Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nghệ thuật học với đề tài "Nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế" do nghiên cứu sinh Phan Lê Chung thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vĩnh Phối và GS.TS. Trương Quốc Bình, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật (mã số: 9210101).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cùng với dòng chảy lịch sử nghệ thuật dân tộc, thời kỳ các chúa và vua Nguyễn đã để lại nhiều di sản mỹ thuật trên các chất liệu gỗ, đá, khảm sành sứ, nề đắp nổi và đồ đồng. Giá trị nghệ thuật trang trí trên đồ đồng tại Huế gắn liền với Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1993, trong đó có 4 bộ di vật đồ đồng tiêu biểu đã được công nhận là Bảo vật quốc gia Việt Nam.
Chất liệu đồng gắn bó xuyên suốt 9 đời chúa và 13 triều vua Nguyễn (1558–1945), thể hiện tính biểu trưng quyền lực, sự bền vững của thời đại qua 11 chiếc vạc đồng thời các chúa Nguyễn, phường môn bằng đồng tại Đại Nội và các lăng tẩm, bộ Cửu Đỉnh, bộ Cửu vị thần công, cùng các pháp khí tôn giáo như Đại Hồng Chung và khánh đồng tại chùa Thiên Mụ, chùa Thiền Tôn. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sử liệu, khảo cổ, văn hóa học hoặc miêu tả kỹ thuật đúc. Khía cạnh nghệ thuật trang trí bao gồm bố cục, nhịp điệu, đường nét, hình mảng, kiểu thức và ngôn ngữ biểu đạt vẫn là một khoảng trống học thuật chưa được khảo cứu có hệ thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu ở Huế, từ đó đưa ra các đánh giá, nhận định khoa học về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí trên đồ đồng tại Quần thể di tích Cố đô Huế.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát sự tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử, nghệ thuật liên quan đến đề tài, kiểu thức và đồ án trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế.
- Nghiên cứu những đặc trưng của ngôn ngữ trang trí như bố cục, nhịp điệu, hình mảng, đường nét; làm rõ mối liên hệ trong quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Huế trong bình diện chung của nghệ thuật đồ đồng Việt Nam.
- Nghiên cứu những giá trị nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế.
- Nghiên cứu mối tương quan của đồ đồng tiêu biểu qua các thời kỳ phát triển.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Những yếu tố nào đã tác động đến sự hình thành và phát triển về chủ đề, bố cục, đường nét, hình mảng, kiểu thức trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Huế?
- Câu hỏi 2: Những nét đặc trưng nổi bật nào trong nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế?
- Câu hỏi 3: Nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế có những đóng góp giá trị gì cho nghệ thuật Việt Nam? Vai trò và vị trí của nghệ thuật trang trí đồ đồng tiêu biểu tại Huế trong dòng chảy nghệ thuật dân tộc?
Tương ứng với 3 câu hỏi, tác giả xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu ở Huế kế thừa nền tảng các giá trị văn hóa nghệ thuật dân tộc với sự ảnh hưởng của các phong cách trang trí ở Đàng Ngoài (thời Hậu Lê) trong tinh thần giao thoa và tiếp biến văn hóa giữa các thời kỳ. Dưới tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử và xã hội, nghệ thuật trang trí đồ đồng tại Huế chứa đựng ngôn ngữ biểu tượng sâu sắc, hàm chứa ý nghĩa ẩn dụ và phản ánh bối cảnh văn hóa xã hội đương thời.
- Giả thuyết 2: Nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Huế có sự kết hợp hài hòa giữa hình tượng "hóa", lối trang trí kết hợp hiện thực và siêu thực; ngôn ngữ trang trí kết hợp thủ pháp khối cao phù điêu và thấp phù điêu; kết hợp giữa tính nguyên tắc và vô nguyên tắc trong nhịp điệu hình và nét; bố cục trang trí dạng hình tròn hoặc chuyển động quanh hình tròn kế thừa quan niệm trời tròn đất vuông và motif xoắn ốc Đông Sơn; kế thừa kỹ thuật làng nghề Bắc Bộ thế kỷ XVII–XVIII và kỹ thuật đúc phương Tây.
- Giả thuyết 3: Nghệ thuật trang trí trên đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế chứa đựng các giá trị về văn hóa, lịch sử và thẩm mỹ, khẳng định vai trò và vị trí trong mối quan hệ tương quan phát triển của nghệ thuật Việt Nam nói chung và văn hóa Huế nói riêng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế, tập trung vào đặc điểm trang trí, kiểu thức biểu đạt và đề tài trang trí thời các chúa và vua Nguyễn.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1558 đến năm 1945 (gồm thời kỳ các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn; giai đoạn Tây Sơn 1788–1801 diễn ra ngắn và mang nhiều nét tương đồng thời chúa nên được xếp vào phạm vi thời hậu các chúa Nguyễn).
- Phạm vi không gian: Quần thể di tích Cố đô Huế và một số địa điểm phụ cận liên quan trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm nguồn chính:
-
Nguồn sử liệu cổ và tư liệu thời Nguyễn:
- Các bộ chính sử như Quốc triều thực lục, Thực lục tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí ghi chép bối cảnh lịch sử, việc đúc Cửu Đỉnh năm 1835, quy chế phường đúc và hoạt động chế tác kim khí cung đình.
- Nhận định của Đỗ Bang về ý thức xây dựng nền văn hóa dân tộc và hệ thống quốc sử quy mô dưới triều Nguyễn.
-
Nhóm công trình về lịch sử, văn hóa, tiếp biến và cội nguồn mỹ thuật:
- Phạm Xuân Nam (2008) với Sự đa dạng văn hoá và đối thoại giữa các nền văn hoá một góc nhìn từ Việt Nam làm rõ giá trị cội nguồn thời Văn Lang – Âu Lạc và quá trình giao lưu văn hóa.
- Nguyễn Văn Kự (2014) với Di sản văn hoá Chăm phân tích sự tác động của văn hóa Chămpa đến đồ án và bố cục trang trí.
- Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh (1963) trong Những vết tích đầu tiên của thời đại đồ đồng thau ở Việt Nam.
- Nguyễn Khoa Chiêm với Trịnh Nguyễn diễn chí (tập I, II, 1986–1987) phản ánh bối cảnh giao lưu Đàng Trong – Đàng Ngoài.
- Tuyển tập Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới (2005) với các bài viết của Văn Tạo, Đỗ Bang, Nguyễn Cảnh Minh, Nguyễn Đình Chú.
- Nguyễn Duy Chính trong Đàng Trong thời chúa Nguyễn phản ánh sự cởi mở trong ngoại thương và tiếp nhận văn hóa.
-
Nhóm nghiên cứu của học giả phương Tây trên Tập san Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hué - B.A.V.H, 1914–1944):
- L. Cadière với các bài viết "Những đỉnh triều đại ở Đại nội Huế", "Các mô-típ mỹ thuật An Nam" (1919), "Phường Trường Súng" (khảo sát trường bắn đại bác năm 1747 tại làng Dương Xuân Hạ).
- H. Lebris với "Các súng thần công của kinh thành Huế".
- P. Albrecht với "Những hoạ tiết của nghệ thuật trang trí ở Huế: con rồng".
- A. Bonhomme (1915) với "Chùa Thiên Mụ: Lịch sử, Miêu tả".
- L. Sogny (1921) với "Những chiếc vạc đồng tại Hoàng cung" (ghi chép chuyến thăm Hoàng cung năm 1907 và xác định niên đại thế kỷ XVII của các vạc đồng).
- H. Cosserat (1932) với "Chín khẩu thần công ở kinh thành Huế những chi tiết bổ sung".
-
Nhóm công trình nghiên cứu chuyên sâu về mỹ thuật, đồ đồng và di sản Huế:
- Nguyễn Tiến Cảnh (chủ biên), Nguyễn Du Chi, Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ trong Mỹ thuật Huế (1992) phân tích hệ thống Tứ linh, Bát bửu và các bức chạm nổi quanh Cửu Đỉnh.
- Trần Lâm Biền với bài viết "Huế, mỹ thuật Nguyễn, những cái riêng" (Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, 1979) phân tích phong cách hoa lá, chim thú trong ô hộc trên thân vạc đồng thế kỷ XVII.
- Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) trong Mỹ thuật thời chúa Nguyễn dẫn liệu từ di sản lăng mộ (2014) khảo cứu 11 chiếc vạc đồng thời chúa Nguyễn mang niên hiệu nhà Lê (Thịnh Đức, Cảnh Trị, Dương Đức, Chính Hòa) và kiểu thức phân chia ô hộc.
- Dương Phước Thu với Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế (2011) mô tả kỹ thuật chế tác và danh mục hình khắc trên Cửu Đỉnh.
- Vĩnh Phối với đề tài NCKH cấp Bộ B98.11 (2000) và tham luận "Bản sắc truyền thống và sự hòa nhập trong mỹ thuật cận hiện đại Huế" (1998) đánh giá giá trị thẩm mỹ của chuông, vạc đồng.
- Phan Thanh Hải với "Đỉnh vạc đồng của họ Nguyễn" (2005) và "Những cổ vật bằng đồng của Huế" (2007) bàn về kỹ thuật đúc, dấu ấn thợ đúc Jean de la Croix (Joãz da Cruz) và chiếc khánh đồng chùa Thiên Mụ đúc năm 1677 do Trần Đình Ân cung tiến.
- Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công (2015) trong Đồ đồng thời Nguyễn tổng hợp diện mạo và chủng loại di vật đồ đồng.
- Trương Quốc Bình (2014) trong Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam.
- Nghiêm Xuân Mừng (2013) với "Một quả chuông hiếm thời Tây Sơn" khảo tả chuông chùa La Chữ có quai chuông 4 đầu rồng quay 4 hướng.
- Trần Đình Hằng (2001) với "Chế độ công tượng nguồn quy tụ tinh hoa nghệ nhân cho Huế".
- Hồ Vĩnh và Nguyễn Bình nghiên cứu tượng đồng Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.
- Ngô Văn Doanh nghiên cứu tượng đồng Chămpa (phong cách Hòa Lai, Đăng Bình).
- Nguyễn Du Chi với Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến.
- Tập VI chuyên đề đồ đồng (2007) do Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế ấn hành với các bài viết của Trương Quý Mẫn, Ngọc Minh, Trần Thị Liên Chi.
- Bửu Kế với Chuyện triều Nguyễn (1990) và Nguyễn triều cố sự huyền thoại về danh lam xứ Huế (2004).
Khoảng trống luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước tiếp cận đồ đồng dưới góc độ sử học, dân tộc học, liệt kê chủng loại hoặc giới thiệu khái quát cổ vật. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về phân tích hình thái nghệ thuật trang trí: làm rõ cấu trúc bố cục, nhịp điệu đường nét, phân loại đề tài, kiểu thức ô hộc, thủ pháp chạm đúc khối cao/thấp, hiện tượng "hóa" hình tượng và ngôn ngữ biểu đạt thẩm mỹ của đồ đồng Huế trong mối quan hệ tiếp biến văn hóa Đàng Ngoài – Chămpa – phương Tây.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng 3 lý thuyết nền tảng:
- Thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation): Dựa trên quan điểm của các học giả Radugin, Titiev, Kroeber để luận giải sự giao lưu, tiếp nhận và biến đổi thẩm mỹ giữa phong cách trang trí Đàng Ngoài (thời Hậu Lê), văn hóa Chămpa bản địa và các yếu tố kỹ thuật, hoa văn du nhập từ phương Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp).
- Thuyết Địa - văn hóa: Tiếp cận theo quan điểm của Ngô Đức Thịnh (Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá Việt Nam) và Trần Quốc Vượng (Việt Nam cái nhìn địa văn hoá) để làm rõ mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, điều kiện khan hiếm mỏ đồng tại Đàng Trong, vị thế kinh đô Phú Xuân và sự định hình phong cách mỹ thuật bản địa.
- Thuyết giải mã biểu tượng: Vận dụng lý thuyết của Victor Turner và Đinh Hồng Hải (Nghiên cứu biểu tượng một số hướng tiếp cận lý thuyết) để giải mã ý nghĩa biểu trưng, ẩn dụ của hoa văn: hình tượng rồng hạ thấp đầu thời chúa, đồ án cò và cá trên vạc đồng, biểu tượng số 9 và quyền uy tối cao trên Cửu Đỉnh, biểu tượng Bát bửu của tam giáo (Phật - Đạo - Nho) trên chuông và khánh đồng.
Các khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa trong luận án:
- Trang trí và Nghệ thuật trang trí (theo Từ điển tiếng Việt, Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, định nghĩa của Lê Quốc Phục, Trần Lâm Biền, Vĩnh Phối).
- Hoa văn trang trí (định nghĩa của Nguyễn Hữu Thông: hình vẽ, vằn rằn trên vật dụng, kiến trúc).
- Kiểu thức trang trí (các nguyên tắc đăng đối, tịnh tiến, nhắc lại, xoay chiều).
- Phong cách trang trí (tính chất nhận diện hình thành qua một giai đoạn lịch sử).
- Ngôn ngữ biểu đạt (nội dung, ý nghĩa, khái niệm hàm chứa theo Trịnh Bá Đĩnh).
- Khái niệm "Hóa" (biến thể hình thái: cá hóa rồng, trúc hóa rồng, mai hóa rồng).
- Di vật, Cổ vật, Bảo vật quốc gia (theo Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp khảo sát điền dã: Tiến hành theo 2 bước (bước 1: khảo tả ban đầu về hình dạng, kích thước, chụp ảnh kỹ thuật số, rập hoa văn; bước 2: phân tích chuyên sâu, kiểm tra bề mặt chất liệu, đối chiếu niên đại).
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà nghiên cứu mỹ thuật, lịch sử, văn hóa Huế.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối sánh trang trí thời chúa Nguyễn với thời vua Nguyễn; đối sánh Đàng Trong với Đàng Ngoài; đối sánh yếu tố truyền thống bản địa với ảnh hưởng phương Tây.
- Phương pháp thống kê và phân loại: Phân loại hiện vật theo thời kỳ, công năng (cung đình, tín ngưỡng), không gian trưng bày (nội thất, ngoại thất), hình thức kiểu thức và chủ đề trang trí (thực vật, động vật, hiện tượng tự nhiên).
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Xử lý dữ liệu định tính và định lượng từ tư liệu cổ sử, tập san B.A.V.H, khảo sát thực địa.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Tích hợp góc nhìn của lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học và mỹ thuật học.
Nguồn tư liệu và địa bàn khảo sát thực tế
Tác giả đã trực tiếp khảo sát, đo đạc và thu thập tư liệu ảnh tại các địa điểm thuộc Thừa Thiên Huế:
| Địa điểm khảo sát |
Hiện vật đồ đồng tiêu biểu |
Đặc điểm và niên đại |
| Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế |
Hơn 700 hiện vật đồng; 07 vạc đồng lớn thời chúa Nguyễn; hơn 20 quả chuông (thế kỷ XIX–XX); 06 khánh đồng; bộ chân đèn, sách đồng thời Tự Đức; nhạc khí (chiêng, thanh la đúc thời Minh Mạng, Thiệu Trị). |
Vạc đồng thế kỷ XVII do Jean de la Croix đúc; khánh đồng dạng vân khánh và phúc khánh; sách đồng chạm lõm; chuông hình trụ ống, đuôi cá, hoa loa kèn. |
| Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên Huế |
04 khẩu súng thần công thời chúa Nguyễn (vớt tại cửa biển Thuận An năm 2007). |
Đúc năm 1660; chia làm 2 cặp (chiều dài 164cm và 174cm; đường kính nòng bình quân 42cm); trang trí hoa lá, động vật. |
| Khu vực Hoàng Thành (Đại Nội) |
05 chiếc vạc đồng thời chúa Nguyễn (sau điện Thái Hòa); bộ Cửu Đỉnh (Thế Miếu); Cửu vị thần công (trước Đại Nội); phường môn bằng đồng. |
Cửu Đỉnh đúc năm Minh Mạng thứ 16 (1835); Cửu vị thần công chia thành 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Đông) và Ngũ hành; phường môn trang trí đề tài Long ẩn vân. |
| Chùa Thiên Mụ |
01 Đại Hồng Chung; 01 khánh đồng. |
Đại Hồng Chung đúc năm 1710 thời chúa Nguyễn Phúc Chu (cao khoảng 2,5m); khánh đồng đúc năm 1677 (Trần Đình Ân đúc tặng chùa Bình Trung). |
| Chùa An Lưu |
01 chuông đồng. |
Thời các chúa Nguyễn. |
| Chùa La Chữ |
01 chuông đồng. |
Thời Tây Sơn; quai chuông chạm 4 đầu rồng quay 4 hướng so le miệng ngậm ngọc và nhả ngọc. |
| Chùa Thiền Tôn |
01 Đại Hồng Chung. |
Thời các chúa Nguyễn. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát đối tượng nghiên cứu (69 trang)
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mỹ thuật đồ đồng Huế; xác lập cơ sở lý luận với 3 khung thuyết (tiếp biến văn hóa, địa - văn hóa, giải mã biểu tượng) và hệ thống khái niệm chuyên ngành.
Bên cạnh đó, chương này phân tích bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội tác động đến nghệ thuật trang trí đồ đồng Đàng Trong:
- Dấu mốc năm Mậu Ngọ (1558) khi Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu quá trình xác lập vị thế xứ Đàng Trong (kéo dài từ vĩ tuyến 11 đến vĩ tuyến 17).
- Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp lúa nước miền Nam và chính sách kinh tế mở cửa mậu dịch đối ngoại tại các đô thị, cảng thị như Hội An và phố cảng Thanh Hà (thành lập năm 1636 khi chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ về Kim Long - Phú Xuân), đón thương thuyền Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp.
- Hoạt động ngoại thương tạo nguồn nhập khẩu nguyên liệu đồng từ nước ngoài để đúc vũ khí, vạc đồng, chuông đồng, đồng thời du nhập kỹ thuật chế tác phương Tây thông qua các thợ đúc như Jean de la Croix (Joãz da Cruz) sống tại Phường Đúc thế kỷ XVII.
- Vai trò của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu (nữ thần bản địa Thiên Y A Na) được các chúa Nguyễn sử dụng như chính sách an dân trị quốc, dung hòa văn hóa di dân người Việt từ Đàng Ngoài với văn hóa Chămpa bản địa.
Chương 2: Nhận diện nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế (54 trang)
Chương 2 tập trung khảo tả, nhận diện diện mạo nghệ thuật trang trí trên các nhóm di vật đồng tiêu biểu:
- Nhóm vạc đồng thời chúa Nguyễn: Khảo tả 11 chiếc vạc đúc từ năm 1631 đến 1684 (thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên và Nguyễn Phúc Tần). Bố cục thân vạc phân chia thành các dải băng ngang và các ô hộc hình chữ nhật. Hoa văn chạm đúc chìm với đề tài hoa sen, hoa cúc, hoa dây, lá sòi ngược, chấm nổi, chim thú, cảnh cò và cá mang tính phóng khoáng của mỹ thuật thế kỷ XVII.
- Nhóm Cửu Đỉnh (Thế Miếu, 1835): Khảo tả 9 đỉnh đồng với 153 đồ án chạm nổi phù điêu phản ánh toàn bộ không gian địa lý, cương vực, sông núi, biển đảo, sản vật động thực vật, vũ khí của đất nước thống nhất.
- Nhóm Cửu vị thần công (thời Gia Long): Khảo tả 9 khẩu đại bác đúc nổi hoa văn thực vật, kết hợp họa tiết hình vương miện phương Tây trên thân và tai súng, phân định thành 4 mùa (Tứ thời) và 5 yếu tố (Ngũ hành).
- Nhóm pháp khí chuông, khánh tôn giáo: Khảo tả Đại Hồng Chung chùa Thiên Mụ (1710), khánh đồng năm 1677 chạm nổi hình Nhị thập bát tú và mặt trời, chuông thời Tây Sơn chùa La Chữ với quai chuông tạo hình 4 đầu rồng chữ thập, Đại Hồng Chung chùa Thiền Tôn.
- Đề tài, kiểu thức và thủ pháp trang trí: Hệ thống hóa đề tài Tứ linh (long, lân, quy, phụng), hoa lá thực vật (sen, cúc, trúc, mai), động vật (dơi, cò, cá), hiện tượng tự nhiên (sóng nước, mây mũi mác, vân mây), Bát bửu tam giáo có dải lụa quấn ngang; kiểu thức bố cục đăng đối, tịnh tiến, nhắc lại; thủ pháp kết hợp giữa đúc nổi phù điêu khối cao, khối thấp và chạm chìm.
- Ngôn ngữ biểu đạt: Phân tích sự hài hòa giữa tính nguyên tắc và vô nguyên tắc trong nhịp điệu nét; bố cục tròn hoặc vận động quanh hình tròn; thủ pháp tạo hình "hóa" (cá hóa rồng, trúc hóa rồng, mai hóa rồng) kết hợp giữa hiện thực và siêu thực.
Chương 3: Bàn luận những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế (37 trang)
Chương 3 tổng kết, luận bàn các đặc trưng mỹ thuật và giá trị của di vật đồ đồng Huế:
- Đặc trưng nghệ thuật trang trí:
- Tính tiếp biến và dung hợp đa nguồn: Kế thừa truyền thống mỹ thuật thời Lý, Trần, Lê ở Đàng Ngoài, kết hợp yếu tố trang trí ô hộc của văn hóa Chămpa bản địa và tiếp thu kỹ thuật đúc, mô-típ hoa văn Tây phương.
- Sự chuyển biến phong cách qua hai giai đoạn: Giai đoạn thời chúa Nguyễn mang tính phóng khoáng, tạo hình rồng hạ thấp đầu nhún nhường, đề tài gần gũi thiên nhiên; giai đoạn thời vua Nguyễn mang tính quy chuẩn Nho giáo chặt chẽ, tạo hình rồng nâng cao uy nghi, bố cục hoành tráng, khẳng định tính chính thống của vương triều.
- Tính biểu tượng và ngôn ngữ ẩn dụ: Tượng trưng cho quyền uy tối cao, ước vọng thái bình no đủ, sự hòa hợp tam giáo và biểu thị chủ quyền lãnh thổ toàn vẹn.
- Những giá trị nghệ thuật trang trí:
- Giá trị lịch sử - văn hóa: Là chứng tích vật chất phản ánh công cuộc mở cõi, định đô và tiến trình phát triển của vương triều Nguyễn.
- Giá trị thẩm mỹ: Đại diện cho đỉnh cao nghệ thuật tạo hình kim loại cổ truyền Việt Nam thế kỷ XVII–XX, làm phong phú ngôn ngữ tạo hình dân tộc.
- Giá trị kỹ nghệ truyền thống: Ghi dấu trình độ kỹ thuật đúc đồng tinh xảo của các thế hệ nghệ nhân quan xưởng triều Nguyễn và làng nghề Phường Đúc Huế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tại Quần thể di tích Cố đô Huế dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật.
- Vận dụng thuyết tiếp biến văn hóa, địa - văn hóa và giải mã biểu tượng để làm sáng tỏ bản chất đa nguồn, sự dung hợp giữa phong cách mỹ thuật Đàng Ngoài, văn hóa Chămpa bản địa và kỹ thuật phương Tây trên đồ đồng Huế.
- Phân tích và xác lập các đặc điểm nhận diện ngôn ngữ tạo hình (bố cục ô hộc, hình tròn, thủ pháp phù điêu khối cao/thấp, nhịp điệu đường nét và motif "hóa") qua các phân kỳ lịch sử từ thời chúa Nguyễn đến thời vua Nguyễn.
Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Cung cấp nguồn tư liệu học thuật và cơ sở dữ liệu hình ảnh, số đo, bản vẽ dập hoa văn phục vụ trực tiếp công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận và lịch sử mỹ thuật tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật.
- Làm cơ sở khoa học hỗ trợ các cơ quan quản lý văn hóa, bảo tàng và Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trong việc đánh giá giá trị di vật, phục vụ công tác bảo tồn, trùng tu và phát huy giá trị 4 nhóm Bảo vật quốc gia cùng các cổ vật kim khí tại Huế.
- Đóng góp luận cứ cho việc gìn giữ, phát triển các làng nghề đúc đồng thủ công truyền thống (như Phường Đúc Huế) và giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trên các di vật đồ đồng tiêu biểu hiện lưu giữ tại Quần thể di tích Cố đô Huế và một số di tích trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; chưa mở rộng khảo sát các bộ sưu tập tư nhân ngoài địa bàn. Giai đoạn Tây Sơn (1788–1801) diễn ra trong thời gian ngắn và chiến tranh liên miên nên chưa định hình phong cách riêng, phải xếp vào giai đoạn hậu chúa Nguyễn.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khảo sát so sánh đối chiếu mỹ thuật đồ đồng Huế với các trung tâm đúc đồng đương thời ở Bắc Bộ và Nam Bộ; nghiên cứu liên ngành kết hợp giữa mỹ thuật học và phân tích kim loại học (thành phần hợp kim, phương pháp luyện kim cổ truyền) trên từng nhóm hiện vật.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Mỹ thuật ứng dụng, Văn hóa học, Lịch sử học, Bảo tàng học.
- Cán bộ quản lý di sản, chuyên viên bảo tồn tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, các bảo tàng lịch sử, mỹ thuật trên toàn quốc.
- Các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ và nghệ nhân làng nghề đúc đồng truyền thống.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Chương 2 với hệ thống khảo tả chi tiết đề tài, kiểu thức ô hộc, thủ pháp đúc chạm và ngôn ngữ biểu đạt trên Cửu Đỉnh, vạc đồng, súng thần công, chuông khánh.
- Phần Phụ lục minh họa (100 trang) bao gồm các bản dập hoa văn, số đo kỹ thuật và tư liệu ảnh chụp thực địa các di vật đồng thời chúa và vua Nguyễn.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án khảo sát bao nhiêu bộ di vật đồ đồng được công nhận là Bảo vật quốc gia tại Huế?
Luận án khảo sát 4 bộ di vật đồ đồng là Bảo vật quốc gia tại Huế, bao gồm: 11 chiếc vạc đồng thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII), bộ Cửu Đỉnh thời vua Minh Mạng (đúc năm 1835 đặt tại Thế Miếu), bộ Cửu vị thần công thời vua Gia Long (đặt trước Đại Nội) và quả Đại Hồng Chung chùa Thiên Mụ (đúc năm 1710 thời chúa Nguyễn Phúc Chu).
-
Nghệ thuật trang trí trên đồ đồng thời chúa Nguyễn có những nét tạo hình đặc trưng nào khác biệt so với thời vua Nguyễn?
Thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII–XVIII), trang trí đồ đồng chịu ảnh hưởng phong cách Đàng Ngoài thời Hậu Lê với nét chạm chìm phóng khoáng, bố cục phân chia ô hộc linh hoạt, hình tượng rồng ở tư thế hạ thấp đầu nhún nhường, đề tài thiên nhiên gần gũi (cò, cá, hoa cúc, hoa sen). Sang thời các vua Nguyễn (thế kỷ XIX–XX), trang trí mang tính quy chuẩn Nho giáo nghiêm ngặt, sử dụng nhiều thủ pháp đúc nổi phù điêu khối cao, hình tượng rồng nâng cao đầu uy nghi, bố cục hoành tráng biểu trưng cho sự thống nhất quốc gia và vương quyền tối cao.
-
Nghệ nhân phương Tây nào được sử liệu ghi nhận đã tham gia đúc các vạc đồng thời chúa Nguyễn?
Tác giả dẫn lại sử liệu và bài viết của L. Sogny, Phan Thanh Hải cho biết 11 chiếc vạc đồng thời chúa Nguyễn (đúc từ năm 1631 đến 1684) gắn liền với tên tuổi của một người Bồ Đào Nha lai Ấn Độ tên là Jean de la Croix (còn gọi là Joãz da Cruz), người đã đến Huế vào nửa đầu thế kỷ XVII, lập xưởng đúc tại Phường Đúc và lấy vợ người Việt.
-
Quai chuông đồng chùa La Chữ thời Tây Sơn có đặc điểm tạo hình đặc biệt gì?
Theo khảo tả từ nghiên cứu của Nghiêm Xuân Mừng được luận án trích dẫn, quai chuông đồng thời Tây Sơn tại chùa La Chữ được đúc nổi 4 đầu rồng quay ra 4 hướng đều nhau tạo thành hình chữ thập, phần đuôi rồng chụm lại phía trên. Trong 4 đầu rồng có 2 đầu rồng so le nhau miệng nhả ngọc và 2 đầu rồng còn lại miệng ngậm ngọc, tương tự hình tượng 4 chim phượng trên đỉnh cột trụ đình chùa cổ.
-
Đồ án Bát bửu xuất hiện trên chuông đồng Huế mang đặc trưng biểu tượng gì?
Hình đúc nổi Bát bửu trên thân chuông đồng (như Đại Hồng Chung chùa Thiên Mụ, chùa Thiền Tôn, chùa La Chữ) thể hiện sự kết hợp các biểu tượng quý của tam giáo (Phật giáo, Đạo giáo và Lão giáo). Đặc trưng tạo hình cổ điển được duy trì là ở giữa mỗi vật quý đều có một dải lụa quấn ngang, thể hiện tính ước lệ truyền thống của mỹ thuật cổ Việt Nam.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Phan Lê Chung đã giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về nghệ thuật trang trí trên các di vật đồ đồng tiêu biểu tại Quần thể di tích Cố đô Huế giai đoạn 1558–1945. Thông qua việc vận dụng các lý thuyết tiếp biến văn hóa, địa - văn hóa và giải mã biểu tượng, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc tạo hình, đề tài, kiểu thức ô hộc và ngôn ngữ biểu đạt thẩm mỹ của đồ đồng Huế trong sự dung hợp giữa truyền thống Đại Việt, văn hóa Chămpa và kỹ thuật phương Tây. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí của mỹ thuật đồ đồng Huế như một thành tố quan trọng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu khoa học phục vụ công tác đào tạo học thuật và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.