Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa Nho học tại Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với quá trình du nhập, hưng thịnh của Nho giáo, đặc biệt đạt đến đỉnh cao vào thời Lê Sơ và tiếp tục duy trì dưới triều Nguyễn. Các thiết chế như Văn Miếu, văn từ, văn chỉ là biểu tượng tôn vinh truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và là dấu tích của nền giáo dục khoa bảng phong kiến. Tuy nhiên, trong khi các công trình Văn Miếu cấp trung ương như Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) hay Văn Thánh Miếu (Huế) nhận được sự quan tâm nghiên cứu sâu rộng, thì hệ thống Văn Miếu cấp trấn, lộ, tỉnh ở các địa phương lại chưa được khảo cứu tương xứng với giá trị vốn có.

Văn Miếu Mao Điền (tọa lạc tại thôn Mao Điền, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) là một trong số ít Văn Miếu cấp trấn, tỉnh còn tồn tại đến nay ở Việt Nam, bên cạnh Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Bắc Ninh, Khổng Tử miếu Hội An (Quảng Nam), Văn Miếu Diên Khánh (Khánh Hòa), Văn Miếu Trấn Biên (Đồng Nai) và Văn Thánh Miếu Vĩnh Long. Được khởi dựng từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV), đây là công trình có lịch sử lâu đời thứ hai trong hệ thống Văn Miếu cả nước, chỉ sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Việt Nam học nhằm nghiên cứu, hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử - văn hóa của di tích và giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Bước đầu tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu Mao Điền trong tiến trình lịch sử của tỉnh Hải Dương.
  2. Bước đầu nghiên cứu và xác định giá trị lịch sử - văn hóa của Văn Miếu Mao Điền.
  3. Những vấn đề đặt ra đối với Văn Miếu Mao Điền trong hiện tại và tương lai.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là giá trị lịch sử và giá trị văn hóa của Văn Miếu Mao Điền, Cẩm Giàng, Hải Dương. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm toàn bộ khu di tích Văn Miếu Mao Điền cùng khu vực phụ cận thuộc phạm vi ảnh hưởng trong quá khứ và hiện tại; các hạng mục kiến trúc và di vật còn lại. Phạm vi tư liệu tập trung vào các tài liệu, sách báo, tạp chí liên quan đến lịch sử hình thành, phát triển của trấn Hải Dương xưa, tỉnh Hải Dương nay, cùng các nguồn thư tịch, văn bia về Nho giáo và giáo dục khoa bảng tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ góc độ khoa học liên ngành Việt Nam học, văn hóa học và sử học. Đề tài vận dụng khung lý luận về di sản văn hóa vật thể (công trình kiến trúc, cảnh quan, hiện vật, văn bia) và di sản văn hóa phi vật thể (lễ nghi tế tự, hoạt động hội hè, truyền thống khoa bảng và danh nhân).

Cơ sở văn bản và nguồn sử liệu được tác giả khai thác bao gồm:

  • Các bộ chính sử và địa chí cổ: Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt địa dư toàn biên, Lịch triều hiến chương loại chí, Hải Dương phong vật chí, Hải Dương dư địa chí.
  • Nguồn tư liệu văn khắc Hán Nôm tại chỗ: Văn bia Tân Dậu trọng thu cốc nhật tạo (khắc năm 1801) và Trùng tu Văn Miếu bi ký (khắc năm 1810).
  • Khung pháp lý và chính sách: Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Tác giả đã triển khai 4 phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Tập hợp, phân loại, dịch thuật và đối chiếu các nguồn sử liệu thành văn, thư tịch cổ và các nghiên cứu khoa học đi trước về Nho học xứ Đông.
  • Phương pháp khảo sát, điền dã: Khảo sát thực địa trực tiếp tại quần thể di tích Văn Miếu Mao Điền hiện tại và phế tích nền móng Văn Miếu cũ tại xã Vĩnh Tuy (huyện Bình Giang); tiến hành ghi chép, đo đạc kích thước kiến trúc, kiểm kê hiện vật và quan sát các hoạt động tế lễ, khuyến học.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành lịch sử, văn hóa học, khảo cổ học và Hán Nôm để giải mã các lớp lang kiến trúc và văn bản khắc trên đá.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn, trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương và cán bộ Ban Quản lý di tích Văn Miếu Mao Điền.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về Hải Dương và lịch sử của Văn Miếu Mao Điền

Chương 1 tái hiện tiến trình biến đổi địa giới hành chính của vùng đất Hải Dương qua hơn 2000 năm lịch sử và quá trình hình thành, biến thiên của Văn Miếu Mao Điền.

  • Về địa dư và lịch sử Hải Dương: Hải Dương nằm ở lưu vực sông Thái Bình, là phên dậu phía Đông của kinh thành Thăng Long xưa. Trải qua các thời kỳ, vùng đất mang nhiều tên gọi: bộ Dương Tuyền (thời Hùng Vương); huyện An Định và Khúc Dương thuộc quận Giao Chỉ (Bắc thuộc lần 1); huyện Chu Diên (Bắc thuộc lần 2 và thời Tùy); trấn Hải Môn, Hồng Châu (thời Đường); lộ Hải Đông, lộ Hồng (thời Lý - Trần); Đông đạo (thời Lê Sơ); Hải Dương thừa tuyên (1469 gồm 4 phủ, 18 huyện); trấn Hải Dương (từ khoảng năm 1509); Dương Kinh (thời Mạc, 1527); 4 đạo Thượng Hồng, Hạ Hồng, Đông Triều, An Lão (1741). Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trấn đổi thành tỉnh Hải Dương (còn gọi là tỉnh Đông). Năm 1968 hợp nhất với Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng; đến ngày 06/01/1996 Quốc hội ra nghị quyết chia tách lại thành hai tỉnh. Đến thời điểm tác giả khảo cứu, tỉnh Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km², dân số trên 1,492 triệu người (số liệu điều tra năm 2009), gồm 1 thành phố và 11 huyện.
  • Lịch sử Văn Miếu Mao Điền: Tiền thân của Văn Miếu trấn Hải Dương được khởi dựng trên đất Vân Dậu, làng Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang) trong khoảng thời gian từ năm 1740 đến trước năm 1800 (thời Lê Trung Hưng hoặc Tây Sơn). Tại phế tích này, các cuộc khảo sát ghi nhận gò đất cao 1,5m, diện tích 200m x 150m ven sông Mao, còn dấu tích móng gạch thời Lê Sơ (14m x 6,85m), chân tảng đá vuông 47cm x 27cm kê cột đường kính 35cm, và rùa đá (phát hiện tháng 8/2008).
  • Quá trình di dời và biến cố: Mùa đông năm Canh Thân (1800), các quan Trấn thủ Hoàng Văn Đằng, Hiệp trấn Nguyễn Đắc Trinh và Hữu tham hiệp Lê Lương Thận đã chọn khu đất công điền rộng trên 10 mẫu Bắc Bộ (khoảng 36.000 m²) tại xã Mao Điền (vốn là nền trường học cũ phủ Thượng Hồng) để chuyển dời Văn Miếu về, hoàn thành vào ngày 26 tháng 7 năm Tân Dậu (1801). Công trình trải qua đợt trùng tu lớn dưới thời vua Gia Long (từ ngày 06/10 năm Bính Dần 1806 đến ngày 05/8 năm Đinh Mão 1807, lập bia năm 1810) và thời Minh Mạng năm thứ 4 (1823). Năm 1948, thực dân Pháp chiếm đóng; tháng 9/1950 lập quận Mao Điền, dựng bốt canh, lô cốt quân sự; năm 1952 quân dân địa phương đánh chiếm lại. Giai đoạn 1977 - 1990, di tích xuống cấp nghiêm trọng, các hạng mục như đền Khải Thánh, gác Khuê Văn, tháp Bút, chòi canh, tòa Tây vu bị tháo dỡ. Ngày 21/01/1992, Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 97-QĐ công nhận Văn Miếu Mao Điền là Di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia.

Chương 2: Giá trị văn hóa của Văn Miếu Mao Điền

Chương 2 tập trung phân tích diện mạo cảnh quan kiến trúc, hệ thống cổ vật, nghi thức thờ tự và danh sách các bậc hiền tài được phụng thờ:

  • Cảnh quan và kiến trúc: Quần thể được bố trí theo trục đối xứng nghiêm ngặt. Cổng Tam quan (Văn Miếu môn) xây năm 1995 trên nền cũ, gồm Chính môn, Tả môn và Hữu môn. Hạ Chính môn có bình đồ vuông 3,7m x 3,7m, cao 2,8m, đắp nổi hình phượng "lá lật", hổ phù và chữ Thọ. Thượng Chính môn kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái, đỉnh nóc đắp mặt trời lửa, tàu đao cong vút, chính giữa hai tầng mái khắc 4 chữ Hán "Ngưỡng chi di cao" (仰之彌高), chiều cao tổng thể đạt 5,7m. Sau Tam quan là Thiên quang tỉnh gồm hai hồ vuông cân xứng hai bên đường trục, kế bên là cây gạo cổ thụ hơn 200 năm tuổi. Gác chuông và gác trống làm bằng gỗ lim 2 tầng 8 mái kiểu Thủy đình; gác chuông treo quả chuông đồng nặng 1042kg (đường kính miệng 1,15m, cao 1,5m); gác trống đặt trống Đại (đường kính miệng 1,5m, chu vi tang 5,65m, dài 1,88m). Tòa Đông vu gồm 5 gian bằng gỗ lim, liên kết vì kèo giá chiêng chữ T, hiện dùng làm "Nhà truyền thống giáo dục tỉnh Hải Dương". Tòa Tây vu được phục dựng đối xứng làm trụ sở Ban Quản lý. Tòa Bái đường và Hậu cung dựng theo bình đồ chữ "nhị" (=) kiểu "trùng thiềm điệp ốc", kích thước dài 22,5m, rộng 16,8m, cao 5,8m, nền tôn cao 0,5m so với mặt sân, hai tòa cách nhau 2m; mỗi tòa 7 gian với 8 hàng chân cột cái kiểu "cột đòng đòng" trên tảng kê "cỗ bồng thót đáy", mặt tiền lắp 5 cửa bức bàn "thượng song hạ bản" chạm rồng chầu nhật và long phượng hàm thư; trước sân có tháp Bút, đài Nghiên đắp nổi hình rồng cao 5m.
  • Hệ thống di vật cổ: Di tích còn bảo tồn các hiện vật quý: ban thờ và tượng Khổng Tử bằng đồng cao khoảng 1m (do nhân dân cung tiến thập niên 1990 trên ban thờ kích thước 2,7m x 2,25m x 1,5m); đỉnh đá (lư hương đá) khắc chìm chữ Hán "Hải Dương Văn Miếu thạch đỉnh" tạc khoảng năm 1806 - 1807; khánh đá thời Tây Sơn nguyên khối dài 1,5m, cao 0,73m, dày 0,12m, hai mặt có 3 núm gõ đường kính 0,1m, khắc 4 chữ "Vĩnh thùy vạn đại" (永垂萬代) cùng đồ án "long ngư hí thủy", "long mã đội hà đồ"; 3 tấm bia đá cổ gồm bia Tân Dậu trọng thu cốc nhật tạo (năm 1801, cao 1,9m, rộng 1,08m, dày 0,23m do Nguyễn Đắc Trinh soạn), bia Trùng tu Văn Miếu bi ký (năm 1810, cao 1,42m, rộng 0,9m, dày 0,19m) và một tấm bia cổ đã mất hết ký tự. Năm 2010, tấm bia Tiến sĩ đầu tiên mang tên "Hải Dương Nho học Tiến sĩ hiển danh ký, đệ lục bi" được dựng tại di tích.
  • Nghi thức thờ tự và danh nhân phối thờ: Lễ tế được tổ chức theo lệ tế Đinh hàng năm vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Dưới thời Nguyễn, phẩm vật gồm lễ Tam sinh (trâu, dê, lợn), xôi và quả phẩm; quan Trấn thủ hoặc Tổng đốc đích thân làm chủ tế. Ngày lễ trọng được ấn định vào ngày 18/2 và 20/8 âm lịch. Phần hội gắn liền với các trò chơi cờ người, đấu vật, chọi gà, hát đúm, hát trống quân và diễn chèo cổ. Không gian Hậu cung bài trí phối thờ đặc biệt: Khổng Tử ở trung tâm ("Vạn thế sư biểu"), cùng 8 danh nhân đại khoa gắn liền với quê hương xứ Đông xếp đăng đối hai bên tả hữu:
    • Phía bên trái (từ ngoài nhìn vào): Đại danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV); Thần toán học - Tiến sĩ Vũ Hữu (1444 - 1530); Trình quốc công - Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585); Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi (1380 - 1442).
    • Phía bên phải (từ ngoài nhìn vào): Nhà giáo Chu Văn An (1292 - 1370); Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346); Nhập nội Hành khiển Phạm Sư Mạnh (thế kỷ XIV); Nghi Ái quan - Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ (nữ tiến sĩ duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam).
  • Di tích lưu giữ bảng danh sách ghi danh 637 vị Tiến sĩ quê hương trấn Hải Dương xưa qua 185 kỳ thi đại khoa (1075 - 1919), đóng vai trò giáo dục truyền thống hiếu học sâu sắc cho các thế hệ học sinh địa phương.

Chương 3: Công tác bảo tồn và phát triển di tích

Chương 3 phân tích thực trạng quản lý, tổng kết kinh phí - quy mô các đợt tôn tạo và đề xuất phương hướng bảo tồn, phát huy giá trị di tích:

  • Công tác quản lý và trùng tu: Sau giai đoạn chiến tranh tàn phá, các đợt can thiệp kỹ thuật được triển khai từng bước: năm 1994 cấp kinh phí hàng trăm triệu đồng chống xuống cấp; năm 1995 Bộ Văn hóa - Thông tin cấp 210 triệu đồng xây mới cổng Tam quan; năm 1999 nâng cấp Bái đường, Hậu cung và phục dựng Đông vu. Đợt đại trùng tu trọng điểm được UBND tỉnh Hải Dương khởi công ngày 26/06/2002 và hoàn thành năm 2004 với tổng kinh phí hơn 8 tỷ đồng (chia làm 2 giai đoạn 2002 - 2003), bao gồm sơn thếp nội thất Bái đường - Hậu cung, sắm đồ thờ tự, phục dựng Tây vu, lầu chuông, lầu trống, đài Nghiên, tháp Bút cao 5m, kè đá hồ Thiên quang tỉnh, làm cầu đá, tường bao và bãi đỗ xe.
  • Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
    • Giải pháp bảo tồn: Vận dụng linh hoạt các nguyên tắc trùng tu theo Luật Di sản văn hóa; cân bằng giữa bảo tồn di tích gốc với phát triển kinh tế địa phương; trang bị phương tiện kỹ thuật bảo quản tư liệu, hiện vật; tiếp tục sưu tầm hiện vật cho Nhà truyền thống giáo dục tỉnh; minh bạch các nguồn vốn đầu tư của nhà nước và xã hội hóa.
    • Giải pháp phát triển di tích: Đưa nội dung giáo dục di sản vào chương trình dạy học các trường tiểu học trong tỉnh; tổ chức các lễ tuyên dương, vinh danh học sinh giỏi, nhà giáo tiêu biểu tại Văn Miếu; đào tạo đội ngũ thuyết minh viên chuyên nghiệp; định kỳ tổ chức Ngày thơ, Ngày hội đọc sách, triển lãm, tọa đàm khoa học; phục dựng không gian trường thi xưa cho khách tham quan trải nghiệm; phát triển sản phẩm lưu niệm thủ công mỹ nghệ mang biểu trưng Văn Miếu; đầu tư hạ tầng dịch vụ dừng chân, ẩm thực; hoàn thành dự án dựng 14 bia đá khắc 43.000 chữ Hán ghi danh toàn bộ các vị khoa bảng tỉnh Đông.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã khảo cứu, xác lập các mốc lịch sử, biến cố di dời và niên đại trùng tu của Văn Miếu Mao Điền dựa trên văn khắc thực địa và sử liệu thư tịch:

Giai đoạn / Mốc thời gian Sự kiện lịch sử và hoạt động trùng tu Quy mô, đặc điểm và hạng mục ghi nhận
Khoảng 1740 - 1800 Khởi dựng Văn Miếu trấn Hải Dương Đặt tại làng Vĩnh Lại (nay là xã Vĩnh Tuy, Bình Giang) ven sông Mao; gồm 3 gian chính tẩm, 5 gian bái đường; nền móng 14m x 6,85m.
Canh Thân (1800) - Tân Dậu (1801) Chuyển dời về Mao Điền (Cẩm Giàng) Hoàn thành ngày 26/7/1801 trên nền trường học phủ Thượng Hồng cũ; khuôn viên rộng hơn 10 mẫu Bắc Bộ (~36.000 m²); lập bia Tân Dậu trọng thu cốc nhật tạo.
Bính Dần (1806) - Đinh Mão (1807) Trùng tu lớn dưới thời Gia Long Do Trấn thủ Trần Công Hiến chủ trì; dựng thêm miếu Tây vu, điện Khải Thánh, hành lang phía nam, lầu Kim Thanh, lầu Ngọc Chấn, gác Khuê Văn; lập bia năm 1810.
Minh Mạng thứ 4 (1823) Đại tu thời Minh Mạng Mở rộng quy mô tòa Bái đường và Hậu cung thành công trình liên hoàn uy nghi.
1948 - 1952 Chiến tranh tàn phá Thực dân Pháp chiếm đóng lập quận Mao Điền, xây lô cốt bốt canh; sau đó di tích bị hư hại nặng nề.
1977 - 1990 Xuống cấp nghiêm trọng Đền Khải Thánh, gác Khuê Văn, tháp Bút, chòi canh, nhà Tây vu bị dỡ bỏ; chỉ còn Bái đường, Hậu cung, Đông vu, khánh đá và 3 bia đá.
21/01/1992 Xếp hạng di tích quốc gia Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 97-QĐ công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.
1994 - 1999 Chống xuống cấp và tu bổ từng phần Năm 1994 chống xuống cấp; năm 1995 xây Tam quan mới (kinh phí 210 triệu đồng); năm 1999 nâng cấp Bái đường, Hậu cung, Đông vu.
26/06/2002 - 2004 Dự án đại trùng tu toàn diện Kinh phí hơn 8 tỷ đồng; phục dựng Tây vu, gác Chuông, gác Trống, đài Nghiên, tháp Bút (5m), kè Thiên quang tỉnh, cầu đá, bãi đỗ xe.
Năm 2010 Dựng bia Tiến sĩ đầu tiên Khởi dựng bia "Hải Dương Nho học Tiến sĩ hiển danh ký, đệ lục bi" chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Đóng góp khoa học của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa tư liệu thành văn bản nghiên cứu chuyên sâu về một Văn Miếu cấp tỉnh tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Công trình làm rõ tính độc đáo trong bài trí thờ tự tại Văn Miếu Mao Điền: kết hợp giữa thờ Khổng Tử với phối thờ 8 vị danh nhân đại khoa tiêu biểu của quê hương xứ Đông, phá vỡ khuôn mẫu chỉ thờ Tứ phối, Thập triết truyền thống. Về mặt thực tiễn, các kiến nghị của đề tài gợi mở phương thức xã hội hóa và gắn kết di tích với phong trào giáo dục địa phương, phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu bước đầu và tình trạng thất lạc tư liệu của di tích:

  • Di vật nguyên gốc còn lại tại Văn Miếu Mao Điền rất khiêm tốn do chiến tranh và giai đoạn hoang phế (1977 - 1990); một trong ba tấm bia đá cổ đã bị mòn mất toàn bộ hoa văn và chữ khắc Hán Nôm, khiến tác giả chưa thể xác định niên đại và nội dung văn bia.
  • Tại thời điểm hoàn thành đề tài (năm 2014), dự án khắc dựng 14 bia Tiến sĩ với 43.000 chữ Hán ghi danh các nhà khoa bảng xứ Đông mới chỉ hoàn thành được 1 tấm bia, làm giới hạn khả năng khảo cứu trực tiếp hệ thống văn khắc mới.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất: Tiếp tục đẩy mạnh công tác điền dã khảo cổ học tại phế tích Văn Miếu cũ ở Vĩnh Lại (Bình Giang) để tìm kiếm thêm hiện vật chân tảng, rùa đá; nghiên cứu dịch thuật và phân tích toàn diện nội dung 14 tấm bia Tiến sĩ sau khi hoàn tất thi công; khảo cứu phục dựng chi tiết các hình thức diễn xướng dân gian (hát đúm, trống quân, chèo cổ) trong phần hội của lễ hội Mao Điền.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử, Quản lý văn hóa và Bảo tồn di sản khi thực hiện các khóa luận, đề tài nghiên cứu về hệ thống Văn Miếu cấp tỉnh và văn hóa Nho học Việt Nam.
  • Cán bộ quản lý di tích, cơ quan văn hóa - du lịch huyện Cẩm Giàng và tỉnh Hải Dương trong việc xây dựng đề án bảo tồn, tổ chức thuyết minh di sản và quy hoạch các tuyến điểm du lịch văn hóa xứ Đông.
  • Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm: bản dịch nội dung văn bia Tân Dậu trọng thu cốc nhật tạo và Trùng tu Văn Miếu bi ký (phần Phụ lục 1 và 2); hệ thống số liệu đo đạc kiến trúc thực tế (Tam quan, Bái đường, Hậu cung, khánh đá Tây Sơn); tư liệu tiểu sử và sự nghiệp của 8 vị đại khoa phối thờ.

Câu hỏi thường gặp

1. Văn Miếu trấn Hải Dương nguyên thủy được xây dựng tại đâu và chuyển về vị trí hiện nay vào năm nào?
Văn Miếu nguyên thủy được xây dựng trên đất Vân Dậu, làng Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) trong khoảng thời gian từ năm 1740 đến trước năm 1800. Di tích được dời về vị trí hiện nay tại xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng vào mùa đông năm Canh Thân (1800) và hoàn thành vào ngày 26 tháng 7 năm Tân Dậu (1801).

2. Tòa Hậu cung của Văn Miếu Mao Điền phụng thờ những ai và được sắp xếp như thế nào?
Hậu cung bài trí đối xứng: chính giữa thờ đức Khổng Tử ("Vạn thế sư biểu"). Bên trái (nhìn từ ngoài vào) thờ 4 danh nhân: Đại danh y Tuệ Tĩnh, Thần toán học - Tiến sĩ Vũ Hữu, Trình quốc công - Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi. Bên phải (nhìn từ ngoài vào) thờ 4 danh nhân: Nhà giáo Chu Văn An, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Nhập nội Hành khiển Phạm Sư Mạnh, Nghi Ái quan - Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ.

3. Đặc điểm và kích thước của hai di vật cổ bằng đá quý giá tại tòa Bái đường là gì?
Hai di vật gồm: (1) Chiếc đỉnh đá (lư hương) chạm hình hổ phù 4 mặt, khắc dòng chữ Hán "Hải Dương Văn Miếu thạch đỉnh", được tạc trong đợt trùng tu năm 1806 - 1807; (2) Chiếc khánh đá thời Tây Sơn bằng đá nguyên khối, dài 1,5m, cao 0,73m, dày 0,12m, hai mặt có 3 núm gõ đường kính 0,1m, khắc 4 chữ "Vĩnh thùy vạn đại" và hoa văn "long ngư hí thủy", "long mã đội hà đồ".

4. Nội dung bài văn khắc trên bia đá "Tân Dậu trọng thu cốc nhật tạo" (1801) phản ánh sự kiện gì?
Bia do Nguyễn Đắc Trinh soạn năm 1801, ghi lại việc ba viên quan Trấn thủ Hoàng Văn Đằng, Hiệp trấn Nguyễn Đắc Trinh và Hữu tham hiệp Lê Lương Thận chọn khu đất công điền rộng hơn 10 mẫu Bắc Bộ tại xã Mao Điền (nền trường học phủ Thượng Hồng cũ) để di dời, tái thiết Văn Miếu từ ngày 02/11 năm Canh Thân (1800) đến ngày 26/7 năm Tân Dậu (1801), đồng thời sắm sửa các đồ tế tự và ca ngợi việc chấn hưng giáo dục.

5. Đợt đại trùng tu di tích Văn Miếu Mao Điền giai đoạn 2002 - 2004 được triển khai với quy mô kinh phí và các hạng mục chủ yếu nào?
Dự án có tổng mức kinh phí hơn 8 tỷ đồng trích từ ngân sách nhà nước và đóng góp xã hội hóa, triển khai thi công trong hai năm 2002 và 2003, khánh thành năm 2004. Các hạng mục chính gồm: làm lại hệ thống cửa, sơn thếp vàng cột xà tòa Bái đường - Hậu cung; bổ sung đồ thờ, đúc tượng; phục dựng tòa Tây vu, gác Chuông, gác Trống, đài Nghiên, tháp Bút cao 5m; kè hồ Thiên quang tỉnh, làm cầu đá, xây tường bao, bê tông hóa đường vào và xây dựng bãi đỗ xe.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Anh đã hệ thống hóa một cách khoa học tiến trình lịch sử khởi dựng, chuyển dời và biến thiên của Văn Miếu Mao Điền gắn chặt với lịch sử địa phương và vùng đất phên dậu xứ Đông. Công trình làm sáng rõ diện mạo kiến trúc đăng đối, giá trị của các di vật đá cổ cùng truyền thống khoa bảng vẻ vang thể hiện qua việc phối thờ 8 vị đại khoa tiêu biểu của Hải Dương. Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý và trùng tu, tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi nhằm gắn kết việc bảo tồn di tích với đời sống giáo dục và phát triển du lịch đương đại. Đây là công trình khảo cứu học thuật nghiêm túc, cung cấp cứ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa Nho học tại Việt Nam.