong tương lai có xu hướng tăng lên trừ ngành vật liệu xây dựng sẽ giảm do phải cạnh tranh với nhiều sản phẩm sản xuất công nghiệp.