PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1 Hiện nay, nhu cầu học tiếng Việt của người nước ngoài ngày càng tăng. Đó là một hệ quả tất yếu của sự hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa. Nước ta đang từng bước khẳng định vị trí của mình trên toàn thế giới với một nền kinh tế tăng trưởng mạnh và là một thị trường đầu tư hấp dẫn.
Do đó, hàng năm lượng người nước ngoài đến sinh sống học tập và làm việc ở nước ta ngày càng tăng. Phần lớn họ đều có nhu cầu học tiếng Việt. Việc này giúp họ phá vỡ rào cản ngôn ngữ để giao tiếp và hiểu rõ hơn về con người, văn hóa Việt Nam. Đáp ứng nhu cầu đó, hoạt động dạy tiếng Việt cũng ngày càng đa dạng hơn, cả về đối tượng học và về người dạy học.
Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã có khá nhiều, tuy nhiên chưa thực sự triệt để và chuyên nghiệp. Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã diễn ra từ nhiều năm nay. Dạy tiế ng Viê ̣t cho người nước ngoài đã và đang dầ n dầ n trở thành mô ̣t phong trào trong nước và ngoài nước. Trong điề u kiê ̣n hô ̣i nh ập, phong trào da ̣y và ho ̣c tiế ng Viê ̣t đang có xu hướng phát triể n ngày mô ̣t ma ̣nh mẽ hơn.
Vì vậy, nô ̣i dung và phương pháp dạy tiếng Việt đang từng bước được cải tiến , trên cả ba phương diê ̣n ngữ âm , từ vựng, ngữ pháp.2 Từ thập niên 90 cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã và đang áp dụng “tiến trình giao tiếp” (the Communicative Language Teaching Approach) để giảng dạy ngôn ngữ. Sở dĩ tiến trình giao tiếp được toàn cầu hóa như vậy là do những công trình nghiên cứu và kết quả những cuộc thử nghiệm và áp dụng giảng dạy. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, và mục đích của việc học ngôn ngữ là để giao tiếp. Theo quan điểm truyền thống, dạy ngôn ngữ theo tiến trình cấu trúc 6 z (structural approach), việc dạy ngôn ngữ chú trọng dạy cho học sinh nhiều kiến thức về từ pháp và cú pháp, đặc biệt chú trọng về từ loại.
Trái lại, quan điểm của tiến trình giao tiếp là dạy cho người học biết về đặc điểm cấu trúc của ngôn ngữ nhưng là để dùng trong giao tiếp chứ không phải biết nhiều mà không dùng được. Riêng về phương diê ̣n ngữ pháp , trong việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung, việc dạy và học tiếng Việt nói riêng, ngày nay người ta đang có xu thế chuyển dần từ da ̣y ngữ pháp mô tả sang ngữ pháp giao tiế p , với các phát ngôn là đố i tươ ̣ng chính. Hạt nhân của các phát ngôn là các sự tình (state affairs). Trong tiế ng Viê ̣t, đa phầ n các sự tin ̀ h đươ ̣c biể u thi ̣bằ ng Vi ̣ngữ – Động từ.
Như vâ ̣y, nế u muố n đa ̣t hiê ̣u quả trong dạy và học tiế ng Viê ̣t t hì viê ̣c ho ̣c và rèn luyê ̣n đô ̣ng từ cũng như cách dùng động từ tất yếu cần được ưu tiên.3 Để bắt đầu học bất kì một ngoại ngữ nào người ta cũng đều bắt đầu từ “từ” – đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, mà trong đó, vị từ được coi là loại từ có tính phổ quát nhất, có vai trò thiết yế u nhất trong việc tạo câu (đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của con người). Vị từ là những từ có khả năng tự mình làm vị ngữ hoặc hạt nhân ngữ nghĩa của một vị ngữ biểu thị nội dung sự tình của thế giới đươ ̣c nói đế n trong câu. Động từ là loại từ có số lượng rất lớn và có đặc tính hết sức phức tạp. Về vai trò ngữ pháp, động từ là trung tâm của phần lớn câu tiếng Việt.
Trong tiếng Việt, người ta đã thống kê được, số câu mà có vị ngữ là động từ chiếm 88% (theo Nguyễn Kim Thản, 1977). Do có địa vị quan trọng trong hệ thống từ loại mà động từ luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Qua một số công trình nghiên cứu như: Từ loại tiếng Việt I & II của Đinh Văn Đức, Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong, Các động từ chỉ hướng trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, Kết trị của động từ Tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc. ta thấy diện mạo của động từ ngày càng trở nên rõ ràng hơn.
7 z Bên cạnh đó, lí thuyết kết trị (theory of valence) là một lí thuyết ngôn ngữ học quan trọng. Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã có ảnh hưởng lớn và được vận dụng rộng rãi vào việc nghiên cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các ngôn ngữ, trong đó có các ngôn ngữ đơn lập.4 Cho đế n nay , chưa có bấ t kì mô ̣t tài liê ̣u nào lâ ̣ p danh sách đô ̣ng từ với tư cách là một hướng dẫn cho người học. Bởi vâ ̣y , ở luận văn này , chúng tôi chủ trương bù đắ p vào sự thiế u hu ̣t đó , bằ ng cách tiế n tới xây dựng mô ̣t từ điể n đô ̣ng từ với mu ̣c đić h hướng đế n người học, hướng dẫn và phu ̣c vu ̣ nhu cầ u da ̣y và ho ̣c tiế ng Viê ̣t. Mục đích nghiên cứu Luận văn “Tiến tới xây dựng một từ điển động từ dưới kết trị cú pháp (dành cho người nước ngoài)”, dưới góc độ ngôn ngữ học, mà cụ thể ở đây chúng tôi vận dụng những kiến thức, hiểu biết về động từ và các kết trị, bước đầu mô tả các động từ tiếng Việt khi đứng cạnh các kết trị cú pháp của nó (bổ ngữ, trạng ngữ) Bên cạnh đó, qua luận văn này, chúng tôi cũng có tham vọng đặt nền móng xây dựng một từ điển động từ, phục vụ mục đích dạy tiếng với đối tượng chính là người nước ngoài học tiếng Việt.
Từ đó góp phần đưa tiếng Việt trở thành một ngoại ngữ được giảng dạy một cách bài bản, có hệ thống, từng bước nâng cao vị thế của ngôn ngữ này so với các ngoại ngữ khác. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của luận văn này là động từ tiếng Việt. Chúng tôi nhận diện động từ tiếng Việt, từ đó lập danh sách miêu tả dưới các phương pháp phân tích từ vựng ngữ pháp trên phương diện từ loại, phương pháp phân loại,… 8 z Tiế p đó , chúng tôi mong muốn lập được danh sách những động từ thường gặp , với những đă ̣c trưng ngữ pháp quan yế u (về phương diê ̣n kế t hơ ̣p và phương diê ̣n chức năng thành phầ n câu). Nô ̣i dung nghiên cƣ́u 4.1 Nhận diê ̣n đô ṇ g từ thông qua mô ̣t từ điể n phổ du ̣ng , đươ ̣c nhiề u người biế t.
Ở đây, chúng tôi lựa chọn từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, chỉnh lý và tái bản năm 2010. Công trình khoa học từ điển giải nghĩa tiếng Việt được biên soạn và cách thức tổ chức làm việc quy mô rất công phu, từ ngữ được giải thích chính xác, trình bày khoa học, hợp lý với khối lượng ngữ liệu đồ sộ và hệ thống lý luận từ điển học. Các mục từ được xử lý hợp lý, đầy đủ và chính xác trên hê ̣ thố ng tư liê ̣u đồ sô ,̣ có độ tin cậ y cao đưa ra nhiều thí dụ phong phú, đa dạng, chuẩn mực và mang tính điển hình rất cao.2 Lập danh sách các động từ. Trong cuốn từ điển tiếng Việt, mà trong luận văn này chúng tôi xin phép được gọi là từ điển Hoàng Phê, động từ được đánh dấu một cách rõ ràng bằng ký hiệu đg.3 Lập danh sách động từ.
Công việc này được tiến hành dựa chủ yếu trên nguồn tài liệu sơ cấp là cuốn từ điển Hoàng Phê. Chúng tôi xem xét và lập danh sách tất cả những động từ thường gặp với các đặc trưng ngữ pháp quan yếu, cả về phương diện kết hợp lẫn chức năng thành phân câu, phục vụ cho mục đích dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.4 Phân loại động từ. Như đã khẳng định, động từ chiếm một khối lượng lớn trong hệ thống từ loại tiếng Việt (hơn 88%). Trong luận văn này, chúng tôi chia động từ ra thành các nhóm sau: nhóm động từ tình thái, nhóm động từ ngôn hành, nhóm động từ cảm nghĩ nói năng, nhóm động từ chỉ hướng, nhóm động từ hành động, nhóm động từ tư thế trạng thái, nhóm động từ quá trình.
Dựa vào sự phân loại này, chúng tôi mong muốn đưa lại cái nhìn đa chiều hơn về động từ tiếng Việt.5 Mô tả những đặc trưng lớn trong việc sử dụng. Những đặc trưng này được chúng tôi xem xét dưới đầy đủ các khía cạnh về mặt ý nghĩa, cách sử dụng thông thường và trong các ngữ cảnh cụ thể (mà ở đây nó được thể hiện qua các ví dụ minh họa).6 Tổ chức danh sách động từ dưới dạng một bản từ điển. Nội dung bản từ điển này được trình bày rất rõ ràng, mạch lạc theo thứ tự bảng chữ cái ở chương 3. Có thể nói, đây là nền móng cho một cuốn từ điển hướng đến đối tượng và mục đích sử dụng rõ ràng.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn này được tiến hành dựa trên tài liệu sơ cấp là cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên (NXB Từ điển Bách khoa, tái bản năm 2010) với 10660 động từ tiếng Việt. Để tiến hành nghiên cứu nguồn tài liệu này, chúng tôi sử dụng các thủ pháp thống kê các động từ lần lượt theo thứ tự xuất hiện; liệt kê, phân loại động từ trong hệ thống từ loại đa dạng và phong phú của tiếng Việt. Các thủ pháp liệt kê, thống kê, phân loại sẽ giúp chúng tôi có tư liệu rõ ràng và đầy đủ để phân tích định lượng dựa trên mẫu tài liệu sơ cấp này. Phương pháp miêu tả chủ yếu được dùng để miêu tả kết trị cú pháp của các động từ tiếng Việt.
Phương pháp phân tích dựa trên khung lý thuyết về kết trị, tính nội động/ngoại động của động từ tiếng Việt,… giúp miêu tả làm rõ phương thức hoạt động của chúng.