PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu đề tài Đối lập trước hết là một khái niệm của lôgìc học. Nhưng đó cũng là một khái niệm quan trọng được sử dụng trong ngôn ngữ học, đặc biệt trong lý thuyết lập luận. Việc tạo ra thế đối lập giữa các luận cứ và kết luận trong lập luận giúp cho người nghe so sánh, đánh giá các lì lẽ, thấy được « sự có lý » trong quan điểm người nói và nhờ đó người nói có thể thuyết phục được người nghe.
Trên thế giới đã có những công trính nghiên cứu về các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện thế đối lập trong lập luận. Tuy nhiên, đa phần tập trung xem xét liên từ « nhưng » (mais trong tiếng Pháp hay but trong tiếng Anh). Hơn nữa, cũng chưa có một nghiên cứu nào về các phương tiện ngôn ngữ này trong tiếng Pháp từ góc độ của người học ngoại ngữ này và trên cơ sở đối chiếu với một ngôn ngữ thuộc một loại hính khác với tiếng Pháp. Mặt khác, từ góc độ của người làm công tác giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật, chúng tôi cũng nhận thấy sự khác biệt về số lượng, bản chất cũng như phương thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ chỉ dẫn quan hệ đối lập trong tiếng Pháp so với tiếng Việt đã đặt ra nhiều khó khăn cho người học và người dịch trong việc lựa chọn cách diễn đạt tương đương trong ngôn ngữ kia.
Riêng đối với phương tiện kết tử, học sinh Việt Nam rất ìt khi chủ động sử dụng các phương tiện này khi nói và viết tiếng Pháp. Các em cũng mắc nhiều lỗi ngữ pháp, ngữ dụng khi sử dụng các kết tử này trong thực hành và dịch thuật. Chẳng hạn, nếu phải chuyển dịch sang tiếng Pháp hai câu ở thế đối lập sau :“Hoa muốn làm y tá. Chị cô thì ngược lại muốn làm kinh doanh”, các bạn sinh viên đã đưa ra các khả năng : (a) Hoa veut devenir infirmière.
Sa soeur, par contre, veut faire du business (b) Hoa veut devenir infirmière. Sa soeur, en revanche, veut faire du business z1 (c) *Hoa veut devenir infirmière. Sa soeur, au contraire, veut faire du business Sở dĩ các em sinh viên đưa ra các giải pháp này rất đơn giản là ví «ngược lại » trong tiếng Việt có thể được chuyển dịch sang tiếng Pháp là « par contre », « en revanche », hay « au contraire ». Thế nhưng nếu nghiên cứu về các đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của các kết tử này, thí sẽ dễ dàng nhận thấy giải pháp c không được chấp nhận.
Nếu muốn sử dụng kết tử au contraire, nội dung mệnh đề sau đó phải có sự thay đổi, chẳng hạn : (d) Hoa veut devenir infirmière. Sa soeur, au contraire, n‟aime pas la médecine, elle veut faire du business. (Hoa muốn trở thành y tá. Chị cô ây thí ngược lại không thìch ngành y mà muốn làm kinh doanh) Việc lựa chọn kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng này thay ví kết tử khác phụ thuộc vào đặc trưng cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của các kết tử cũng như vào phong cách văn bản và ngữ cảnh giao tiếp.
Nghiên cứu đề tài «Các lối diễn đạt thế đối lập trong tiếng Pháp” sẽ góp phần giải quyết được những vấn đề nêu trên. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Để tạo ra thế đối lập trong lập luận nhằm mục đìch thuyết phục dẫn dắt người nghe, làm người nghe chấp nhận quan điểm của mính, người nói có thể sử dụng nhiều phương tiện ngôn ngữ khác nhau như: các phương thức ngữ pháp (như danh cách (gerondif), bàng thái cách (subjonctif) trong tiếng Pháp), biểu thức điều kiện, một số cấu trúc đặc thù, các yếu tố từ vựng hàm nghĩa quan hệ đối lập và đặc biệt là các kết tử lập luận chỉ dẫn quan hệ ngƣợc hƣớng. Luận văn không có tham vọng đề cập đến tất cả các phương tiện ngôn ngữ có thể thể hiện thế đối lập trong tiếng Pháp ví đây là đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng. Do vậy, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu một số kết tử lập luận chỉ dẫn quan hệ đối lập phổ biến trong tiếng Pháp trên cơ sở có sự đối chiếu với tiếng Việt.
z2 Để giúp cho công việc nghiên cứu các kết tử lập luận này, luận văn sẽ tiến hành khảo sát các biểu thức ngôn ngữ có dạng : p K q và các biến thể của nó trong đó : p, q là hai yếu tố ngôn ngữ (thường là mệnh đề/ phát ngôn) ở thế đối lập ; K là kết tử chỉ dẫn quan hệ đối lập Luận văn sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau : 1. Bản chất mối quan hệ đối lập giữa p và q 2. Các kết tử được sử dụng phổ biến để liên kết p và q, và các đặc trưng kết học, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các kết tử này. Sau khi đã làm sáng tỏ các vấn đề trên, luận văn sẽ đóng góp một số giải pháp cho việc chuyển dịch các kết tử này giữa tiếng Việt và tiếng Pháp.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Về mặt lý luận, luận văn sẽ góp phần hệ thống hoá các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng trong tiếng Pháp, phân loại chúng và xây dựng bộ đặc trưng kết học, ngữ nghĩa và ngữ dụng quan yếu của các kết tử này. Về mặt thực tiễn, trong quá trính giảng dạy tiếng Pháp cho người Việt Nam và trong quá trính làm công tác biên phiên dịch và giảng dạy chuyên ngành biên phiên dịch ở bậc đại học, chúng tôi đã phát hiện nhiều khiếm khuyết của người Việt trong việc sử dụng kết tử chỉ dẫn quan hệ đối lập trong tiếng Pháp. Người Việt Nam thường có xu hướng mô phỏng tiếng mẹ đẻ, dẫn đến một số lỗi về ngữ pháp và phong cách khi phải thể hiện quan hệ đối lập. Do vậy, có thể nói rằng việc nghiên cứu đề tài này giúp có thêm những hiểu biết cần thiết nhằm thiết thực góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giảng dạy và dịch thuật.
Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu Việc nghiên cứu các kết tử chỉ dẫn quan hệ ngược hướng trong tiếng Pháp sẽ được thực hiện theo quan điểm ngữ dụng, điều này có nghĩa người nghiên cứu sẽ phải quan sát các phát ngôn có quan hệ đối lập trong các tình huống cụ thể. Luận văn sẽ sử dụng phương pháp diễn giải, qui nạp, các thủ pháp so sánh đối chiếu, công thức hoá, mô hính hoá. Xuất phát từ mục đìch và phương pháp nghiên cứu của luận văn, cứ liệu của luận văn được xây dựng từ một số giáo trính tiếng Pháp (Panorama, Nouvel Espace, Grammaire progresssif, perspectives ….) và những tư liệu thực, mà chủ yếu là các bài viết trên các báo của Pháp « le Monde », « l‟Express », « l‟Humanité », « Le monde diplomatique », « le Point », « l‟Expansion », « la Libération»,. và tiểu thuyết « Mặt trời nhà Scorta » (le Soleil des Scorta), giải Goncourt 2004 của Laurent Gaudé được dịch giả Dương Tường dịch sang tiếng Việt.
z4 CHƢƠNG I Cơ sở lý luận của luận văn Thế đối lập được đề cập đến trong đề tài « Các lối diễn đạt thế đối trong tiếng Pháp » chình là quan hệ đối lập trong lập luận. Chình ví vậy, luận văn này đã được thực hiện dựa trên cơ sở Lý thuyết lập luận trong ngôn ngữ (Argumentation dans la langue) của Anscombre & Ducrot. Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là người giới thiệu lý thuyết này và cũng là người tiên phong nghiên cứu lý thuyết lập luận dựa trên ngữ liệu tiếng Việt. Tiếp theo là các tác giả Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê, Đỗ Thị Kim Liên,.1 Lý thuyết lập luận Lập luận từng là một phạm trù nghiên cứu của tu từ học và lôgìc học trước khi trở thành đối tượng nghiên cứu trong ngôn ngữ học.
Sự ra đời của Lý thuyết lập luận của hai nhà ngôn ngữ học Pháp Oswal Ducrot và Jean Claude Anscombre (Anscombre & Ducrot 1983) đã mở ra hướng nghiên cứu mới cho vấn đề này: đó là nghiên cứu lập luận dưới góc độ dụng học. Lý thuyết lập luận của Ducrot & Anscombre dựa trên cơ sở tiền đề là mọi phát ngôn đều hướng đến một loại kết luận nào đó và do đó thường mang tình lập luận. Khái niệm lập luận Theo Ducrot & Anscombre (1983) , «[…] một người nói thực hiện một hành động lập luận khi người đó trình bày một phát ngôn E1 (hoặc một tập hợp phát ngôn) nhằm mục đích làm cho người nghe chấp nhận một phát ngôn E2 khác (hoặc một tập hợp phát ngôn khác) »1 (1) La crise financière actuelle est bien différente des précédentes. Elle n‟est pas encore finie.
Il est donc difficile d‟en évaluer l‟ampleur. (Cuộc khủng hoảng tài 1 «[…] un locuteur fait une argumentation lorsqu‟il présente un énoncé E1 (ou un ensemble d‟énoncés) comme destiné à en faire admettre un autre (ou un ensemble d‟autres) E2» z5 chình hiện nay khác với các cuộc khủng hoảng trước đây. Nó vẫn chưa kết thúc. Ví vậy, khó có thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng này) Đoạn văn bản trên gồm 3 phát ngôn, trong đó phát ngôn thứ nhất : E1a= „Cuộc khủng hoảng tài chình hiện nay khác với các cuộc khủng hoảng trước đây‟ và phát ngôn thứ 2 E1b= „Nó vẫn chưa kết thúc‟ chính là những lý do được trính bày để người nghe chấp nhập một kết luận được thể hiện bằng phát ngôn thứ 3 E2= „khó có thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng này‟.
Theo định nghĩa của Anscombre & Ducrot, hành động trính bày ba nội dung trên được xem là hành động lập luận và ba phát ngôn này làm thành một lập luận. Các tác giả Van Eemeren, Grootendorst & Henkeman (1996) trong cuốn « Fundamentals of Argumentation Theory » thí định nghĩa lập luận : « là một hành động trí tuệ có tính xã hội và được thể hiện bằng ngôn ngữ nhằm mục đích làm tăng (hoặc giảm) khả năng người nghe (người đọc) chấp nhận một quan điểm gây tranh cãi trên cơ sở đưa ra một tập hợp những mệnh đề để chứng minh (hoặc bác bỏ) quan điểm đó trước một người có khả năng đánh giá sáng suốt2 » Theo định nghĩa này, vì dụ (1) cũng là một hành động lập luận trong đó việc trính bày tập hợp phát ngôn E1 là để nhằm mục đìch làm tăng khả năng người nghe chấp nhận quan điểm cho rằng „khó có thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chình hiện nay‟. Cả hai định nghĩa trên không có gí mâu thuẫn với nhau.