Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về mỹ thuật tiền - sơ sử Việt Nam ghi nhận giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên (khoảng 3.500 - 4.000 năm cách ngày nay) là bước ngoặt mang tính bản lề trong lịch sử văn minh sông Hồng. Di chỉ Phùng Nguyên (diện tích khai quật 3.960 m² tại xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) cùng mạng lưới di chỉ khảo cổ tại vùng trung du Bắc Bộ đã cung cấp khối lượng di vật gốm đất nung đồ sộ, minh chứng cho một đỉnh cao về nghệ thuật tạo dáng và kỹ nghệ trang trí. Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực tế: phần lớn các công trình trước đây của Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Ngọc Bích (1978), Hán Văn Khẩn (1996), Bùi Thị Thu Phương (2015) tiếp cận gốm Phùng Nguyên dưới lăng kính khảo cổ học hình thái, địa tầng học hoặc nhân học văn hóa. Hệ thống tư liệu này thiếu vắng một công trình chuyên khảo giải mã đồ gốm Phùng Nguyên dưới góc độ Lý luận và lịch sử mỹ thuật (Mã số: 9210101) thông qua ngôn ngữ tạo hình, tương quan tỷ lệ khối và cấu trúc biểu hình của hệ thống đồ án hoa văn kỷ hà.

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Hưng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Quốc Hùng và PGS. Nguyễn Sỹ Toản tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2022), đã xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học mang tính đột phá:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (Q1): Hình thức biểu hiện kiểu dáng và hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên vùng trung du Bắc Bộ được bộc lộ qua những nguyên tắc tạo hình và ngôn ngữ thị giác nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (Q2): Kiểu dáng và đồ án hoa văn gốm Phùng Nguyên mang những đặc trưng khu biệt nào khi so sánh với các nền gốm đồng đại (Hà Giang, Mai Pha, Hạ Long, Hoa Lộc) và lịch đại (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn) trong khu vực Đông Nam Á và Nam Trung Quốc?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (Q3): Các giá trị thẩm mỹ và bản sắc tạo hình của gốm Phùng Nguyên đóng vai trò nền tảng ra sao trong dòng chảy mỹ thuật cổ truyền Việt Nam?

Tương ứng với ba câu hỏi trên là ba giả thuyết khoa học (H1, H2, H3) khẳng định: gốm Phùng Nguyên thể hiện sự tích hợp hoàn hảo giữa các khối hình học cơ bản (khối cầu, khối trụ, hình nón cụt, hình thang cân) với hoa văn trang trí đạt đến trình độ chuẩn xác cao; sở hữu vẻ đẹp giản dị, chắc khỏe, mang tính bản địa độc lập ("phi Ấn - phi Hoa"); và là cội nguồn tạo hình trực tiếp cho nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn.

Khung lý thuyết của công trình tích hợp liên ngành giữa Lý thuyết Ký hiệu học (Semiotics của Charles S. Peirce, Ferdinand de Saussure, Yuri Lotman), Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật (Morphology of Art của M.S. Kagan) và Lý thuyết Vùng văn hóa (Cultural Area của Franz Boas). Phạm vi khảo sát tập trung vào hiện vật gốm nung ngoài trời ở ngưỡng nhiệt độ 600°C - 800°C, kích thước biến thiên từ miệng nhỏ 5 - 10 cm (cốc, bát) đến đường kính lớn 50 - 60 cm (nồi, vò, bình) đang được bảo quản và trưng bày tại 4 thiết chế: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Hùng Vương, Bảo tàng Vĩnh Phúc và Bảo tàng Lịch sử Đền Hùng.

Literature Review và Positioning

Khảo lược lịch sử nghiên cứu cho thấy sự phân nhánh rõ rệt giữa hai luồng quan điểm trong nước và quốc tế. Về mặt khảo cổ học và văn hóa học trong nước, các công trình nền tảng của Hoàng Xuân Chinh và Nguyễn Ngọc Bích (1978) trong Di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1983) trong Lịch sử Việt Nam (tập 1), Hán Văn Khẩn (1996, 2009) đã phân định các giai tầng kỹ thuật, chất liệu xương gốm và loại hình vật dụng. Đặc biệt, nhóm tác giả Phan Huy Lê et al. (1983) đã đưa ra mô tả định danh:

"Kiểu dáng đồ gốm rất đẹp, có nhiều loại như nồi, bình, vò, vại, mâm bồng, cốc chân cao, bát, đĩa. Đồ gốm được trang trí nhiều đồ án đẹp. Kiểu hoa văn đặc trưng cho văn hóa Phùng Nguyên là giữa hai đường kẻ vạch chìm, có những đường chấm nhỏ được tạo nên bằng cách lăn một cái trục tròn có khắc ô vuông nhỏ hay là ấn một cái que có nhiều răng" [79, tr. 68].

Ở bình diện mỹ thuật học, Nguyễn Du Chi (2002) trong Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến đã đi sâu miêu tả các dạng thức hoa văn chữ S đứng, nghiêng và các dải trang trí đường diềm; Trần Lâm Biền (2018) trong Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt nhấn mạnh:

"Cách trang trí dải gồm những hình đóng kín và rời là một đặc trưng riêng biệt của nghệ thuật trang trí Phùng Nguyên. Đối xứng là một yếu tố của cái đẹp" [8, tr. 14].

Hà Văn Tấn (2020) trong Theo dấu các văn hóa cổ khẳng định tư duy hình học chính xác của người Phùng Nguyên qua ý niệm đối xứng trục và đối xứng gương.

Tiến trình nghiên cứu gốm Phùng Nguyên:
[Khảo cổ học / Địa tầng] --------> [Hình thái học gốm] ---------> [Mỹ thuật học & Ký hiệu học]
(Hoàng Xuân Chinh 1978,           (Hán Văn Khẩn 1996,             (Nguyễn Quang Hưng 2022:
 Hà Văn Tấn 2020)                 Bùi Thị Thu Phương 2015)        Giải mã cấu trúc tạo hình & hoa văn)

Trên trường quốc tế, các học giả phương Tây ban đầu tiếp cận gốm tiền sử Việt Nam qua lăng kính so sánh khu vực. R. Watson (1979) trong Early South East Asia và Alex Gibson & Ann Woods (1997) trong Prehistoric Pottery for the Archaeologist đã phân tích công nghệ xử lý bề mặt gốm tiền sử. Đáng chú ý, John Stevenson & John Guy (1997) trong công trình Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition đã ca ngợi tính độc lập bản địa của thợ gốm Việt cổ, khẳng định phương thức tạo hình thời tiền sử tại Việt Nam có sự phân hóa rõ nét với đồ gốm Trung Quốc cổ đại. Nhận định này hóa giải sự ngộ nhận kéo dài trong giới nghiên cứu ngoại quốc từng bị Nguyễn Văn Y (1983) phê phán:

"Lầm lẫn lớn nhất và khá phổ biến là coi gốm cổ Việt Nam vốn phỏng theo Trung Quốc qua từng triều vua, tuy có ít nhiều mang sắc thái và vẻ đẹp riêng" [170, tr. 32].

Luận án định vị trọng tâm vào khoảng trống giao thoa: chuyển từ mô tả khảo cổ thuần túy sang phân tích cấu trúc thị giác, giải mã nguyên lý tổ chức không gian hai chiều (2D) trên bề mặt cong ba chiều (3D) của gốm đất nung Phùng Nguyên.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và kiểm chứng ba hệ thống lý thuyết mỹ thuật - nhân học trong bối cảnh tiền - sơ sử Đông Nam Á:

  1. Vận dụng Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M.S. Kagan: Minh chứng sự chuyển hóa từ nghệ thuật hai chức năng (vừa phục vụ công năng chứa đựng, đun nấu vừa thỏa mãn thị giác) sang nghệ thuật biểu cảm tạo hình độc lập. Đúng như M.S. Kagan nhận định, "tính trang trí lại là một sức mạnh hướng tâm của nghệ thuật, nghệ thuật hướng vào bản thân mình, nhằm sáng tạo ra những hình thức mới của cái đẹp không có trong thế giới hiện thực" [12, tr. 315]. Người thợ gốm Phùng Nguyên đã trừu tượng hóa các thực thể tự nhiên thành các dải hoa văn nhịp điệu.
  2. Thao tác hóa Ký hiệu học văn hóa của Yuri Lotman: Luận án định vị hệ thống hoa văn khắc vạch chấm dải, mô-típ chữ S biến thiên, đường hồi văn, tam giác cuộn như một hệ thống "hình hiệu" (iconic signs) cô đọng. Các ký hiệu này không tái hiện hiện thực trực quan đơn giản mà đóng vai trò ký hiệu mang tính ước lệ cao, lưu trữ thế giới quan và nhận thức vũ trụ (sóng nước, mặt trời, sinh thực khí) của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
  3. Phát triển Lý thuyết Vùng văn hóa (Franz Boas): Xác lập không gian trung du Bắc Bộ (vùng đất đồi gò ven sông Thao, sông Lô, sông Hồng thuộc Phú Thọ, Vĩnh Phúc) là trung tâm phát tích lõi của nghệ thuật tạo hình tiền Đông Sơn, thể hiện tính kế thừa liên tục qua phổ hệ 4 giai đoạn: Phùng Nguyên $\rightarrow$ Đồng Đậu $\rightarrow$ Gò Mun $\rightarrow$ Đông Sơn.
                         KHUNG PHÂN TÍCH ĐỘC ĐÁO

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án dựa trên ma trận tích hợp: Hình thái học kiểu dáng (3 nhóm khối) $\times$ Cấu trúc đồ án hoa văn (4 nhóm kỹ thuật/mô-típ) $\times$ Cú pháp vị trí không gian bề mặt. Mô hình này cho phép bóc tách từng chi tiết vi mô (đường rạch, vết chấm răng lược) trong mối tương quan hữu cơ với cấu trúc vĩ mô của toàn bộ thân gốm, thiết lập các điều kiện biên (boundary conditions) rõ ràng cho nghệ thuật gốm trung du Bắc Bộ.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng lập trường nhận thức luận giải thông (interpretivism) kết hợp chủ nghĩa hình thức trong mỹ thuật học (formalism). Thiết kế nghiên cứu đa tầng bao gồm:

  • Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Khảo sát dòng chảy mỹ thuật tiền - sơ sử Đông Nam Á và đối sánh đồng đại/lịch đại.
  • Cấp độ trung mô (Meso-level): Phân tích hệ thống sưu tập hiện vật tại 4 bảo tàng lớn theo chuỗi phân kỳ khảo cổ (Phùng Nguyên sớm, giữa, muộn).
  • Cấp độ vi mô (Micro-level): Đo đạc tỷ lệ hình học, vẽ ký họa kỹ thuật phục dựng vector các đồ án hoa văn và phân tích cấu trúc vật liệu xương gốm.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu thực hiện qua 4 bước chuẩn hóa:

  1. Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng thuật có phê phán các báo cáo khai quật khảo cổ học từ năm 1959 đến nay tại các di chỉ trọng điểm: Phùng Nguyên, Xóm Rền, Gò Bông, Đồi Giàm, Lũng Hòa, Gò Hội.
  2. Điền dã và khảo sát trực tiếp: Quan sát thị giác trực tiếp hiện vật gốc, chụp ảnh cận cảnh cấu trúc bề mặt, đo đạc kích thước thực tế (chiều cao, đường kính miệng, độ dày thành gốm).
  3. Ký họa và tái lập bản vẽ mỹ thuật: Chuyển hóa các mảnh vỡ và hiện vật nguyên vẹn thành 6 bảng phân loại tiêu chuẩn (Bảng 1: Kiểu dáng; Bảng 2: Đồ án hoa văn; Bảng 3: Hoa văn bản in; Bảng 4: Hoa văn phụ; Bảng 5: Vị trí trang trí; Bảng 6: So sánh đồng đại và lịch đại).
  4. Tam giác đạc (Triangulation): Kết hợp kiểm chứng chéo giữa dữ liệu địa tầng khảo cổ - phân tích phong cách mỹ thuật học - lý thuyết ký hiệu học thị giác để đảm bảo tính giá trị cấu trúc (construct validity) và độ tin cậy (reliability).
              QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU TAM GIÁC ĐẠC (TRIANGULATION)
                          [Khảo sát hiện vật Bảo tàng]
                         (4 Bảo tàng lớn tại phía Bắc)
                                      / \
                                     /   \
                                    /     \
                                   /       \
     [Phân tích Mỹ thuật học] <-------------> [Dữ liệu Khảo cổ học Địa tầng]
   (Tỷ lệ khối, Ngôn ngữ đường nét,          (Báo cáo khai quật 1959-2022,
    Đồ án hoa văn, Ký hiệu học)               Niên đại C14 / AMS / Huỳnh quang)

Data và phân tích

Mẫu khảo sát phân loại đồ gốm Phùng Nguyên thành 4 nhóm chất liệu và 3 nhóm kiểu dáng chính:

  • Chất liệu xương gốm: Gốm thô (pha cát hạt thô tỷ lệ lớn), gốm xốp (pha vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ), gốm pha (cát mịn đều) và gốm mịn (đất sét tinh lọc, thành mỏng, miết láng bóng).
  • Phân loại kiểu dáng hình học:
    • Nhóm 1: Kiểu dáng kết hợp khối cầu và hình trụ (chiếm tỷ lệ áp đảo ở các loại nồi, vò, bình có thân phình tròn, cổ trụ đứng).
    • Nhóm 2: Kiểu dáng kết hợp khối hình trụ và hình thang cân (phổ biến ở bát chân cao, cốc gốm, mâm bồng).
    • Nhóm 3: Kiểu dáng phá cách kết hợp khối cầu, khối trụ và khối lục lăng đa diện.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Quy luật tổ hợp hình khối tĩnh tại và đầm chắc: Phân tích hình học chứng minh kiểu dáng gốm Phùng Nguyên tuân thủ chặt chẽ tỷ lệ cân đối giữa chiều cao và độ mở miệng/đáy. Trọng tâm gốm hạ thấp, tạo cảm giác thăng bằng, vững chãi, phản ánh tâm thức định cư nông nghiệp bền vững.
  2. Sự hoàn thiện của tư duy đối xứng và nhịp điệu toán học: Hoa văn Phùng Nguyên không bố trí ngẫu hứng mà được cấu trúc hóa theo các trục đối xứng tịnh tiến, đối xứng gương và xen kẽ lặp lại. Đồ án hoa văn chữ S (văn vạch xoắn ốc kết hợp chấm dải bằng kỹ thuật ấn răng lược) đạt đến độ tinh xảo chuẩn xác tuyệt đối, tạo nên hiệu ứng thị giác chuyển động liên hoàn trên mặt cong.
  3. Xác lập 3 giai đoạn tiến hóa mỹ thuật nội tại:
    • Giai đoạn sớm: Kích thước vật dụng nhỏ gọn, thành mỏng, hoa văn khắc vạch kết hợp in dấu thừng mịn trên nền gốm miết láng.
    • Giai đoạn giữa (Giai đoạn Cổ điển): Kích thước trung bình, phát triển vượt bậc kỹ thuật in chấm răng lược, cấu trúc đồ án phức hợp, mật độ hoa văn phân bố đều đặn.
    • Giai đoạn muộn: Xuất hiện kiểu miệng loe gãy góc, gốm xốp nhẹ pha vỏ nhuyễn thể, đồ án chữ S biến thể phát triển mạnh, làm tiền đề trực tiếp cho gốm Đồng Đậu và Gò Mun.
  4. Bằng chứng độc lập về nguồn gốc bản địa: So sánh đối chiếu hình thái học cho thấy gốm Phùng Nguyên khác biệt hoàn toàn với gốm Long Sơn, Ngưỡng Thiều (Trung Quốc) về cả kỹ thuật tạo xương gốm lẫn cú pháp đồ án, khẳng định một trung tâm thẩm mỹ độc lập sơ kỳ thời đại kim khí tại Đông Nam Á.
TIẾN HÓA MỸ THUẬT GỐM PHÙNG NGUYÊN

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận mỹ thuật: Xác lập bộ thuật ngữ và khung phân tích hình thái học cho mỹ thuật tiền sử Việt Nam, lấp đầy khoảng trống lý luận kéo dài nhiều thập kỷ.
  • Về mặt khảo cổ học - lịch sử: Cung cấp hệ tiêu chí thị giác (bên cạnh tiêu chí địa tầng) để phân định niên đại và nguồn gốc di vật gốm trong các hố khai quật.
  • Về mặt thực tiễn bảo tồn và trưng bày: Đề xuất phương pháp giám định, phân loại mỹ thuật phục vụ công tác trưng bày tại các bảo tàng khảo cổ học và bảo tàng lịch sử quốc gia.
  • Về công nghiệp sáng tạo và thiết kế ứng dụng: Cung cấp nguồn tư liệu hoa văn chuẩn xác làm chất liệu sáng tác cho gốm mỹ nghệ đương đại (Bát Tràng, Chu Đậu, Hương Canh), thiết kế đồ họa, thời trang và kiến trúc mang bản sắc văn hóa dân tộc.

Limitations và Future Research

  • Giới hạn nguồn tư liệu: Hiện vật gốm Phùng Nguyên trải qua hàng nghìn năm trong lòng đất phần lớn đều ở dạng vỡ mảnh; số lượng hiện vật nguyên vẹn phục dựng trưng bày tại 4 bảo tàng còn hạn chế, gây khó khăn cho việc đo đạc tuyệt đối thông số trọng lượng và dung tích.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu giới hạn trọng tâm ở vùng đất trũng trung du Bắc Bộ (Phú Thọ, Vĩnh Phúc), chưa mở rộng khảo sát so sánh sâu toàn bộ các di chỉ rìa duyên hải hoặc khu vực thượng lưu sông Hồng.
  • Định hướng nghiên cứu tương lai:
    1. Ứng dụng công nghệ quét 3D laser và mô hình hóa tham số (parametric modeling) để phân tích cấu trúc hình học giải tích của các kiểu dáng gốm vỡ mảnh.
    2. Phân tích quang phổ thạch học kết hợp cơ sở dữ liệu thị giác để xác định chính xác nguồn gốc đất sét và trung tâm chế tác gốm cổ.
    3. Mở rộng giải mã ký hiệu học liên văn hóa giữa hoa văn gốm Phùng Nguyên với các nền văn hóa đồ gốm sơ kỳ kim khí tại Thái Lan (Ban Chiang) và Philippines.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án tạo ra tác động học thuật sâu sắc, trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực cho chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học (Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam). Trong lĩnh vực bảo tồn di sản, các tiêu chí phân loại của luận án hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan quản lý văn hóa trong việc xây dựng hồ sơ bảo vật quốc gia đối với các di vật tiêu biểu thời Hùng Vương.

Trên trường quốc tế, công trình đóng góp luận cứ khoa học vững chắc khẳng định vị thế của Việt Nam như một cái nôi văn minh luyện kim và mỹ thuật độc lập, bác bỏ các quan điểm ngoại sinh về nguồn gốc mỹ thuật Đông Sơn.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận phương pháp luận phân tích mỹ thuật học liên ngành kết hợp ký hiệu học cấu trúc.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu mỹ thuật: Sở hữu hệ thống tư liệu hình ảnh, bản vẽ phân loại (Bảng 1 - 6) có độ chuẩn xác cao phục vụ giảng dạy lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
  • Chuyên viên bảo tàng và giám định cổ vật: Nắm vững tiêu chí nhận diện kiểu dáng, xương gốm và hoa văn trang trí để phục chế và phân loại di vật.
  • Nhà thiết kế công nghiệp và nghệ nhân gốm: Khai thác kho tàng đồ án hình học cổ truyền để ứng dụng vào các sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ đương đại mang đậm căn tính Việt.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của nghiên cứu là gì?

Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc thao tác hóa thành công Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M.S. Kagan và Ký hiệu học văn hóa của Yuri Lotman vào việc giải mã hiện vật tiền sử không chữ viết. Luận án chứng minh hoa văn khắc vạch chấm dải Phùng Nguyên không phải là những nét vạch kỹ thuật ngẫu nhiên mà là một hệ thống ngôn ngữ thị giác ký hiệu hóa nhận thức không gian, thời gian và trật tự vũ trụ của cư dân nông nghiệp lúa nước sơ khai.

2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với phương pháp mô tả khảo cổ học thuần túy của Hán Văn Khẩn (1996) hay phân loại công nghệ của Gibson & Woods (1997), luận án tạo ra bước đột phá bằng cách tích hợp Phương pháp phân tích ngôn ngữ tạo hình đa chiều (Visual Formalist Analysis). Luận án xây dựng hệ thống 6 bảng phân loại cấu trúc hình học, kết hợp bản vẽ vector giải cấu trúc hoa văn với phân tích tương quan tỷ lệ khối 3D trên bàn xoay gốm cổ.

3. Phát hiện bất ngờ và có ý nghĩa nhất từ dữ liệu thực nghiệm?

Phát hiện bất ngờ nhất là sự chuẩn xác toán học tuyệt đối của các đồ án hoa văn chữ S đối xứng trục và đối xứng gương được thực hiện hoàn toàn thủ công bằng con lăn khắc răng lược cách đây 4.000 năm. Điều này chứng minh tư duy hình học và cảm thức thẩm mỹ trừu tượng của người Phùng Nguyên đã phát triển vượt bậc trước khi xuất hiện kỹ nghệ đúc đồng phức tạp của thời kỳ Đông Sơn.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?

Luận án thiết lập quy trình nghiên cứu chuẩn hóa thông qua hệ thống phân loại 6 bảng ma trận (Bảng 1 đến Bảng 6 trong cấu trúc luận án), quy chuẩn hóa kỹ thuật đo vẽ di vật gốm khảo cổ từ mảnh vỡ sang bản vẽ phục dựng hình học, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lập quy trình phân loại trên các sưu tập gốm tiền sử khác.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?

Luận án vạch ra lộ trình nghiên cứu 10 năm tập trung vào 3 trọng tâm: xây dựng cơ sở dữ liệu số 3D (Bảo tàng số) cho toàn bộ di sản gốm tiền Đông Sơn; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Computer Vision) để nhận diện và ghép nối tự động các mảnh gốm khảo cổ vỡ; và nghiên cứu đối sánh xuyên khu vực về mối liên hệ mỹ thuật gốm Đông Nam Á hải đảo và lục địa.

Kết luận

  1. Xác lập toàn diện diện mạo kiểu dáng gốm Phùng Nguyên qua sự tích hợp hài hòa giữa các khối hình học cơ bản (khối cầu, khối trụ, hình thang cân), tạo nên phong cách tạo hình đầm chắc, tĩnh tại và vững chãi.
  2. Phân loại và giải mã hệ thống đồ án hoa văn khắc vạch chấm dải, khẳng định hoa văn chữ S là đỉnh cao của nghệ thuật trang trí kỷ hà với nguyên tắc đối xứng và nhịp điệu thị giác chuẩn xác.
  3. Chứng minh tính độc lập, bản địa của mỹ thuật gốm Phùng Nguyên trong tương quan với các nền văn hóa đồng đại trong khu vực, đặt nền móng cho bản sắc văn hóa "Phi Ấn - Phi Hoa".
  4. Khẳng định gốm Phùng Nguyên là cội nguồn tạo hình trực tiếp, truyền tải toàn bộ hệ thống biểu tượng và hoa văn trang trí sang nghệ thuật đúc đồng văn hóa Đông Sơn rực rỡ sau này.
  5. Đóng góp phương pháp luận mỹ thuật học liên ngành kết hợp ký hiệu học thị giác, mở ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu di sản mỹ thuật cổ truyền Việt Nam.