Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN VẼ HÌNH HỌA 1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học tích cực môn Vẽ Hình họa trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Có nhiều nghiên cứu về dạy học tích cực được những nhà giáo dục khắp nơi trên thế giới giới thiệu, đều là những công trình giá trị giúp người dạy và người học điều khiển quá trình học tập một cách hiệu quả. Từ thời cổ đại, ý tưởng dạy học lấy người học làm trung tâm, chú ý phát huy tính tích cực sáng tạo của người học đã ra đời.
Khổng Tử (551 – 479 TCN) nói rằng: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc thì không dạy nữa.” Quan điểm của Khổng Tử ngụ ý nhấn mạnh tính tích cực của người học [37]. Các thông tư chỉ thị của Bộ giáo dục Pháp suốt những năm 70, 80 thế kỷ XX đều khuyến khích tăng cường vai trò chủ động, tích cực của học sinh sinh viên, chủ động áp dụng phương pháp tích cực ở mọi cấp học. Theo David Barbara Gross, học tập tích cực sẽ thúc đẩy sự hiểu biết, không phải là học vẹt.
Sau khi nắm được bài học, sinh viên có thể áp dụng vào nhiều bối cảnh đa dạng để giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến thức. Đó chính là sự hiểu biết và cách tiếp cận giải quyết vấn đề mà người sử dụng lao động và các trường Đại học tìm kiếm [47]. Theo Ron Nash: giảng viên phải giúp sinh viên của họ tham gia vào học tập tích cực và giúp chính mình duy trì niềm đam mê giảng dạy. Bên cạnh việc giữ vai trò thúc đẩy SV tự giác học tập, dạy học tích cực còn có nghĩa là GV phải sử dụng thời gian và năng lượng hiệu quả hơn trong lớp học của mình [72].
Ron Nash nhận định: “Dạy học tích cực được tiến hành với các giảng viên luôn cập nhật kiến thức, đưa kỹ năng giảng dạy của mình lên một cấp độ mới xuất sắc hơn. GV sẽ tìm cách xây dựng mối quan hệ đối tác với sinh viên, mục đích tạo ra một cộng đồng 8 Luận văn thạc sĩ lớp học luôn tôn trọng nhau và cùng khát khao chiếm lĩnh tri thức. GV thường xuyên sử dụng thông tin phản hồi để đánh giá và phát triển nhận thức về môn học cho sinh viên. GV giữ quan hệ chặt chẽ với đồng nghiệp, với phụ huynh và sinh viên, đồng thời luôn thúc đẩy sinh viên tham gia vào quá trình tự học”.
Quan điểm này cũng cho rằng GV cần phải tự kích thích tư duy, xây dựng mối quan hệ đối tác với sinh viên của họ. Tập trung vào "ba R", các quy tắc (rules), thói quen (routines) và mối quan hệ (relationships) để xây dựng một lớp học tích cực [71]. Nói về dạy học tích cực, Donna Walker Tileston chỉ ra rằng, GV nên cho những đề xuất cụ thể trong cách tổ chức lớp, để SV tham gia tích cực vào quá trình học hỏi. Bằng việc kết hợp các chiến lược hướng dẫn với kết quả đánh giá phù hợp, GV cần tính đến các nghiên cứu về não bộ.
Mục đích áp dụng chiến lược dạy học tích cực là để khiến cho nhiều sinh viên điều chỉnh thái độ học, giúp thành tích học tập được cải thiện tốt hơn [49]. Theo Merrill Harmin & Melanie Toth, dạy học tích cực còn có nghĩa là luôn phải bận tâm trả lời các câu hỏi: Làm thế nào có thể cấu trúc thời gian lên lớp thật tốt? Làm thế nào chúng ta có thể giải thích và giảng bài hiệu quả? Làm sao để giúp học sinh làm chủ nội dung bài học? Cũng theo nghiên cứu này, giáo viên sẽ từng bước tổ chức lớp học trở thành một cộng đồng tích cực, có trách nhiệm, cam kết học tập của cả hai phía: người dạy và người học. Lớp học xây dựng tinh thần hợp tác, có kiểm tra đánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bất kể với môn học nào, việc thực hiện chiến lược giảng dạy tích cực cũng sẽ giúp giáo viên làm các nhiệm vụ giảng dạy thông thường dễ dàng hơn, khuyến khích sinh viên học tập hăng hái, tự nguyện và thông minh hơn mỗi ngày.
Nghiên cứu trình bày một loạt các chiến lược dựa trên thực nghiệm, do giáo viên kiểm tra để quản lý các trách nhiệm hàng ngày - từ bắt đầu một lớp học đến chấm điểm bài tập về nhà, từ hướng dẫn các nhóm giỏi đến thúc đẩy việc giữ trật tự, tất cả những kiểu học sinh đều được hỗ trợ học tập. Những chiến lược này tập trung vào sự tôn trọng lẫn nhau, không phải sự hách dịch; hợp tác, không cô lập. Cam kết học tập, không sợ thất bại; và quý trọng phẩm giá của tất cả, không khen ngợi hay khen thưởng cho một số ít. Bất kể mức độ kinh nghiệm của GV đứng lớp hoặc môn học GV đang dạy, phương 9 Luận văn thạc sĩ pháp học tập tích cực sẽ giúp các GV áp dụng thông tin trong lớp học của mình.
Lớp học sẽ hiệu quả hơn và các mối quan hệ giữa GV và SV cũng trở nên tốt hơn [66]. Theo Chef Meyers & Thomas B. Jones, thực tế các kỹ thuật học tập tích cực có thể được sử dụng bởi giáo viên trong nhiều ngành nghề khác nhau. Từ cách làm bài tập nhóm nhỏ đến việc mô phỏng và nghiên cứu những trường hợp khác nhau để kết hợp với nguồn lực công nghệ và nhân lực có sẵn bên ngoài lớp học.
Dạy học tích cực nên được tất cả các giáo viên ở các môi trường khác nhau vận dụng. Nghiên cứu này cho rằng, học tập tích cực là điều bắt buộc trong môi trường giảng dạy cho dù đó là môi trường Trung học hay Đại học. Trong phần trình bày khái niệm, các tác giả giải thích dạy học tích cực là gì, tại sao nó quan trọng, loại hoạt động nào có thể được thực hiện trong lớp để ứng dụng, làm thế nào để học tập tích cực phù hợp với tính cách của các giáo viên và sinh viên. Quan trọng nhất là làm thế nào để 'thu hút' SV học tập.
Khi SV cảm thấy rằng họ có thể “tích cực” tham gia tìm hiểu những kiến thức liên quan và không phải ngồi lại và lắng nghe 'một cách thụ động' bài giảng, môi trường học tập trong lớp học sẽ năng động hơn. Với cấp Đại học, nghiên cứu nhấn mạnh vào việc học tập của người trưởng thành và quan điểm học tập suốt đời. Vì vậy, đây là một tài liệu rất hữu ích để các giáo viên tham khảo học cách bổ sung kiến thức cho bản thân và thu hút sinh viên khi đang trong quá trình giảng dạy tích cực [46]. Johnson – Edythe J Holubec khẳng định: Học tập tích cực có những điểm tương đồng với học tập hợp tác.
Để học tập tích cực, các GV cần hướng dẫn SV thực hiện học tập hợp tác, gợi ý những điều làm cho hoạt động hợp tác diễn ra trong suốt quá trình học, đồng thời có chiến lược để sử dụng và cải thiện việc sử dụng học tập hợp tác, thúc đẩy tính tích cực trong lớp học.Banner Jr& Hardd C Cannon: “Dạy học tích cực là tự đặt mình vào những suy nghĩ của sinh viên để ước lượng khả năng học tập của họ, tiên đoán phản ứng của SV trước những lời giảng dạy và hình dung SV sẽ sử dụng kiến thức của họ như thế nào” [11]. Linda Evans & Ian Abbott nhận định: “Việc học tập tích cực thúc đẩy học tập tự chủ của SV, cho họ tham gia và quyền kiểm soát nhiều hơn các nội dung học tập, 10 Luận văn thạc sĩ đồng thời cung cấp cho họ các kỹ năng để bồi dưỡng học tập suốt đời. Điều này liên quan chặt chẽ đến việc học và cách thức học tập” [58]. Khi hiểu được nội dung học tập ở những khía cạnh khác nhau, SV sẽ hình dung ra những ý tưởng mới, những thách thức và khó khăn trong bài học, qua đó giúp họ giải quyết việc ôn tập tốt hơn cho các kỳ thi, theo quan điểm của Terry Doyle [74].
Gabriel Diaz-Maggioli giới thiệu một mô hình trao quyền cho giáo viên để xây dựng kỹ năng hợp tác cho các nhà giáo dục, trong đó mô tả một loạt các chiến lược phát triển chuyên nghiệp, bao gồm cố vấn, viết nhật ký, huấn luyện ngang hàng và hội thảo. Đối với mỗi chiến lược, tác giả cung cấp một lịch sử ngắn gọn về cơ sở nghiên cứu, hướng dẫn từng bước để thực hiện chiến lược, bản mẫu và mẫu đánh giá, đồng thời cho ví dụ về chiến lược trong thực tế. Ngoài các nguyên tắc này, cũng theo Gabriel Diaz-Maggioli, việc dạy học hiệu quả cho người trưởng thành cần bao gồm các tiêu chí sau: Hướng đến các mục tiêu cụ thể phù hợp với nhu cầu của người học, đồng hành với người học về kinh nghiệm và kiến thức đã có, thúc đẩy sự tham gia đa chiều của người học. Đây là những tiêu chí hoàn toàn phù hợp với giáo dục Đại học [51].
Mel Silberman bao quát việc học tích cực trong 101 hoạt động đã được gợi ý cho GV, những phương thức hướng dẫn để thu hút học sinh học tập bất kỳ môn học nào. Theo chủ đề chính, nghiên cứu cung cấp các chiến lược thực tế, cụ thể để GV có thể giúp sinh viên học tập tích cực ngay từ đầu thông qua các hoạt động xây dựng tinh thần đồng đội và ngay lập tức khiến họ suy nghĩ về vấn đề học tập, bao gồm: máy phá băng để bắt đầu lớp học, chiến lược vào giữa bài học và kết thúc các bài tập để thúc đẩy sự phản ánh của học sinh, đồng thời liên tưởng ứng dụng trong nghề nghiệp tương lai. Ngoài ra, các hoạt động này cũng được thiết kế để tăng cường học tập, hiểu bài sâu hơn và thúc đẩy duy trì học tập theo hướng tích cực suốt đời [64]. Vẽ Hình họa là môn học dạy nhiều kỹ năng thủ công như miêu tả mẫu thật và phối hợp màu sắc.
Những kỹ năng này mở ra nhiều khám phá khác nhau. Theo đó, khám phá hấp dẫn về Hình họa của John Walsh đưa ra lời giải thích về các phần riêng lẻ và các mô hình lớn hơn như hậu cảnh của tác phẩm, cho phép người xem nhìn thấy 11 Luận văn thạc sĩ mỗi điểm chính phụ đều có những đóng góp cho chủ đề - nghệ thuật hội họa và nền tảng học tập của nghệ sĩ.