Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở lý thuyết Hoạt động tín ngưỡng và tổ chức lễ hội ở khu vực miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đã và đang không ngừng biến đổi. Sự biến đổi diễn ra trên mọi phương diện từ cấu trúc đến chức năng, từ chủ thể đến khách thể, từ không gian cho đến thời gian.
Tuy rằng chính quyền địa phương đã có những ứng xử vô cùng linh hoạt, phối hợp cùng cộng đồng địa phương, một mặt bảo vệ các giá trị truyền thống, mặt khác uyển chuyển theo tình hình thực tế, đón nhận xu thế phát triển của thời đại. Song, lễ hội tín ngưỡng tôn giáo luôn là vấn đề khiến các nhà quản lý lao tâm. Cùng với sự “hồi sinh” (theo Philip Taylor, 2008.) của tín ngưỡng thờ Bà, lễ hội không còn bị “đóng khung” trong các giá trị truyền thống mà vượt qua các khuôn phép để kết hợp với những nhân tố mới. Nơi đó, khách hành hương tìm thấy chính mình thông qua hành trình bản thân hướng đến đấng siêu nhiên vô hình nhưng hiện hữu trong chính tâm thức mỗi người.
Về khía cạnh mà đề tài nghiên cứu, sự vận động và biến đổi của lễ hội trong xã hội đương đại với nội dung trọng tâm là vai trò của các chủ thể (nhà nước và cộng đồng địa phương) được phân định như thế nào trong việc tạo nên những biến đổi. Sự thương thảo giữa các bên liên quan trong đó tập trung là nhà quản lý và nhân dân tại chỗ. Sự tác động của du lịch đến quá trình biến đổi lễ hội. Vì thế chúng tôi xác định câu hỏi nghiên cứu cho đề tài là: - Lễ hội Bà Chúa Xứ biến đổi như thế nào trong bối cảnh hiện nay? - Vai trò của Nhà nước đã thể hiện như thế nào trong sự biến đổi của lễ hội Bà Chúa Xứ? - Mối quan hệ giữa du lịch và lễ hội được thể hiện như thế nào trong lễ hội Vía Bà? - Vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương được thể hiện như thế nào trong bối cảnh phát triển của lễ hội và trong mối quan hệ với chính quyền? Với những câu hỏi nghiên cứu trên, NCS đặt giả thuyết nghiên cứu của đề tài là: 9 - Lễ hội Bà Chúa Xứ biến đổi mạnh mẽ từ sau khi được nâng cấp thành lễ hội cấp quốc gia vào năm 2001.
Trong sự biến đổi mạnh mẽ đó, vai trò tác động của nhà nước mang tính chi phối. - Đã có sự thỏa hiệp giữa các chủ thể của lễ hội mà cụ thể ở đây là nhà nước và cộng đồng cư dân địa phương. Bên cạnh đó, du lịch đã có những tác động to lớn trong biến đổi lễ hội Bà Chúa Xứ. Căn cứ vào việc xác định câu hỏi nội dung nghiên cứu, chúng tôi chọn các lý thuyết nghiên cứu dưới đây.
Lý thuyết biến đổi văn hóa Biến đổi văn hóa được hiểu là quá trình vận động của tất cả các xã hội, chỉ sự thay đổi của các cơ chế trong một cấu trúc văn hóa cho trước. Nó được đặc trưng bởi sự thay đổi của các biểu tượng văn hóa, các nguyên tắc ứng xử, các thiết chế văn hóa và các hệ thống giá trị. Qua nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đều thống nhất rằng, không có nền văn hóa nào đứng yên, không một nền văn hóa nào có thể giữ nguyên trạng thái ban đầu của nó.Taylor: “Sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người. Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào một trật tự xác định, mà không thể ngược lại” [3, tr.
Tuy nhiên, văn hóa là một phạm trù rất rộng vì thế, quá trình vận động và biến đổi của nó cũng hết sức phức tạp. Theo các nhà nhân học hiện nay: “biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia sẻ, sự biến đổi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa. Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ những biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi” [106, tr. Tuy nhiên, quá trình biến đổi lại diễn ra không giống nhau giữa những nền văn hóa khác nhau.
Có những quá trình biến đổi diễn ra một cách tự nhiên song lại có những sự biến đổi mang tính cưỡng bức. Vì thế, nhịp điệu và tính chất biến đổi cũng rất khác nhau giữa các nền văn hóa. Ngay trong bản thân một nền văn hóa lại diễn ra cả hai quá trình biến đổi tự nhiên và cưỡng bức, tùy thuộc thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Nhận định về văn hóa Việt Nam, Nguyễn Từ Chi cho rằng: “không chỉ bây giờ mà trong lịch 10 sử, văn hóa Việt Nam đã luôn thay đổi và nhiều khi thay đổi rất nhanh là khác.
Theo tôi, người Việt là một trong những dân tộc rất dễ nhạy cảm và dễ thay đổi mình cho phù hợp với hoàn cảnh” [12, tr. Từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, khuynh hướng nghiên cứu biến đổi văn hóa trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, đặc biệt diễn ra ở các xã hội đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từ xã hội truyền thống - khép kín sang xã hội hiện đại - hội nhập thật sự hấp dẫn các nhà nhân học, nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước. Các nghiên cứu về biến đổi văn hóa trên mọi phương điện của cuộc sống như: văn hóa làng, văn hóa tâm linh, văn hóa đọc, văn hóa tiêu dùng, thậm chí là văn hóa giao thông, văn hóa du lịch hay văn hóa doanh nghiệp,. xuất hiện ngày càng nhiều trong thư mục các công trình nghiên cứu văn hóa hiện nay.
Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở lĩnh vực nào, các nhà khoa học đều đi đến những thống nhất cơ bản về nguyên nhân của quá trình vận động và biến đổi, đó là sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, là sự “cải cách” trong tư tưởng chính trị, sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và công nghệ, sự giao lưu văn hóa trong xu thế hội nhập. Theo đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa là những chất xúc tác mạnh mẽ cho quá trình này. Tuy tất cả đều cho rằng biến đổi là “hằng số” của văn hóa, là một thực tế không thể đảo ngược, song các tác giả đều khẳng định sự bền bỉ của những giá trị truyền thống trước những biến đổi mạnh mẽ và nó sẽ chi phối sự lựa chọn của từng xã hội cụ thể về phương thức, tính chất, quy mô biến đổi của văn hóa. Chính lẽ đó, càng biến đổi, người ta lại càng trân quý các giá trị truyền thống, những nét văn hóa cổ xưa, quay về tìm lại, gìn giữ để lưu truyền cho muôn đời sau.
Áp dụng các luận điểm trên vào quá trình nghiên cứu biến đổi lễ hội Bà Chúa Xứ tại Núi Sam - Châu Đốc, NCS tập trung chú trọng đến tính bền vững của tín ngưỡng thờ Bà cũng như các giá trị truyền thống trong bối cảnh giao lưu - hội nhập và tiếp biến văn hóa; đồng thời cân nhắc vai trò của những tác nhân trong quá trình biến đổi. Các quan điểm khác nhau về biến đổi văn hóa sẽ cung cấp cho NCS thêm nhiều phương pháp tiếp cận và cái nhìn bao quát, xem xét dưới nhiều góc độ, chiều cạnh của sự biến đổi. Ứng dụng vào đề tài nghiên cứu, NCS sẽ trình bày 11 những biểu hiện của sự biến đổi trong lễ hội Vía Bà từ nhiều chiều cạnh khác nhau, tìm hiểu các tác nhân trong đó chú trọng đến vai trò chủ thể của các bên liên quan trong tổ chức, gìn giữ và phát huy lễ hội để nó có được hình hài như ngày hôm nay. Tiếp theo là việc lý giải những biến đổi đó nói lên điều gì từ thực tế của sự phát triển, của Châu Đốc với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, của đời sống cộng đồng cũng như khách hành hương.
Lý thuyết Sáng tạo truyền thống Truyền thống - Tradition được hiểu là hành vi lưu truyền, xuất phát từ động từ tradere nghĩa là chuyển sang cho người khác, giao lại, trao lại. Khi nghiên cứu về các loại hình, thực hành văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu trước đây đã đối lập truyền thống với biến đổi và như vậy mặc nhiên thừa nhận khái niệm truyền thống mang nội hàm ổn định, bất biến, xưa cũ. Ngược lại với khuynh hướng cho rằng truyền thống là một thể chế bất biến, nhiều công trình, lại chứng minh truyền thống qua quá trình trao truyền được thay đổi, sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và được chấp nhận của cộng đồng. Aileau, ông nhìn nhận truyền thống không phải chỉ là cái bất biến, cái nguyên thể lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, mà bản thân truyền thống luôn tích hợp trong nó cái mới trong diễn trình lịch sử, nói cách khác đó chính là sự sáng tạo truyền thống.
sự thật, truyền thống không tự giới hạn ở sự bảo tồn cũng như ở sự truyền những sở đắc trước đó: trên dòng đi của lịch sử, truyền thống tích hợp các hiện thể mới (existants nouveaux) bằng cách thích nghi chúng với các hiện thể cũ. Bản chất nó không chỉ có tính giáo dục, cũng không thuần túy mang tính tư tưởng: nó còn thể hiện ra là tính biện chứng và tính bản thể (ontologique). Truyền thống làm thành mới cái đã là; nó không bị giới hạn ở làm cho biết một văn hóa, bởi nó đồng nhất hóa với chính cuộc sống của một cộng đồng (dẫn theo Nguyễn Mạnh Hà, 2014, [17, tr. Nhà nhân học E.
Hobsbawm cho rằng, mặc dù tính liên tục và kế thừa quá khứ của truyền thống được đề cao, nhưng thực ra truyền thống lại bao gồm một tiến 12 trình sáng tạo ra lễ nghi. Ông góp phần khẳng định thêm tính làm mới trong quá trình trao truyền thông qua công trình Sáng tạo ra truyền thống (the Invention of Tradition) của mình. “Truyền thống được sáng tạo” được hiểu là một tập hợp những thực hành, thường nằm dưới sự chi phối của những luật lệ thành văn hay bất thành văn, có bản chất nặng tính nghi thức hoặc hình tượng, nhằm khắc sâu các giá trị và tiêu chuẩn hành vi nhất định vào tâm thức cộng đồng qua hình thức tái diễn, đồng thời ngụ ý một dòng chảy tiếp nối từ quá khứ [28, tr. Hobsbawm lý giải việc làm mới truyền thống bắt nguồn từ sự lãng quên, từ nhu cầu biến đổi để thích nghi của các thực hành văn hóa.