CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN VE LANG HOÀNG XA 1. Co sé lý thuyết 1. Quan niệm về văn hóa làng - Khái niệm về làng Làng là tên được dùng dé gọi một cộng đồng dân cư ở nông thôn nước ta, được hình thành, tồn tại và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử. Làng cũng là cơ cau tô chức đầu tiên, vừa là thiết chế xã hội gần như cuối cùng của người Việt.
Thuật ngữ "làng" được gọi với nhiều tên khác nhau như: thôn, bản, ấp. và ở mỗi nơi có qui mô, co cấu, hoạt động có sự khác biệt. Do vậy, khái niệm về làng chỉ mang tích chất tương đối. Nhà dân tộc học Trần Từ trong tác phẩm Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ cho rằng: “Làng là đơn vi tụ cư, xã là đơn vi hành chính, còn thôn là từ dé chỉ làng nhưng được dùng trong giấy tờ hành chính” [48, tr.
Đồng thời ông cũng nhấn mạnh: “Làng là tế bào sống của xã hội Việt, là sản phẩm tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt”. Phan Đại Doãn cho rằng: “Làng Việt Nam hoàn toàn không chỉ là một khu vực cư trú đơn thuần của gia đình tiểu nông mà bản thân nó còn là một tổ chức sản xuất, tổ chức quân sự, một t6 chức xã hội. Cộng đồng làng là một sự hợp thành của một hệ thống có gia đình cá thể, có họ hàng, có phường, hội, có xóm giáp và những múi liên kết vật chất và tinh thần như tộc ước, phường lệ, hương ước và tín ngưỡng tôn giáo, hội hè, đình dam. Tác giả Bùi Xuân Đính cũng có khái niệm tương đồng với GS.
Phan Đại Doãn, ông cho răng “Làng là một từ nôm (từ Việt cổ), dùng đề chỉ một đơn vị tụ cư truyền thống của người Việt ở nông thôn và một phần ở đô thị, có địa vực riêng (địa giới xác định); câu trúc vật chât (đường làng, ngõ xóm, 11 các công trình thờ cúng) riêng; cơ cấu tô chức, lệ tục, tiếng làng riêng (thể hiện ở âm hay giọng); tính cách riêng (thể hiện rõ nhất ở cung cách ứng xử trong các tình huống, các mối quan hệ), hoàn chỉnh và ổn định qua quá trình lịch sử” [22, tr. Tuy nhiên, “Làng” có nhiều người thường đồng nhất khái niệm làng với xã và thôn, song trên thực tế chúng có sự khác biệt nhau rõ rỆt. Trong tác phẩm “Xã thôn Việt Nam”, nhà sử học Nguyễn Hồng Phong dùng khái niệm “xã thôn” do ông quan niệm xã là một đơn vị hành chính có bộ máy cai tri còn thôn hợp thành xã thường có tinh tự tri, “tự quản” của cộng đồng dân cư nông nghiệp [39, tr. Trong cuốn “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” tap I, các tác giả viết: “Làng xã Việt Nam là một cộng đồng có tính chất dân tộc học, xã hội học và tín ngưỡng, nó hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phục những vùng đất gieo trồng” [52, tr.
Nguyễn Quang Ngọc khái niệm “làng xã” như một don vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ sở như ta hằng quan niệm xưa nay được hình thành trong thời điểm lịch sử này [31, tr157].TS Nguyễn Đăng Dung, “làng xã phải là nơi đồng quê nhiều gia đình ở quy tụ thành khu vực gọi là xóm, các xóm phân biệt nhau băng lũy tre xanh. Trên đường đi vào thường có các cổng xây hoặc tre, đến đêm tối có thé đóng lại được, dé phòng ngừa trộm cướp. Hai, ba, bốn hoặc có khi là năm, sáu xóm họp thành một thôn gọi là làng” [31, tr. Như vậy làng Việt không những là nơi cộng đồng dân cư sinh sống, găn bó chặt chẽ với nhau trong các quan hệ kinh tế, dòng tộc và văn hoá làng của người Việt còn là môi trường văn hóa, ở đó mọi thành tô, hiện tượng văn 12 hóa được sinh thành, phát triển, lưu giữ và trao truyền tới các thế hệ tiếp theo.
Do cùng sống trong một lãnh thổ từ ngày khai mở - hình thành làng xã, đặc biệt là do sự gan bó với nhau - vừa tự nguyện vừa bắt buộc - trong quá trình tổ chức sản xuất, cư dân các làng xã đã cùng nhau sáng tạo và vun đắp nên một không gian văn hoá, một truyền thống văn hóa, một cộng đồng văn hóa. Cộng đồng văn hoá ấy biểu hiện hết sức sinh động: đó là một nếp làm, nếp ăn ở chung; một mái đình, chùa chung; một vi thần bảo hộ chung (cho toàn thé dan lang) - Thanh hoàng làng; một phong tục tập quan chung; một kho tang văn nghệ dân gian là sản phẩm chung của nhiều thế hệ dân làng và có thé là một nghé thủ công truyền thống. Vì thé mà người dân sống trong mỗi làng co sự gắn bó mật thiết với nhau, điều đó đã nói nên rằng chúng ta đã có một thời gian dài mat nước nhưng chúng ta không mất lang, mà còn làng tức là còn nước. Chính vì vậy, làng có vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử dân tộc không chỉ về mặt lãnh thổ, đơn vị hành chính, mà cả trên lĩnh vực văn hóa, tinh thần.
Có thê nói, văn hóa làng xã Việt Nam có vị trí quan trọng trong tiễn trình phát triển của văn hóa dân tộc, nó không chỉ được xem là nhân tố đầu tiên hình thành nên bản sắc văn hóa Việt, mà còn là nơi bảo tổn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng sức sống trường tồn của văn hóa dân tộc. - Khái niệm về văn hóa làng Khi nói về văn hóa làng, một số nhà nghiên cứu đã nêu bật một đặc trưng làng Việt Nam. Đó là ý thức cộng đồng, ý thức tự quản thé hiện trong hương ước của làng và tính đặc thù rất riêng của làng, trong tập quán và nếp song, tín ngưỡng, tôn giáo, giọng nói, cách ứng xử đứng trên phương diện thê chế chính trị và cơ cau xã hội hạ tầng, có thê nói trong thời kỳ Bắc thuộc người Việt mất nước chứ không mất làng. Văn hóa làng được các nhà nghiên cứu quan niệm như sau: 13 Theo giáo sư Phan Đại Doãn thì những yếu tô như gia đình - dòng họ, hương ước tự trị, tín ngưỡng đa thần và mối quan hệ nhà - làng - nước chính là những yếu tố tạo nên văn hóa làng.
Đồng thời, ông cũng cho răng: “Văn hóa làng Việt Nam thật phong phú va đa dạng. Nó đã ton tại và phát triển trong may ngàn năm, được bồ sung theo tiến trình của lịch sử. Văn hoá làng được xây dựng trên cơ sở kết cấu kinh tế nông nghiệp bé sung thêm thủ công nghiệp và thương nghiệp. Có người cho rằng văn hoá làng là đóng kín, không hoàn toàn như vậy.
Văn hoá làng với những thành tố như trên có nhiều sắc thái địa phương khác nhau bồ sung cho nhau. Có thể nói văn hoá làng là một bộ phận hữu cơ của văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam” [31, tr256]. Do vậy có thé nói “Van hoá làng là hiện tượng lịch sử, nhưng cũng là hiện tượng dân tộc, nó góp phần tạo lên tính cách con người, sức mạnh cộng đồng dân tộc. Và chắc chắn nó sẽ tổn tại lâu đài” [31, tr256].
Nhà nghiên cứu Thu Linh có đưa ra quan điểm cho rằng: “Văn hóa làng là một nên văn hóa thuộc về cộng đồng và mang tính chất cộng đồng. Chủ thé làng, tập thể làng chính là tác giả, là người tạo dựng, sáng lập nên nền văn hóa ay. Ở Việt Nam, một làng với tư cách là một làng, được xác định không chỉ qua địa bản cư trú, hoạt động nghề nghiệp, lịch sử hình thành, kết cấu kinh tế, quan hệ xã hội, mà còn qua cả sinh hoạt văn hóa có bản sắc riêng của nó nữa” [32. Từ những quan niệm nêu trên có thé thấy văn hóa làng là một bộ phận cơ bản tạo nên những yếu tố của kết cau văn hóa dân tộc Việt Nam.
Nếu văn hóa dân tộc là một đại lượng lớn thì văn hóa làng là một đại lượng nhỏ nhất. Được gọi là làng không chỉ có một địa bàn cư trú riêng mà còn có một nền văn hóa với những sắc thái riêng. Đó là toàn bộ cuộc sống văn hóa bao gồm cả văn hóa chật chất và văn hóa tinh thần với những đặc trưng mang tính truyên thông từ: ăn, ở, mặc, đi lại, với các phong tục tập quán trong sinh nở, 14 cưới xin yến lão, ma chay, cúng tế, lễ hội, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian. đến các thiết chế, cấu trúc của làng về quyền lợi và nghĩa vụ, các quan niệm về thế giới tâm linh, và xã hội trần tục.
của bao thế hệ đi trước để lại và được thử thách qua thời gian; Là chuẩn mực của toàn thể cộng đồng làng đã được lựa chọn, bảo lưu gìn giữ va phat trién nó. Khái niệm “truyền thong” Truyền thống, theo nghĩa chung được hiểu là những hiện tượng văn hóa - xã hội, bao gồm tư tưởng tình cảm, tập quán, thói quen, phong tục, lối sống, cách ứng xử được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, được bảo tồn qua năm tháng trong đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng xã hội khác nhau và có thể chuyên giao từ thế hệ này qua thế hệ khác. Khi điều kiện lịch sử thay đổi, truyền thống cũng có những chuyên biến nhất định chứ không phải là bat biến, vĩnh cửu trong mọi thời đại. Trần Văn Giàu thì: “Truyền thống là những đức tinh hay những thói tục kéo đài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực [25, tr.TS Nguyễn Trọng Chuẩn thì cho rằng “Theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống đó là những yếu tố di tồn của văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên 6n định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài”[13, tr.
Theo Bùi Xuân Đính trong Làng việt ở Bắc Bộ truyén thong và biển đổi cho rằng “Khái niệm truyền thống với tư cách là một danh từ, chỉ các yếu tố được hình thành trong quá khứ, mang tính ôn định của một hiện tượng đời sống, ví dụ truyền thống lịch sử văn hóa, truyền thống cách mạng, truyền thống khoa cử.