Tổng quan luận án

Lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam (thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang) là một trong những trung tâm sinh hoạt tâm linh của cư dân Nam Bộ. Mặc dù các ngày lễ chính chỉ diễn ra từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch, hoạt động hành hương và chiêm bái tại miếu Bà diễn ra liên tục quanh năm. Kể từ năm 2001, khi lễ hội được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là lễ hội cấp quốc gia, quy mô và phương thức tổ chức lễ hội đã có những chuyển biến rõ rệt dưới tác động của quá trình đô thị hóa, kinh tế thị trường và hoạt động du lịch. Trong khi nhiều công trình trước đây tập trung vào việc khảo tả lịch sử, thần tích hoặc nghiên cứu đơn lẻ về du lịch, luận án nhận diện một khoảng trống nghiên cứu: sự biến đổi toàn diện của lễ hội trong giai đoạn 2001–2017 dưới sự tác động đồng thời của quản lý nhà nước, động lực phát triển du lịch và sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhận diện diện mạo lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam trong bối cảnh hiện nay; chỉ ra sự biến đổi trên các phương diện không gian, thời gian, chủ thể, cấu trúc và chức năng; qua đó làm rõ hai quan điểm lý thuyết về biến đổi văn hóa và sáng tạo truyền thống trong quá trình thực hành văn hóa; khẳng định vai trò quyết định của cộng đồng trong việc lưu giữ bản sắc và cơ chế thỏa hiệp giữa nhà nước và nhân dân trong quản lý lễ hội.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 5 nội dung:

  1. Miêu thuật cụ thể diễn trình không gian và thời gian của lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam truyền thống.
  2. Trình bày các nét mới và mô tả những sự biến đổi của lễ hội thông qua khảo sát giai đoạn 2001–2017 so với giai đoạn trước đó.
  3. Tìm hiểu những tác động của nhà nước thông qua hệ thống văn bản quản lý và hỗ trợ tổ chức lễ hội tại địa phương.
  4. Bàn luận sự tương tác hai chiều giữa lễ hội và hoạt động du lịch, khái quát các dự án đầu tư phát triển du lịch tâm linh tại khu vực Núi Sam – Châu Đốc.
  5. Khảo sát các kế hoạch và ứng xử của cộng đồng địa phương nhằm gìn giữ bản sắc trước tác động của hoạt động du lịch.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Lễ hội Bà Chúa Xứ biến đổi như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
  • Vai trò của Nhà nước đã thể hiện như thế nào trong sự biến đổi của lễ hội Bà Chúa Xứ?
  • Mối quan hệ giữa du lịch và lễ hội được thể hiện như thế nào trong lễ hội Vía Bà?
  • Vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương được thể hiện như thế nào trong bối cảnh phát triển của lễ hội và trong mối quan hệ với chính quyền?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Lễ hội Bà Chúa Xứ biến đổi mạnh mẽ từ sau khi được nâng cấp thành lễ hội cấp quốc gia vào năm 2001; trong sự biến đổi đó, vai trò tác động của nhà nước mang tính chi phối.
  • Đã có sự thỏa hiệp giữa các chủ thể của lễ hội là nhà nước và cộng đồng cư dân địa phương; bên cạnh đó, du lịch tạo ra những tác động lớn đối với sự biến đổi của lễ hội.

Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội Bà Chúa Xứ ở Núi Sam (tỉnh An Giang), tiếp cận ở góc độ những nhân tố mới nảy sinh trong đời sống xã hội đương đại gồm quản lý nhà nước, phát triển du lịch và sự thỏa hiệp của cộng đồng.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Trọng tâm tại miếu Bà Chúa Xứ thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, cùng các di tích liên quan tại tỉnh An Giang.
  • Thời gian: Nghiên cứu theo trục đồng đại và lịch đại, tập trung khảo sát các mốc thời gian: năm 2001 (lễ hội được công nhận cấp quốc gia), năm 2013 (Châu Đốc chuyển từ thị xã lên thành phố), năm 2015 (Châu Đốc được công nhận là đô thị loại II và lễ hội được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19/12/2014), và năm 2017 (lễ hội kết hợp tổ chức Tháng Du lịch An Giang).
Tiêu chí Nội dung xác định trong luận án
Tên đề tài Lễ hội Bà Chúa Xứ của người Việt ở Nam Bộ
Tác giả & Đơn vị Bùi Thị Ngọc Phương – Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2018)
Chuyên ngành Văn hóa dân gian (Mã số: 9229040)
Người hướng dẫn 1. PGS.TS. Phạm Lan Oanh; 2. TS. Phú Văn Hẳn
Khách thể & Địa bàn Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ tại Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
Khung thời gian khảo sát Giai đoạn 2001 – 2017 (tập trung các mốc 2001, 2013, 2015, 2017)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu theo hai nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu tổng quát về lễ hội truyền thống

  • Các ghi chép và khảo cứu thời kỳ đầu: Tư liệu hoa văn trên trống đồng; các công trình thời Pháp thuộc như bài viết về lễ hội Phù Đổng của G. Dumoutier (1891), M. Przyluski (1910), Paul Giran (1912), L. Cadière, H. Délétie (1915). Giai đoạn đầu thế kỷ XX tại Việt Nam có các công trình của Phan Kế Bính (1915), Nguyễn Văn Khoan (1930), Đào Duy Anh (1938), Toan Ánh (1960, 1969, 1974).
  • Các công trình nghiên cứu nửa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI: Đinh Gia Khánh (1989), Lê Trung Vũ (1992), Hoàng Lương (1993, 1994), Thạch Phương và Lê Trung Vũ (1995), Hồ Hoàng Hoa (1998), Lê Hồng Lý (chủ biên Thư mục Văn hóa dân gian 1999; 2011), Nguyễn Chí Bền (2000, 2013, 2015), Lê Văn Kỳ (2002), Đặng Văn Lung (2005), Thuận Hải (2007), Thích Minh Nghiêm (2010), Trần Đình Ba (2012).
  • Các kỷ yếu hội thảo khoa học và giáo trình chuyên ngành: Kỷ yếu Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng chủ biên, 1993); Kỷ yếu Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại (Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2012); Kỷ yếu hội thảo quốc tế Lễ hội cộng đồng - truyền thống và biến đổi (2014); Giáo trình của Dương Văn Sáu (2004), Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội (2008), Cao Đức Hải.
  • Các nghiên cứu về biến đổi lễ hội trong bối cảnh đương đại: Trần Hữu Sơn (2014), Nguyễn Thị Kiều Sương (2014), Phan An (2014), Dương Ngọc Tú và Võ Thanh Hùng (2014), Phan Đình Dũng (2014), Trương Văn Chung (2014), Nguyễn Thị Nguyệt (2014, 2015), Mai Thị Hạnh (2014), Lê Thị Thanh Tâm (2014), Bùi Việt Thành và Nguyễn Trọng Hùng (2014).

Nhóm nghiên cứu chuyên biệt về tín ngưỡng và Lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam

  • Nghiên cứu của học giả quốc tế: Louis Malleret tiến hành khảo cổ học và kết luận pho tượng Bà tại Núi Sam có nguồn gốc từ thời trung cổ, mang hình tượng thần Shiva, liên quan đến văn hóa Phù Nam và sự hiện diện của tượng Linga. Philip Taylor (2004) với công trình Goddess on the rise - Pilgrimage and popular religion in Vietnam đã sử dụng lý thuyết nhân học biểu tượng của Victor Turner để phân tích các cuộc hành hương về miếu Bà như một tiến trình giúp tái hòa nhập xã hội và phục hồi các mối quan hệ đời thường.
  • Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu và Nữ thần Nam Bộ: Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Phương Thảo, Trần Hồng Liên (2012), Mai Mỹ Duyên (2012, nghiên cứu múa bóng rỗi), Võ Thị Kim Huệ (2012), Tăng Thành Nhơn (2012), Ngô Đức Thịnh (2010), Trần Ngọc Thêm (2014), Huỳnh Tịnh Của (1895), Trịnh Hoài Đức (Gia Định thành thông chí).
  • Nghiên cứu về du lịch, kinh tế thị trường và quản lý lễ hội tại Núi Sam: Lê Hồng Lý (2008, phân tích tác động của kinh tế thị trường đến tín ngưỡng tại đền Bà Chúa Kho và miếu Bà Chúa Xứ; 2012, phân tích mô hình chuyển giao quản lý lễ hội từ cấp tỉnh về cấp thị xã Châu Đốc), Lư Hoàng Phố (2008, khảo sát hành vi của khách du lịch), Nguyễn Phước Hiền (2005), Huỳnh Quốc Thắng (2012), Đạo Văn Quyến, Nguyễn Thị Khánh Trâm, Lê Công Lý (2012), Trần Thị Huyền (2012), Đặng Văn Bài (2012), Ngô Văn Doanh (2012), Ngô Quang Láng (2012), Đinh Văn Hạnh (2012), Trương Bá Trạng (2012), Lê Thị Dung (2012), Bùi Thị Hoa (2012).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước tập trung vào việc mô tả nguồn gốc, diễn trình nghi lễ hoặc khảo sát hành vi du khách mang tính thời điểm. Luận án này tập trung vào giai đoạn biến đổi từ năm 2001 đến năm 2017, phân tích có hệ thống cấu trúc tương tác giữa ba chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động kinh doanh du lịch và cộng đồng dân cư địa phương trong việc tái cấu trúc không gian, thời gian và các thực hành văn hóa của lễ hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Lý thuyết biến đổi văn hóa: Văn hóa là một chỉnh thể vận động liên tục qua các quá trình tiếp biến, thích ứng tự nhiên hoặc chịu sự điều chỉnh của các thiết chế xã hội. Luận án vận dụng quan điểm của E.B. Tylor và các nhà nhân học hiện đại, kết hợp nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Từ Chi về khả năng thích ứng linh hoạt của người Việt để phân tích các chuyển dịch về quy mô, chức năng và hình thức tổ chức của lễ hội Vía Bà.
  • Lý thuyết sáng tạo truyền thống (The Invention of Tradition): Luận án sử dụng luận điểm của Eric Hobsbawm và Aileau để xem xét việc bổ sung, làm mới các nghi thức, trò diễn không phải là sự phá vỡ cấu trúc cũ mà là quá trình cộng đồng và các thiết chế đương đại tái tạo nghi lễ nhằm thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội mới, đồng thời hợp thức hóa các vai trò quản lý và cố kết xã hội.
  • Khung lý thuyết hành hương và nhân học biểu tượng: Kế thừa các luận điểm của Victor Turner và Philip Taylor trong việc phân tích không gian thiêng và tâm lý của khách hành hương.

Hệ thống khái niệm công cụ

  • Tín ngưỡng và Tôn giáo: Luận án phân định và sử dụng các khái niệm dựa trên quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh, E.B. Tylor và các điều khoản trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
  • Lễ hội truyền thống: Sử dụng định nghĩa của Alessandro Falassi, Nguyễn Duy Quý, Trần Ngọc Thêm, Bùi Thiết, Lê Hồng Lý; đặc biệt tiếp cận cấu trúc lễ hội gồm 3 bộ phận theo Nguyễn Chí Bền: nhân vật phụng thờ, thành tố hiện hữu (không gian thiêng) và thành tố tàng ẩn (nghi thức, trò diễn, kiêng kỵ trong thời gian thiêng).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp định tính làm chủ đạo và kỹ thuật khảo sát định lượng hỗ trợ:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp, phân tích văn bản quản lý nhà nước, địa chí, tài liệu Hán Nôm và các công trình nghiên cứu đi trước.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học / văn hóa dân gian: Quan sát tham dự trực tiếp các nghi lễ trong mùa Vía Bà các năm; trực tiếp tham gia trải nghiệm quy trình dịch vụ cúng tế (như quy trình đặt, sắp lễ và hóa giải dịch vụ heo quay cúng Bà); tham dự các cuộc họp giữa chính quyền thành phố Châu Đốc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang với các chuyên gia và nhà đầu tư năm 2017.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các thành viên Ban Quản trị lăng miếu Núi Sam, các vị bô lão địa phương, cán bộ quản lý văn hóa các cấp tại thành phố Châu Đốc, các chuyên gia du lịch, du khách quốc tế, người dân cư ngụ quanh miếu Bà và các chủ lò quay heo tại khu vực Núi Sam.
  • Phương pháp điều tra hồi cố: Phỏng vấn các bậc cao niên nhằm tái hiện diễn trình và không gian lễ hội trong các giai đoạn lịch sử trước đây.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thu thập ngẫu nhiên 250 phiếu khảo sát đối với du khách hành hương về miếu Bà vào năm 2015 (độ tuổi từ 18 đến trên 60, đa dạng về ngành nghề và địa bàn cư trú) để thống kê mục đích đi lễ, nội dung cầu nguyện và hành vi tiêu dùng văn hóa.
Phương pháp thực hiện Đối tượng / Mẫu tiếp cận Mục tiêu dữ liệu thu thập
Phân tích tư liệu Văn bản nhà nước, địa chí, công trình khoa học Xác lập cơ sở lý luận, dữ liệu lịch sử và khung pháp lý
Quan sát tham dự Các nghi thức lễ hội, dịch vụ cúng tế (2001–2017) Ghi nhận diễn trình thực tế và sự vận hành của dịch vụ ăn theo
Phỏng vấn sâu Ban Quản trị, bô lão, cán bộ quản lý, chủ lò heo Làm rõ cơ chế quản lý, tính thiêng và xung đột lợi ích
Điều tra bảng hỏi 250 khách hành hương (khảo sát năm 2015) Cung cấp dữ liệu định lượng về nhu cầu và mục đích hành hương

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các lý thuyết về biến đổi văn hóa, sáng tạo truyền thống và các khái niệm công cụ về tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội. Chương này cũng phân tích tổng quan các tài liệu nghiên cứu về lễ hội truyền thống và lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam.

Phần thứ hai của chương trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu:

  • Lịch sử hình thành vùng đất An Giang từ thời Chân Lạp dâng đất Tầm Phong Long (năm 1757, lập đạo Châu Đốc), qua trấn Vĩnh Thanh (năm 1808) đến khi thành lập tỉnh An Giang (năm 1832 dưới thời Minh Mạng). Địa bàn có sự cộng cư của 4 dân tộc: Kinh, Hoa, Chăm, Khmer với đời sống tôn giáo đa dạng gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo.
  • Khái quát thành phố Châu Đốc: Diện tích tự nhiên 99,95 km², giữ vị trí biên giới tiếp giáp Campuchia và ngã ba sông Hậu. Châu Đốc chuyển từ thị xã lên thành phố năm 2013 và đạt đô thị loại II năm 2015, có cơ cấu kinh tế với thương mại - dịch vụ - du lịch chiếm trên 60%.

Chương 2: Tín ngưỡng và lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc

Chương 2 phân tích nguồn gốc đa tầng của tín ngưỡng Bà Chúa Xứ:

  • Tích hợp biểu tượng: Sự hội tụ giữa tín ngưỡng thờ Nữ thần/Mẫu thần bản địa của người Việt, Mẹ Xứ Sở Pô Inư Nưgar của người Chăm, Nữ thần Neang Khmau và Neak Tà của người Khmer, cùng vết tích tượng thần Shiva/Uma và Linga của Bàlamôn giáo cổ.
  • Không gian cụm di tích Núi Sam: Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An, Chùa Hang, Đình Châu Phú.
  • Diễn trình các nghi thức lễ hội truyền thống theo lịch trình từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch:
    1. Lễ Tắm Bà (đêm 23 rạng sáng 24/4 AL): Nghi thức lau dọn tượng và thay y phục mới; nước tắm Bà và khăn lau được phân phát cho người đi lễ như vật phẩm mang lại may mắn.
    2. Lễ Thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu (chiều 24/4 AL): Đoàn rước từ miếu Bà sang Lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh bài vị Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân về miếu Bà an vị.
    3. Lễ Túc yết (đêm 25 rạng sáng 26/4 AL): Dâng hương, hoa quả, trà, rượu và vật tế chính là heo quay nguyên con.
    4. Lễ Xây chầu - Hát bội (tiếp nối Lễ Túc yết): Nghi thức gõ trống khai tràng và biểu diễn các vở tuồng hát bội cổ truyền cầu quốc thái dân an.
    5. Lễ Chánh tế (sáng 27/4 AL): Nghi thức tế lễ tương tự Lễ Túc yết để tạ ơn thần linh.
    6. Lễ Hồi sắc (chiều 27/4 AL): Rước bài vị danh thần Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân trở về Lăng.

Chương 3: Lễ hội Bà Chúa Xứ và những chiều cạnh biến đổi

Chương này chỉ ra các chiều cạnh chuyển đổi của lễ hội qua các mốc thời gian:

  • Biến đổi về thời gian: Không gian lễ hội không còn gói gọn trong các ngày chính hội (23–27/4 AL) mà kéo dài liên tục từ sau Tết Nguyên đán đến hết tháng 4 âm lịch, hình thành mùa hành hương kéo dài nhiều tháng.
  • Biến đổi về không gian: Mở rộng khuôn viên Miếu Bà, xây dựng quảng trường trung tâm Núi Sam, quy hoạch lại hệ thống bãi đỗ xe, phân luồng giao thông đô thị và kết nối không gian lễ hội với toàn bộ địa bàn thành phố Châu Đốc.
  • Biến đổi về chủ thể: Sự tham gia trực tiếp của chính quyền các cấp (thành lập Ban Tổ chức lễ hội cấp thành phố có sự phối hợp của các sở, ban, ngành) song hành cùng Ban Quản trị lăng miếu Núi Sam; khách hành hương mở rộng thành phần xã hội từ cư dân nông nghiệp sang giới kinh doanh, thương nhân và du khách từ mọi miền đất nước.
  • Biến đổi về mục đích và chức năng: Từ chức năng cầu mùa, giải tỏa tâm linh nông nghiệp truyền thống chuyển sang cầu tài lộc, mua bán, mở rộng làm ăn kinh tế và tích hợp chức năng du lịch, giải trí thương mại.
  • Biến đổi về cấu trúc: Phần lễ được chuẩn hóa về quy trình nhằm đảm bảo trật tự; phần hội được bổ sung nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật hiện đại, sân khấu hóa, tuần hành xe hoa, biểu diễn thể thao và kết hợp tổ chức Tháng Du lịch An Giang năm 2017. Đồng thời xuất hiện hệ thống dịch vụ kinh doanh ăn theo (dịch vụ cho thuê heo quay, viết sớ khấn thuê, bán đồ lễ).

Luận án dẫn chứng các dữ liệu khảo sát cụ thể qua hệ thống bảng:

Bảng dữ liệu Tên bảng trong luận án Nội dung dữ liệu chính
Bảng 3.1 Nội dung cầu nguyện của du khách khi đến miếu Bà Tổng hợp tỷ lệ du khách cầu bình an, cầu sức khỏe, cầu tài lộc và kinh doanh
Bảng 3.2 Khảo sát mục đích đi hội của người dân Phân bố tỷ lệ giữa mục đích thuần túy tâm linh, tham quan du lịch và kết hợp mua bán
Bảng 4.1 Số lượng khách tại một số điểm du lịch trong tỉnh An Giang So sánh lượng du khách tại Núi Sam với các điểm du lịch khác trên địa bàn tỉnh
Bảng 4.2 Hiện trạng khách du lịch đến các tỉnh Tây Nam Bộ Thống kê vị trí thu hút du khách của An Giang trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 4.3 Số lượng khách tại một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu Tổng hợp quy mô lượng khách hành hương tại miếu Bà Chúa Xứ so với các điểm tín ngưỡng

Chương 4: Một vài bàn luận từ những biến đổi của lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam

Chương 4 tập trung thảo luận 3 nội dung trọng tâm:

  1. Vai trò của nhà nước: Nhà nước thực hiện việc quản lý và định hướng lễ hội thông qua các văn bản quy hoạch, quyết định công nhận di sản, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và kiểm soát mê tín dị đoan. Mô hình phân cấp quản lý từ cấp tỉnh về Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc đã nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương.
  2. Du lịch - động lực cho sự biến đổi: Hoạt động du lịch tâm linh thúc đẩy phát triển hạ tầng đô thị, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Châu Đốc sang dịch vụ; đồng thời du lịch cũng tạo áp lực thương mại hóa lên các không gian thiêng và thực hành nghi lễ.
  3. Vai trò của cộng đồng địa phương và sự thỏa hiệp: Cộng đồng cư dân và Ban Quản trị lăng miếu không thụ động tiếp nhận sự can thiệp từ bên ngoài mà chủ động thương thảo, chia sẻ nguồn lợi ích kinh tế (nguồn thu công đức, tiền bán vé, nguồn thu dịch vụ) với chính quyền để tái đầu tư vào các công trình phúc lợi công cộng, trùng tu di tích và giữ gìn các nghi thức cốt lõi của lễ hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án cung cấp luận cứ thực tế chứng minh sự vận động của một lễ hội tín ngưỡng dân gian trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế thị trường và đô thị hóa.
  • Làm sáng tỏ khả năng ứng dụng của lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết sáng tạo truyền thống trong việc giải thích cơ chế thích nghi, bổ sung các yếu tố mới vào nghi lễ cổ truyền mà không làm mất đi giá trị cốt lõi của tín ngưỡng.
  • Khẳng định mô hình quan hệ giữa nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội không phải là quan hệ áp đặt đơn chiều mà là một quá trình thỏa hiệp, thương thảo và phối hợp trách nhiệm.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Hệ thống hóa toàn bộ các tư liệu lịch sử, diễn trình cúng tế truyền thống và thực trạng biến đổi của Lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam giai đoạn 2001–2017.
  • Đánh giá thực trạng các dịch vụ kinh tế ăn theo lễ hội và hoạt động du lịch tâm linh tại địa phương, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong công tác quản lý an ninh, vệ sinh và bảo tồn di sản.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý văn hóa tỉnh An Giang và thành phố Châu Đốc xây dựng các đề án quy hoạch lễ hội, phát triển du lịch bền vững và hoàn thiện hồ sơ đề cử di sản văn hóa.

Các đề xuất và kiến nghị

  • Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản trị lăng miếu Núi Sam nhằm đảm bảo tính minh bạch trong quản lý nguồn thu công đức và tái đầu tư cho an sinh xã hội.
  • Kiểm soát và xử lý các hiện tượng chèo kéo du khách, biến tướng thương mại trong các dịch vụ heo quay, dâng lễ và khấn thuê quanh khu vực miếu Bà.
  • Nâng cao năng lực tổ chức phần hội, kết hợp hài hòa giữa hoạt động du lịch hiện đại với việc bảo tồn tính tôn nghiêm của các nghi thức tế lễ cổ truyền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Hoạt động điều tra bằng bảng hỏi (250 phiếu khảo sát thực hiện năm 2015) gặp khó khăn do nhịp độ di chuyển nhanh của khách hành hương trong mùa lễ hội, vì vậy số liệu điều tra chỉ phản ánh được các đặc tính cơ bản về nhân khẩu học và nhu cầu tâm linh khái quát.
  • Việc tiếp cận thông tin phỏng vấn sâu đối với các nhóm đối tượng kinh doanh dịch vụ mang tính nhạy cảm (như chủ các lò quay heo cúng Bà) gặp rào cản về mức độ sẵn sàng cung cấp thông tin, đòi hỏi nghiên cứu sinh phải sử dụng phương pháp quan sát tham dự gián tiếp.
  • Đề tài tập trung nghiên cứu trường hợp lễ hội tại Núi Sam (Châu Đốc), chưa mở rộng so sánh định lượng với toàn bộ hệ thống các cơ sở thờ Bà Chúa Xứ khác trên toàn địa bàn Nam Bộ.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam với các trung tâm thờ Bà Chúa Xứ và thờ Mẫu khác ở khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động kinh tế và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan trong chuỗi giá trị du lịch tâm linh tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên chuyên ngành: Cung cấp khung lý thuyết về biến đổi văn hóa, sáng tạo truyền thống và phương pháp điền dã dân tộc học áp dụng vào nghiên cứu lễ hội dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ (đặc biệt là nội dung Chương 1 và Chương 2).
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp các phân tích về mô hình quản lý phân cấp, cơ chế phối hợp giữa chính quyền và ban quản trị di tích, cùng giải pháp quản lý dịch vụ lễ hội (nội dung Chương 3 và Chương 4).
  • Các nhà quản lý và doanh nghiệp du lịch: Cung cấp dữ liệu khảo sát về hành vi, nhu cầu của khách hành hương và mối liên kết giữa lễ hội truyền thống với các sự kiện xúc tiến du lịch địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Pho tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam có nguồn gốc khảo cổ và lịch sử như thế nào theo tư liệu của luận án?

Theo các nghiên cứu khảo cổ học của Louis Malleret được luận án trích dẫn, pho tượng Bà Chúa Xứ ngự trên đỉnh Núi Sam ban đầu được tạc bằng đá sa thạch từ thời trung cổ, mang phong cách nghệ thuật liên quan đến tượng thần Shiva của Bàlamôn giáo cổ. Sự hiện diện của bệ đá Linga tại miếu Bà là yếu tố vật chất củng cố giả thiết này. Khi người Việt đến khai hoang, tượng đã được khoác y phục và phụng thờ theo tín ngưỡng Thánh Mẫu của người Việt, tích hợp thêm các yếu tố văn hóa của người Chăm và Khmer.

2. Mốc thời gian năm 2001 có ý nghĩa như thế nào đối với sự biến đổi của lễ hội?

Năm 2001 là thời điểm Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là lễ hội cấp quốc gia. Mốc thời gian này đánh dấu sự chuyển đổi cơ bản trong phương thức tổ chức: lễ hội không còn thuần túy là sinh hoạt tín ngưỡng làng xã địa phương mà được đầu tư mở rộng về quy mô tổ chức, nâng cấp hạ tầng đô thị, có sự tham gia chỉ đạo trực tiếp của các cấp chính quyền và trở thành trọng điểm du lịch của tỉnh An Giang.

3. Diễn trình các nghi thức lễ chính trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ gồm những bước nào?

Diễn trình lễ hội diễn ra từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch gồm 6 nghi thức tuần tự: Lễ Tắm Bà (đêm 23 rạng sáng 24/4 AL), Lễ Thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu từ Lăng về Miếu (chiều 24/4 AL), Lễ Túc yết (đêm 25 rạng sáng 26/4 AL), Lễ Xây chầu - Hát bội (tiếp ngay sau Lễ Túc yết), Lễ Chánh tế (sáng 27/4 AL), và Lễ Hồi sắc đưa bài vị Thoại Ngọc Hầu trở về Lăng (chiều 27/4 AL).

4. Luận án đã sử dụng những phương pháp điền dã thực tế nào?

Tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát tham dự trực tiếp vào các nghi lễ và trải nghiệm dịch vụ cúng heo quay; phỏng vấn sâu Ban Quản trị lăng miếu, các bô lão, cán bộ quản lý văn hóa thành phố Châu Đốc, chuyên gia du lịch và người dân địa phương; điều tra hồi cố qua trí nhớ các bô lão; khảo sát bằng bảng hỏi đối với 250 du khách hành hương vào năm 2015; và tham dự các cuộc họp triển khai dự án phát triển du lịch năm 2017.

5. Sự thỏa hiệp giữa nhà nước và cộng đồng địa phương trong quản lý lễ hội được thể hiện ra sao?

Sự thỏa hiệp thể hiện ở việc chính quyền tôn trọng và giao quyền thực hành các nghi lễ tâm linh truyền thống cho Ban Quản trị lăng miếu và các bô lão địa phương; ngược lại, cộng đồng chấp thuận sự điều hành của nhà nước về quy hoạch không gian, đảm bảo an ninh trật tự và chia sẻ nguồn thu từ hoạt động lễ hội để đầu tư trở lại vào hệ thống hạ tầng đô thị, an sinh xã hội và tôn tạo di tích.

Kết luận

Luận án Lễ hội Bà Chúa Xứ của người Việt ở Nam Bộ của nghiên cứu sinh Bùi Thị Ngọc Phương là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa dân gian, khảo cứu toàn diện diễn trình biến đổi của Lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam giai đoạn 2001–2017. Bằng việc vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và sáng tạo truyền thống, luận án đã phân tích sự chuyển dịch của lễ hội trên các phương diện không gian, thời gian, chủ thể, cấu trúc và chức năng dưới tác động của quản lý nhà nước và kinh tế du lịch. Công trình khẳng định vai trò chủ động của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn cốt lõi tâm linh và làm rõ mô hình quản lý kết hợp hiệu quả giữa chính quyền và nhân dân tại trung tâm tín ngưỡng Nam Bộ.