Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH THÀNH XƯƠNG GIANG 1. Diễn trình lịch sử thành Xương Giang Thành Xương Giang ngày nay thuộc phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Phía bắc giáp làng Thành, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang; phía nam giáp phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang; phía đông giáp xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang; phía tây giáp phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang. Thành Xương Giang nằm cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 1km về phía đông bắc, cách Hà Nội 50km, cách tỉnh Lạng Sơn 100km, có đường quốc lộ 1 (cũ) chạy qua.
Theo các tài liệu và thư tịch cũ, đến đầu thế kỷ XV, đất nước ta trải qua nhiều biến động sâu sắc. Nhà Trần sụp đổ, nhà Hồ mới thành lập đang đứng trước nhiều thử thách nghiêm trọng. Lợi dụng cơ hội ấy, nhà Minh (Trung Quốc) với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” đã tiến hành xâm lược nước ta. “Tháng 9 năm 1406, nhà Minh sai Chinh Di hữu phó tướng quân đeo ấn Chinh di phó tướng quân Tân Thành hầu Trương Phụ, Tham tướng Huỳnh Dương bá Trần Húc , đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Pha Lũy cứ một một toán mai phục, một toán hành quân, thay phiên nhau cứu ứng lẫn nhau.
Chinh Di tả phó tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh, Tham tướng hữu quân đô đốc đồng tri Phong Thành hầu Lý Bân cũng đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Phú Lệnh, xẻ núi, chặt cây, mở đường tiến quân. Hai đạo quân tổng cộng là 80 vạn” [37, tr 214]. Sau nhiều lần tấn công xâm lược, đến giữa năm 1407, quân Minh đã bắt được cha con Hồ Quý Ly, quan lại triều Hồ cũng dần dần bị bắt hết. Sự nghiệp kháng chiến của nhà Hồ đến đây hoàn toàn thất bại.
Dưới ách thống trị của 10 phong kiến nhà Minh, dân tộc phải chịu những thảm hoạ nghiêm trọng kéo dài trong suốt 20 năm. “Toàn bộ nền kinh tế bị đình trệ, điêu tàn; xã hội Việt Nam đang trên bước đường phát triển bị ngăn chặn, kìm hãm” [31, tr 28]. Năm 1407, sau khi chiếm được nước ta, quân Minh nhanh chóng thiết lập bộ máy đô hộ và đồng thời tiến hành những chính sách thống trị tàn ác. Nhà Minh đã xóa bỏ tên nước Đại Việt, đổi nước ta làm quận Giao Chỉ, coi như địa phương quận huyện của Trung Quốc.
Chúng lập chính quyền theo mô hình “chính quốc”. Đứng đầu Giao Chỉ là ba ty: đô chỉ huy sứ ty, hay gọi tắt là ty đô, phụ trách về quân chính; thừa tuyên bố chính sứ ty hay ty bố chính, trông coi về dân chính và tài chính; đề án sát sứ ty hay ty án sát, nắm quyền tư pháp và giám sát. Quận Giao Chỉ được chia thành 15 phủ. Trên đất Hà Bắc xưa, nhà Minh giữ lại hai phủ Bắc Giang và Lạng Giang.
Phủ lỵ Bắc Giang đặt tại Thị Cầu, Phủ lỵ Lạng Giang ở Xương Giang (thuộc thành phố Bắc Giang ngày nay). Cùng với bộ máy chính quyền, nhà Minh còn xây dựng một hệ thống thành luỹ và thiết lập một hệ thống vệ, sở dày đặc để trấn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta. “Năm 1407, khi lập ra vệ Xương Giang trên đất Lạng Giang, giặc Minh cho xây vệ thành kiên cố, giao cho Lý Nhậm, Kim Giận, Cố Phúc, Phùng Chi và Lưu Tử Phụ cùng 2.000 quân để án ngữ trục đường sang Lưỡng Quảng, xuống Đông Đô và làm nơi ỷ dốc cho các thành Thị Cầu, Cần Trạm, Chí Linh” [82, tr. Xương Giang là thành lũy kiên cố nhất của quân Minh án ngữ trên con đường dịch trạm nối Quảng Tây (Trung Quốc) với Đông Quan.
“Thành Xương Giang nằm trong một khu vực đồi núi thấp, có sông nhỏ và các thửa ruộng trũng bao quang, cách Sông Thương khoảng 3km. Những người từ 16 đến 60 tuổi ở khắp Lạng Giang đều phải đến đây lao dịch, khoét đồi lấy đất đắp thành và nung 11 gạch, ngói, đào hào và xây dinh thự. Thành tọa lạc trên diện tích 270.000m2, thành có hình chữ nhật chu vi 210m, 4 góc là 4 vọng lầu đặt các loại súng thần cơ lớn nhỏ. Nhiều kho đụn, tòa ngang, dãy dọc, dinh thự và doanh trại được bố trí ở các nơi” [81, tr.
Nước mất, nhà tan, nhưng người dân Bắc Giang - Lạng Giang cũng như cả nước quyết tâm đứng lên đánh giặc. Tiêu biểu cho phong trào yêu nước của nhân dân Hà Bắc khi đó là khởi nghĩa Phạm Tất Đại ở huyện Lục Na (Lục Ngạn). Năm 1410, nhân dân Lạng Giang nổi lên khởi nghĩa dưới ngọn cờ của ông Nguyên và Thiên Hữu. Năm 1420, nhân dân Thiện Tài (Gia Lương) lại nổi lên dưới sự lãnh đạo của Đào Cường.
Đáng chú ý nhất là cuộc khởi nghĩa của Lê Ngã Cũng từ An Bang lan sang Lạng Giang vào giữa năm 1420. Nhân dân các huyện Bảo Lộc, Phượng Sơn hưởng ứng nhiệt liệt. “Ngã tiếm xưng tôn hiệu, dựng niên hiệu, đặt quan chức, đúc tiền, đốt thành Xương Giang, cướp trại Bình Than” [37, tr 244]. Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân hai phủ Bắc Giang, Lạng Giang trước khởi nghĩa Lam Sơn mặc dù đều chịu thất bại và bị đàn áp, nhưng là ngọn lửa yêu nước ngầm cháy liên tục, nuôi dưỡng ý chí bất khuất cho nhân dân ta.
Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo là phong trào yêu nước rộng lớn nhất, được xây dựng từ năm 1418 ở thượng du Thanh Hóa. Đến cuối năm 1924 thì chuyển vào Nghệ An và mở rộng vùng giải phóng. Bước sang năm 1425, lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn đã trưởng thành về mọi mặt, địa bàn hoạt động của nghĩa quân trải dài từ Thanh Hóa vào đến Tân Bình - Thuận Hóa. Trước tình hình đấu tranh của nhân dân ta ngày càng rộng khắp và quyết liệt, nhà Minh buộc phải tăng cường và đẩy mạnh các cuộc hành binh trấn áp.
Nhận thấy tình hình quân Minh ở Đông Quan đã suy yếu, nhiều khi phải 12 chia nhau đi tăng viện, giải vây cho thành Nghệ An, Diễn Châu và Thanh Hóa, tháng 9 năm 1426, Lê Lợi quyết định tiến quân ra Bắc. Một bộ phận nghĩa quân tiếp tục tổ chức bao vây các thành Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, còn đại quân chủ lực chia làm 3 đạo tiến ra Bắc. Từ cuối năm 1426, theo lệnh của chủ tướng Lam Sơn, Lê Sát và Lê Thụ đã chỉ huy một đạo nghĩa quân lên Lạng Giang bao vây thành Xương Giang. Để tiêu diệt cho được thành Xương Giang trước khi viện binh địch kéo vào nước ta, Lê Lợi phái tướng Trần Nguyên Hãn điều quân đến tăng viện cho Lê Sát.
Sau 9 tháng bị vây hãm, quân địch bị chết quá nửa, lương thực cạn, binh lính mệt mỏi. Biết chúng không còn sức chiến đấu, ngày 28 tháng 9 năm 1427 (tức ngày 8 tháng 9 Đinh Mùi), quân và dân ta tổng công kích. “Tháng 9, ngày mồng 8, bọn Thái úy Trần Hãn, Tư mã Lê Sát, thiếu úy Lê Triện, Lê Lý đánh lấy được thành Xương Giang” [37, tr 274]. Chiến thắng thành Xương Giang đã tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, đánh dấu một bước trưởng thành về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn.
Chiến thắng này đã đập tan âm mưu cố thủ của chờ phối hợp với viện binh của giặc. Với việc chiếm giữ được thành Xương Giang, quân ta đã tạo ra bức tường thành vững chắc, chặn đứng đường tiếp viện của giặc cho Đông Quan. Đến đây, hai phủ Lạng Giang - Bắc Giang được hoàn toàn giải phóng. Trước đó, vào tháng 1 năm 1427, triều đình nhà Minh quyết định điều động viện binh sang cứu nguy cho Vương Thông.
Lực lượng viễn chinh này lúc đầu gồm 70. Đến tháng 4 năm 1427, nhà Minh lại ra lệnh điều động bổ sung thêm 45. Như vậy, tổng số quân tiếp viện của nhà Minh là 115.200 quân tinh nhuệ, gồm bộ binh và kỵ binh. Ngoài ra, trong đội quân tiếp viện này còn có nhiều dân phu vận chuyển lương thực và một số thổ binh ở 13 Quảng Đông, Quảng Tây.
Lực lượng viễn chinh của nhà Minh đã chia làm hai đạo tiến sang nước ta. “Đạo thứ nhất do thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy với chức tổng binh mang ấn Chinh lỗ phó tướng quân, tiến sang theo đường Quảng Tây. Dưới trướng của Liễu Thăng có Bảo Định bá Lương Minh làm tả phó tổng binh, đô đốc Thôi Tụ làm hữu tham tướng. Đạo quân thứ hai do thái phó Kiềm Quốc công Mộc Thạnh chỉ huy với chức tổng binh, mang ấn Chinh nam tướng quân, tiến sang theo đường Vân Nam.
Dưới trướng của Mộc Thạnh có Hưng An bá Từ Hanh làm tả phó tổng binh, Tân Ninh bá Đàm Trung làm hữu phó tổng binh” [35, tr 410]. Đầu tháng 10 năm 1427, 10 vạn quân Liễu Thăng vượt qua biên giới nước ta. Ngày 10 tháng 10 (tức ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi), quân ta giả vờ thua chạy, đội tiên phong của địch chủ quan tiếp tục đuổi theo tiến đến chân núi Mã Yên đã lọt vào trận địa mai phục của ta. Tổng binh Liễu Thăng bị quân ta phóng lao đâm chết, một vạn quân bị tiêu diệt.
Ngày 15 tháng 10, các tướng Lê Văn An, Nguyễn Lý chỉ huy 3 vạn quân kịp thời tiếp ứng cho hơn một vạn quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú. Quân ta cùng phối hợp bố trí thêm một trận địa mai phục để đánh địch ở Cần Trạm. Ngày 15 tháng 10, quân địch lọt vào trận địa của ta, nghĩa quân từ các ngả vùng lên đánh tạt ngang vào đội hình hành quân của địch. Trận đánh diễn ra trên một chiến địa dài gần 5km, suốt từ cánh đồng phía đông bắc thành Cần Trạm đến tận phía nam thị trấn Kép ngày nay.
Phó tổng binh Lương Minh vừa lên thay Liễu Thăng làm chủ tướng đã lại bị những mũi lao của quân ta đâm chết tại trận. Chiến thắng Cần Trạm trực tiếp mở đường cho chiến thắng Phố Cát và Xương Giang. Ngày 18 tháng 10 (tức 28 tháng 9 năm Đinh Mùi) quân địch tiến đến Phố Cát lại bị quân ta đón đánh. Sau thất bại Cần Trạm, đô đốc Thôi Tụ lên nắm quyền chỉ huy, tuy tiếp tục bị thất bại nặng nề, nhưng 14 Thôi Tụ và Hoàng Phúc vẫn quyết tâm tiến về Xương Giang với hy vọng có thể phối hợp với quân thành Xương Giang rồi Đông Quan, Chí Linh hòng lật ngược tình thế nguy khốn.
Thành Xương Giang đã bị quân ta chiếm từ trước trở thành pháo đài chặn đường tiến quân của địch và chia tách hoàn toàn đạo viện binh này với lực lượng ở Đông Quan. “Quân giặc cho là thành Xương Giang chưa vỡ, tự lấy làm chắc. Kịp khi tới Xương Giang, thấy thành đã bị hãm rồi, tưng hửng, thất vọng, càng hoảng hốt cả sợ.