Chương 1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU GỐM CHU ĐẬU Ở HẢI DƯƠNG 1. Vị trí địa lý Chu Đậu là làng nhỏ nằm ven đê bên tả ngạn sông Thái Bình, thuộc xã Thái 0 0 Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, nằm ở 20 58' vĩ Bắc và 106 17' kinh Đông. Thời Lê Sơ (1428-1527), khu vực này thuộc châu Nam Sách, huyện Thanh Lâm, tỉnh Hải Dương (xem PL. Nằm trong chiếc nôi của đồng bằng Bắc Bộ và nằm ở vị trí địa lý thuận lợi: phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Ninh và Quảng Ninh, phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp với tỉnh Thái Bình và phía Tây giáp với tỉnh Hưng Yên, Hải Dương được xem là cửa ngõ, phên dậu và là trọng trấn quan trọng ở phía Đông của Kinh đô Thăng Long xưa (xem PL.
Theo sử sách, thời Lê sơ, tỉnh Hải Dương có nhiều tên gọi khác nhau: Đông Đạo (Thuận Thiên (1428 - 1433), phủ Nam Sách (Đại Hòa 1443 – 1453), Nam Sách lộ (Diên Ninh 1454 – 1459), Nam Sách thừa tuyên (Quang Thuận thứ 7, 1466) và tuyên Hải Dương (Quang Thuận thứ 7, 1469). Tuyên Hải Dương chính thức được vẽ trên bản đồ Hồng Đức vào năm 1490 do vua Lê Thánh Tông ban hành. Ngoài ra, Hải Dương còn được gọi là xứ Đông trong không gian văn hóa Đồng bằng Bắc bộ, là một cửa ngõ của Kinh thành Thăng Long. Nên từ lâu xứ Đông - Hải Dương luôn giữ một vai trò quan trọng gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Nó không chỉ là tên gọi về một địa danh hành chính mà nó còn mang ý nghĩa địa chính trị và văn hóa, mang đậm dấu ấn của vùng đất có bề dày lịch sử, văn hiến và là niềm tự hào của cư dân nơi đây. Mặc dù trải qua nhiều tên gọi khác nhau, nhưng địa giới tỉnh Hải Dương, thời Lê sơ bao gồm vùng đất rộng lớn trải dài từ phía Đông kinh thành Thăng Long ra tới biển Đông. Phía Tây Hải Dương đến Bần Yên Nhân (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), phía Đông kéo dài đến biển Đông (nay thuộc thành phố Hải Phòng), phía Nam từ Lực Điền đến cầu Tràng (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), phía Bắc từ Trạm Điền xuống núi Tam Ban, Yên Tử (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh). Đối chiếu với bản đồ 11 hành chính hiện nay, tỉnh Hải Dương thời Lê sơ có quy mô rất rộng lớn gồm huyện Mỹ Hào (tỉnh Hưng Yên), các huyện Bình Giang, Cẩm Giàng, Thanh Miện, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Chí Linh, Thanh Hà, Nam Sách, Kim Thành, thành Phố Hải Dương (tỉnh Hải Dương) và các huyện Vĩnh Bảo, An Hải, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, huyện đảo Cát Bà, Thủy Nguyên, Quận Kiến An, Đồ Sơn và quận Ngô Quyền, Lê Chân, Hồng Bàng (thành phố Hải Phòng) và huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh).
Dựa vào “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Đại Việt địa dư toàn biên” của Phương đình Nguyễn Văn Siêu hay “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn và cùng một số sử sách khác vào thời Lê, đã ghi rõ trên địa giới hành chính tỉnh Hải Dương có rất nhiều con sông lớn, nhỏ chảy qua: Như sông Hồng Giang ở phủ Thượng Hồng chảy qua 4 huyện phía Nam tới cửa Ngải Am (Vĩnh Lại) đổ ra biển. Dấu vết của sông này vẫn còn in đậm ở huyện Mỹ Hào, Văn Giang… Khẳng định sức sống trường tồn cũng như vai trò của nó trong giao thông vận tải và thủy lợi cho các huyện Bình Giang, Gia Lộc, Ninh Giang và Tứ kỳ trong lịch sử [40]. Huyện Vĩnh Lại (Ninh Giang ngày nay) có các con sông chảy qua như sông Hóa, sông Mía, sông Hoàng Giang, sông Luộc. Trong đó sông Luộc nối liền giữa sông Hồng và sông Thái Bình có vai trò to lớn của cuộc sống cư dân nơi đây.
Phả Lại - điểm cực Bắc của xứ Đông, dòng sông Thái Bình được mở rộng bởi sự lưu hợp của sông Cầu và sông Thương, chỗ hợp lưu này chỉ cách địa giới phía Tây khoảng 8 km rồi xuông về hướng Nam, nhập vào sông Đuống từ hữu ngạn và tiếp dòng vào sông Thái Bình. Từ đây sông Thái Bình lại tiếp tục phân tiếp làm hai nhánh chính, một nhánh tiếp tục chảy về phía Nam vẫn gọi là sông Thái Bình và một nhánh chảy theo dãy núi Đông Triều gọi là sông Kinh Thầy. Sông Kinh Thầy xuôi về hướng Đông và Đông Nam với một mạng lưới khá dày các lạch và sông con. Nhánh chính sau chỗ phân lưu từ sông Thái Bình thì lại chia ra một nhánh về tả ngạn là sông Kinh Môn.
Dòng Kinh Thầy lại xuôi về biển, tới gần Yên Lưu thì nhập với một chi nhánh của nó rồi ra Cửa Cấm. có một nhánh tiếp tục chảy về bên tả 12 ngạn hướng thẳng ra biển Đông có tên gọi là sông Đá Bạch, chạy luồn lách qua các thung lũng xen kẽ các dãy núi đá vôi. Đến đây, sông Kinh Thầy lại có tên là sông Hòn Mác, sông Bạch Đằng rồi đổ ra cửa Nam Triệu. Sông Kinh Thầy nối liền giữa Nam Sách và Chí Linh [40].
Như vậy có thể thấy, xứ Đông - Hải Dương là nơi có hệ thống sông ngòi dày đặc, trong đó gắn liền với hai con sông lớn nhất đồng bằng Bắc Bộ là sông Hồng và sông Thái Bình, cùng với rất nhiều các chi lưu và chúng đều là những cửa ngõ đổ ra biển Đông. Điều đó tạo cho vùng đất Hải Dương có một vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Đại Việt thời bấy giờ. Đó chính là cầu nối giao thông giữa đường sông và đường biển; giữa Kinh thành Thăng Long với các khu vực lân cận và đặc biệt đó chính là nơi đưa những sản phẩm thủ công nghiệp của Thăng Long hay Hải Dương đến với thương cảng Vân Đồn và hệ thống hải thương khu vực và quốc tế ở biển Đông. Nguyễn Văn Kim trong cuốn “Vân Đồn – thương cảng quốc tế của Việt Nam” đã khẳng định thương cảng Vân Đồn là một trong những thương cảng lớn nhất và có vai trò quan trọng trong việc trao đổi hàng hóa, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Trong đó, việc trung chuyển và xuất khẩu gốm sứ và các mặt hàng thủ công nghiệp khác được cho là các mặt hàng nổi trội nhất. Bên cạnh chức năng đó, Vân Đồn còn được biết đến như cửa ngõ đưa gốm sứ Đại Việt ra thị trường quốc tế. Với vị trí địa lý thuận lợi, Hải Dương là vùng đất có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như: Chạm khắc đá Kính Chủ, chạm khắc gỗ Đồng Giao, vàng bạc Châu Khê, giày dép da Tam Lâm, thợ nhuộm Đan Loan và đặc biệt là các làng nghề sản xuất gốm. Mặc dù theo sử sách ghi lại, nghề gốm ở Hải Dương rất ít ỏi và không đầy đủ, chỉ có làng Hương Gián và Kệ Gián, nay thuộc làng Cậy, huyện Bình Giang.
Nhưng kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho biết, Hải Dương là quê hương của nhiều trung tâm sản xuất gốm lớn và nổi tiếng nhất Bắc Việt Nam như Vạn Yên (Chí Linh), Chu Đậu, Hùng Thắng (Nam Sách); Ngói, Cậy, Láo, Bá Thủy, Hợp Lễ (Bình Giang) [40]. Trong đó nổi tiếng nhất là gốm Chu Đậu được trong và ngoài nước biết đến. 13 Chu Đậu mang đầy đủ những đặc điểm về địa lý, môi trường và xã hội của vùng xứ Đông. Có hai con sông lớn chảy qua là sông Thái Bình (nằm ở hướng Đông Bắc) và sông Kinh Thầy (nằm hướng Tây Nam).
Hai con sông này đóng vai trò là mạng lưới giao thông quan trọng, tàu thuyền có trọng tải hàng nghìn tấn có thể qua lại dễ dàng. Việc vận chuyển nguyên liệu như than, củi hoặc đất sét, cao lanh bằng đường thủy từ các nơi khác như Chí Linh, Kinh Môn hay Đông Triều qua sông Kinh Thầy đến Chu Đậu rất dễ dàng. Cũng như việc chuyên chở các loại sản phẩm gốm từ Chu Đậu đến các vùng khác như đến Kinh đô Thăng Long, Phố Hiến hay đến cảng biển như Vân Đồn là rất thuận lợi. Chính nhờ có những điều kiện thuận lợi này, kết hợp với tài năng sáng tạo của cư dân nơi đây đã giúp cho Chu Đậu thiết lập các lò sản xuất gốm, tạo ra những sản phẩm gốm đặc sắc, có giá trị kinh tế, văn hóa cao, đem lại niềm tự hào cùng những đóng góp quan trọng trong lịch sử gốm cổ Việt Nam.
Di chỉ gốm Chu Đậu qua các lần khai quật Phát hiện di chỉ gốm Chu Đậu vào năm 1984 của Bảo tàng tỉnh Hải Hưng (nay là Bảo tàng tỉnh Hải Dương) đã mở ra một “chương chính thức” của ngành khảo cổ học lịch sử Việt Nam trong việc nghiên cứu về gốm cổ thời Lê [52, tr. Đặc biệt, từ năm 1986, cuộc khai quật thăm dò chính thức do Bảo tàng tỉnh Hải Hưng tiến hành đã mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu mới về di chỉ gốm Chu Đậu. Từ đây, giới khoa học biết đến nhiều hơn về gốm Chu Đậu và công cuộc nghiên cứu về gốm Chu Đậu đã ngày càng trở nên sôi động vào thập niên 90 của thế kỷ trước. Tính từ khi cuộc khai quật đầu tiên năm 1986 đến năm 2014, Chu Đậu đã diễn ra 7 lần khai quật vào các năm 1986, 1987, 1989, 1990, 1991, 2002 và 2014.
Các cuộc khai quật từ năm 1986 đến 1991 chủ yếu do Bảo tàng tỉnh Hải Dương thực hiện. Năm 1990, Bảo tàng tỉnh Hải Dương hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Tổng hợp Adelaide của Australia tiến hành khai quật di chỉ Chu Đậu lần thứ 4. Năm 2002, Viện Khảo cổ học và một số chuyên gia Nhật Bản phối hợp với Bảo tàng tỉnh Hải Dương khai quật di chỉ gốm Chu Đậu lần thứ 6. Và 14 đến cuối năm 2014, sau 12 năm, Viện Nghiên cứu Kinh thành đã hợp tác với Bảo tàng tỉnh Hải Dương tiến hành khai quật di chỉ Chu Đậu lần thứ 7.
Dựa trên kết quả của những phát hiện khảo cổ học tại di chỉ Chu Đậu năm 1986 [29], năm 1987 [28], năm 1989 [30], năm 1990 [33], các báo cáo khai quật, đặc biệt là dựa trên tư liệu của cuốn “Gốm Chu Đậu” do Tăng Bá Hoành chủ biên [32], dưới đây tác giả luận văn sẽ trình bày những nét khái quát về kết quả khai quật tại di chỉ gốm Chu Đậu. Khai quật lần thứ nhất Cuộc khai quật lần thứ nhất diễn ra từ ngày 23.1986, do Bảo tàng Hải 2 Hưng (nay là Bảo tàng tỉnh Hải Dương) chủ trì với diện tích 35m trên 2 hố đào: Hố 2 2 1 diện tích 20m , Hố 2 hiện tích 15m (xem PL.