Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Lịch sử nghiên cứu van đề Trong cuộc sống hàng ngày, các sự vật, hiện tượng đều mang các đặc điểm, thuộc tính, tính chất, trạng thái nhất định và các đặc điểm, thuộc tính, tính chất, trạng thái đó đều có thể khác nhau về mức độ hoặc cấp độ. Ví dụ với tính chất "nóng", chúng ta có thé có các mức độ: nóng, oi, oi bức, ham hập, hôi hồi hơi nóng, rất nóng, quá nóng, vô cùng nóng, không nóng lắm. Đặc điểm ngoại hình của một cô gái có thể có các mức độ: hơi xinh, khá xinh, xinh, rất xinh, xinh đẹp, đẹp, đẹp hết sảy, mỹ miêu, đẹp nghiêng nước nghiêng thành.
Chính vì vậy, trong các ngôn ngữ luôn sẽ có các phương tiện ngôn ngữ khác nhau dé biéu đạt ý nghĩa mức độ hoặc cap độ. Các nghiên cứu đã có đều phan lớn thống nhất quan điểm cho rang, số lượng phương tiện biểu thị mức độ hiện có trong tiếng Việt rat lớn, ngoài phụ từ chỉ mức độ, từ láy, từ ghép, ngữ ghép, thành ngữ, quán ngữ, rất nhiều trường hợp có nghĩa chuyên chỉ mức độ. Chính vì vậy, từ trước đến nay, từ ngữ chỉ mức độ và vấn đề dải mức độ trên thang độ tiếng Việt nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu [11, tr. Có thé nói, trong các phương tiện biểu thị mức độ hiện có trong tiếng Việt, số lượng hư từ so với thực từ tiếng Việt tuy không nhiều bằng, nhưng tiếng Việt với bản chất đơn tiết tính và sử dụng phương thức ngữ pháp phổ biến là hư từ thì tần suất hoạt động của hư từ lại lớn, và ý nghĩa mức độ được thể hiện qua hư từ cũng là chủ đề được nhiều người quan tâm.
Một số nghiên cứu về ý nghĩa mức độ đã được công bố, nhưng vẫn còn có những ý kiến khác nhau xoay quanh việc nhận diện khái niệm từ chỉ mức độ về mặt từ loại, việc phân chia số lượng cũng như cách gọi tên các thang bậc ý nghĩa mức độ. 11 Trong bài viết “Cách sử dụng các phó từ chỉ mức độ “rất, quá, lắm, hơi, khá” (1995), tác giả Dinh Lê Thư đã gọi các từ như rát, quá, lắm, hơi, khá là các phó từ chỉ mức độ và phân biệt các phó từ chỉ mức độ theo hai bậc là: Thấp -> cao (mức độ thấp: hoi, khá; mức độ cao: rat, quá, lắm) và miêu tả các mặt ý nghĩa, khả năng kết hợp cũng như tần số xuất hiện để làm rõ các đặc điểm của các phó từ theo các mức độ trên. Nguyễn Thi Bích Liên (2006) trong luận văn thạc sĩ Tim hiểu đặc điểm ngữ pháp - từ vựng của tô hợp từ có trạng từ chỉ mức độ cao trong tiếng Anh và tiếng Việt đã lựa chọn đối tượng nghiên cứu là trạng từ chỉ mức độ cao trong tiếng Anh và do đó, cũng đã nhận diện các đơn vị như rat, quá, lắm. trong tiếng Việt là các trạng từ chỉ mức độ, cụ thể là trạng từ chỉ mức độ cao.
Tác giả cho răng trạng từ chỉ mức độ cao trong tiếng Việt cũng có khả năng kết hợp với động từ. Tuy nhiên, so với các trạng từ khác, khả năng kết hợp với động từ của các trạng từ chỉ mức độ cao không hoàn toàn tự do. Nói cách khác, trạng từ chỉ mức độ cao không có nhiều tiềm năng kết hợp với động từ. Trong khi đó, các trạng từ chỉ mức độ cao trong tiếng Việt như: khá, lắm, rất, đại, quá,cực, vô cùng, rõ, thật, tuyệt, hết Sức, quá thể có thê kết hợp không hạn chế với các tính từ [13, tr.
Trong bài viết “Ý nghĩa chỉ mức độ và cách dùng của các đơn vị chỉ mức độ trong tiếng Việt” (2011), tác giả Phạm Hùng Dũng cho rằng sự phân biệt rạch ròi giữa các ý nghĩa mức độ chỉ là tương đối, ý nghĩa mức độ được biểu hiện thông qua các phó từ có ba thang bậc là: Thấp -> cao -> cực cấp. Ba thang bậc này được tác giả gọi là các dai mức độ và liệt kê 17 phó từ như Sau: Thấp: “Hơi, khá, khí” -> Cao: “Ghê, lạ, lắm, quá, rat, tệ, thậm” -> Cực cấp: “Chí, chúa, cực, đại, tối, cực, siêu”. Bài viết “Cách thể hiện ý nghĩa mức độ trong tiếng Việt và tiếng Anh” (2017) của tác giả Ngô Thị Ngọc Thao đã mô tả hệ thống chin cách 12 thể hiện ý nghĩa mức độ trong tiếng Việt và so sánh, đối chiếu sang tiếng Anh [20, tr. Theo bảng đối chiếu của tác giả, tiếng Việt có 9 cách thé hiện ý nghĩa mức độ, trong đó cách dùng phụ từ trong tiếng Việt và đối chiếu với phụ từ tương đương trong tiếng Anh.
Kết quả của tác giả như sau: - Trong tiếng Việt và tiếng Anh đều có nhiều phụ từ mô tả ý nghĩa mức độ trên trung bình (từ khá cao đến cực cao), nhưng rất ít từ chỉ mức độ dưới trung bình (từ mức hơi thấp đến cực thấp). Các từ chỉ mức độ dưới trung bình hầu hết là các từ chỉ số lượng hoặc chỉ tần suất (mức độ thường xuyên) chuyên sang dùng dé chỉ mức độ của tính chat, trạng thái, các từ này được dùng khá thường xuyên trong tiếng Anh và nó còn được xem như phụ từ. - Ở mức độ cực thấp, tiếng Việt sử dụng cấu trúc phủ định có các từ ngữ chỉ số lượng bat định như: chút nào, một chút nào, một ti gi, V., còn tiếng Anh thì dùng những trạng từ chỉ tần suất (adverb of frequency): hardly, scarcely, barely, ba từ này của tiếng Anh được xem như là phụ từ chỉ mức độ. - Một số phụ từ chuyên dùng để miêu tả mức độ trong hai ngôn ngữ có sự tương ứng cao về nghĩa (vd: rat tương ứng với very, gud tương ứng với too, khá” tương ứng quite, pretty, fairly).
- Đề thé hiện ý nghĩa cực cao, tiếng Việt có một số phụ từ có cấu tao từ một yêu tố mang ý nghĩa không xác định mức giới hạn như: vô, bắt, hết, khôn, không, v. (vô cùng, bat tận, hết mức), trong tiếng Anh không có trường hop như thé mà chỉ có thé chuyền dich qua biéu thức tương đương. - Một số phụ từ chỉ mức độ trong tiếng Việt khi kết hợp với từ khác dé tạo thành những cụm từ cô định (vd: “rat” - rất chi là, rất ư là, rất mực. ), thì z cc ^^ những cụm từ này mang các sắc thái ý nghĩa khác nhau, còn tiếng Anh thì dùng các trạng từ có nguồn gốc từ những tính từ có ý nghĩa mức độ cao (vd: totally, extremely, completely, greatly.
13 - Ý nghĩa sắc thái của các phụ từ chỉ mức độ trong tiếng Anh và tiếng Việt còn có sự đối lập giữa nét nghĩa tích cực và tiêu cực ở một số phụ từ (vd: khá thường biểu hiện mang ý khen, trái ngược với khí thường mang ý chê. Trong tiếng Anh, các phụ từ như rather và fairly, quite đều có nghĩa tương đương với khá, khí trong tiếng Việt. Rather mang nghĩa tiêu cực, còn fairly va quite mang nghĩa tích cực. Các phụ từ biểu hiện mức độ cao: rất, quá, lắm thì rất mang mau sắc trung tính còn qud, lắm mang thêm sắc thái biểu cảm cao.
Trong tiếng Anh cũng có ba từ thé hiện ý nghĩa mức độ cao tương ứng là very, too, so. “very mang mau sac trung tính còn foo, so mang sắc thái biểu cảm cao. Như vậy, bài viết này đã đối chiếu phương tiện trong tiếng Việt với phương tiện tương đương trong tiếng Anh và cũng đã thực hiện so sánh cách dùng phụ từ dé thé hiện ý nghĩa mức độ trong tiếng Việt và tiếng Anh ở bình diện ngữ nghĩa nhưng chưa bàn đến bình diện khác. Như vậy vẫn còn khoảng trống dé luận văn của chúng tôi tiếp tục bé sung.
Nghiên cứu của Võ Tú Phương trong luận án Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Potter) (2011), tác giả đã nhận xét rằng, phụ từ tiếng Việt và trạng từ tiếng Anh đều biểu thị các ý nghĩa về thời gian, thé trạng và mức độ nhưng trạng từ tiếng Anh là thực từ còn phụ từ tiếng Việt là hư từ. Như vậy, theo tác giả, phụ từ chỉ mức độ trong tiếng Việt tương đương có thể có đơn vị tương đương là trạng từ trong tiếng Anh. Điều này tiếp tục được tác giả chỉ ra trong nghiên cứu tiếp theo đó. Không trực tiếp nghiên cứu về mức độ nhưng tác giả Võ Tú Phương (2018) trong bài viết Trạng từ tiếng Anh và phụ từ tiếng Việt đã đề cập đến các trạng từ chỉ ý nghĩa mức độ khi nhận diện trong tiếng Anh "trang tir (adverb) là từ thêm thông tin về nơi chốn, thời gian, hoàn cảnh, cách thức, mức độ.
cho một động từ, một tính từ, một cum từ hay một trang từ khác" [18, tr. Còn 14 trong tiếng Việt, tác giả cho rằng có một đơn vị từ là là phụ từ và phụ từ "không có ý nghĩa thực, ý nghĩa từ vựng dé biểu thị tên goi, hoạt động, trang thái hay tinh chất, số lượng của sự vật và nó cũng không có ý nghĩa xưng ho, chỉ định hay thay thé tên gọi của sự vật, hiện tượng mà phụ từ chỉ mang ý nghĩa ngữ pháp nào đó tùy theo từ loại mà chúng di kèm, bồ nghĩa. phụ từ chỉ mức độ là phụ từ dé biểu thị nghĩa ngữ pháp về mức độ, ví dụ như: rất, khá, khí, hơi, qua, lắm, thật, hoàn toàn, hết sức, tuyệt đối. Như vậy, có thé thấy rằng, theo quan niệm của tác giả, trang từ trong tiếng Anh và phụ từ trong tiếng Việt có thé coi là hai phương tiện biểu thị ý nghĩa mức độ tương đương.
Tác giả Lê Thị Quynh (2020) trong luận văn “Đặc điểm của nhóm phó từ chỉ mức độ trong tiếng Viét” đã phân biệt các nhóm phó từ chỉ mức độ theo bốn bậc: Thấp -> Vừa -> cao -> Cực cấp. Theo cách chia thang độ này, tác giả đã liệt kê 27 phó từ chỉ mức độ đi cùng mỗi bậc như sau: Thấp: “Hơi, khí, kém” -> Vừa: “Tương đối, khá” -> Cao: “Quá, đại, thậm, rất, lắm, ra sức, hết sức, hết mức, hết mực, quá đỗi, rất mực, chúa, vạn phần, vạn bội, bội phần” -> Cực cấp: “Chí, tối, cực, cực kì, cực lực, kịch liệt, vô cùng”. Như vậy, có thể nhận thấy khi nghiên cứu về ý nghĩa mức độ, các tác giả đã có những quan điểm khác nhau trong việc gọi tên nhóm từ này là phó từ chỉ mức độ hay phụ từ chỉ mức độ, đồng thời ít nhiều có sự khác biệt trong việc xác định các cấp độ và phân chia từ thuộc mỗi cấp độ.