Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến nay" của nghiên cứu sinh Phạm Thị Thu Hà, chuyên ngành Việt Nam học (mã số 62220113), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Phương Thảo và PGS.TS Hoàng Anh Tuấn tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội (2016).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, thị xã Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh) từng giữ vai trò trung tâm chính trị, hành chính và thương mại của một vùng lãnh thổ biên ải rộng lớn ở Đông Bắc Việt Nam suốt thời kỳ phong kiến và biến đổi thành một đô thị thuộc địa thời Pháp thuộc. Sau ngày hòa bình lập lại, do sự dịch chuyển trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Ninh, Quảng Yên từng có thời gian bị lu mờ trong bức tranh phát triển kinh tế - xã hội chung của vùng. Những năm gần đây, Quảng Yên đứng trước cơ hội tăng trưởng mới nhờ vị trí kết nối trong vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hải Phòng - Quảng Yên - Hạ Long. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét từng khía cạnh riêng lẻ hoặc chỉ khảo sát phạm vi hẹp của thị trấn Quảng Yên cũ. Việc nghiên cứu toàn diện thị xã Quảng Yên theo cách tiếp cận Khu vực học liên ngành nhằm giải quyết khoảng trống học thuật về lịch sử đô thị và cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  • Thứ nhất: Phác họa bức tranh toàn cảnh về các phương diện hành chính, kinh tế, văn hóa và xã hội của Quảng Yên trong hơn một thế kỷ qua.
  • Thứ hai: Làm rõ hơn vai trò của Quảng Yên trong lịch sử; đánh giá vị trí, vai trò quan trọng của Quảng Yên trong phát triển kinh tế xã hội của vành đai kinh tế biển và tam giác kinh tế phía bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
  • Thứ ba: Nghiên cứu cụ thể về chính sách và hoạt động quản lý đô thị của Quảng Yên để từ đó có thể đưa ra một số đề xuất, kiến nghị và những giải pháp xây dựng một đô thị Quảng Yên hiện đại, phát triển bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nhiệm vụ trọng tâm:

  • Thứ nhất: Mang lại nhận thức tổng quát về không gian lịch sử - văn hóa Quảng Yên.
  • Thứ hai: Ứng dụng nhận thức tổng quát đó vào việc giải quyết các vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn phát triển bền vững của khu vực.
  • Thứ ba: Nghiên cứu phải có giá trị tư vấn, phản biện chính sách, trực tiếp có những đóng góp vào chiến lược phát triển bền vững của khu vực.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là quá trình phát triển với tư cách là một không gian lịch sử - văn hóa của thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến năm 2015 theo các phương diện chủ yếu: thể chế, xây dựng đô thị, hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:

  • Về không gian: Không gian lịch sử - văn hóa Quảng Yên với trung tâm là địa giới hành chính thị xã Quảng Yên hiện nay. Thị xã có diện tích tự nhiên 314,2 km², tọa độ địa lý từ 20°45'06" đến 21°02'09" vĩ độ Bắc và từ 106°45'30" đến 106°00'59" kinh độ Đông. Địa giới tiếp giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ ở phía Bắc, đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu ở phía Nam, thành phố Hạ Long ở phía Đông, huyện Thủy Nguyên (thành phố Hải Phòng) ở phía Tây. Địa bàn gồm 19 đơn vị hành chính: 11 phường nội thị (Quảng Yên, Yên Giang, Cộng Hòa, Đông Mai, Minh Thành, Hà An, Tân An, Nam Hòa, Yên Hải, Phong Cốc, Phong Hải) và 8 xã ngoại thị (Tiền An, Sông Khoai, Hiệp Hòa, Hoàng Tân, Cẩm La, Liên Hòa, Liên Vị, Tiền Phong). Phạm vi không gian có mở rộng liên hệ với các vùng phụ cận thuộc tỉnh Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ.
  • Về thời gian: Khung thời gian trọng tâm kéo dài từ năm 1883 (thời điểm thực dân Pháp đánh chiếm thành tỉnh Quảng Yên) đến năm 2015, có mở rộng khảo sát giai đoạn lịch sử trước đó và định hướng phát triển giai đoạn sau năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến địa bàn Quảng Yên theo các giai đoạn lịch sử:

Các ghi chép phương Tây thế kỷ XVII - XVIII:

  • Tác phẩm "Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài" (1688) của William Dampier ghi nhận vùng Yên Quảng là xứ duyên hải trũng, nhiều cù lao, dân chài tập trung ven biển và sản xuất nhiều lúa gạo.
  • Khảo cứu "Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài" của giáo sĩ Richard thế kỷ XVIII mô tả trấn Yên Quảng thuộc trấn Đông.

Các công trình thời kỳ Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX):

  • Chuyên khảo "La question des ports du Tonkin: Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai" (1886) của J. Renaud trên Tập san của Hội nghiên cứu địa lý Đông Dương, phân tích so sánh vị thế xây dựng cảng biển tại Bắc Kỳ.
  • Báo cáo "Notice sur la province de Quang Yen" (1932) của Công sứ Pháp tại Quảng Yên và "Notice sur la province de Quang yen établie par un mandarin provincial, le Bo Chanh" của quan Bố Chánh, cung cấp các số liệu về tự nhiên, dân cư, hành chính, giao thông và kinh tế địa phương.
  • Luận án tiến sĩ "Hải Phòng – nguồn gốc, điều kiện và thể thức phát triển đến năm 1921" của Gilles Raffi tóm lược cuộc thảo luận của giới chức Pháp về việc chọn lựa địa điểm lập cảng lớn giữa Hải Phòng, Quảng Yên, Đồ Sơn và Hòn Gai.

Các công trình nghiên cứu lịch sử, kinh tế, văn hóa từ sau năm 1945 đến nay:

  • Bộ sách "Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Yên Hưng" (tập 1930-1986 xuất bản năm 1986 và tập 1930-2000 xuất bản năm 2002) ghi nhận diễn trình lịch sử chính trị và đời sống dân cư địa phương.
  • Công trình "Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288" (Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, 1988) làm rõ vị trí chiến lược quân sự của vùng cửa sông Bạch Đằng.
  • Nghiên cứu kinh tế nông nghiệp: bài viết "Thông báo về cuộc điều tra, nghiên cứu các làng xã thuộc khu Hà Nam, tỉnh Quảng Yên" (Huy Vu, Trần Lâm, 1977); luận án tiến sĩ "Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Yên Hưng từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX" (Bùi Việt Hùng, 1999) phân tích chế độ sở hữu ruộng đất các mốc 1805, 1837-1838, 1901.
  • Bộ sách "Địa chí Quảng Ninh" (3 tập, 2000) do Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo biên soạn.
  • Các ấn phẩm văn hóa địa phương của Lê Đồng Sơn: "Văn hoá Yên Hưng - lịch sử hình thành và phát triển" (2008), "Văn hoá Yên Hưng – di tích văn bia, câu đối, đại tự" (2008).
  • Kỷ yếu hội thảo "Đô thị Quảng Yên - truyền thống và định hướng phát triển" (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, NXB Thế giới, 2011) gồm 27 bài viết về thị trấn Quảng Yên phục vụ nâng cấp đô thị loại IV.
  • Công trình lý luận lịch sử đô thị: "Lịch sử Thăng Long – Hà Nội" (Phan Huy Lê chủ biên) và kỷ yếu hội thảo quốc tế "Tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu lịch sử đô thị Việt Nam" (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp Đại học Justus Liebig Giessen).

Khoảng trống học thuật luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố chỉ tiếp cận Quảng Yên ở từng khía cạnh biệt lập (quân sự, lịch sử Đảng bộ, nông nghiệp nông thôn, phong tục lễ hội) hoặc bó hẹp trong phạm vi thị trấn trung tâm. Luận án đặt mục tiêu nghiên cứu toàn diện thị xã Quảng Yên như một không gian lịch sử - văn hóa và không gian phát triển hoàn chỉnh, vận dụng phương pháp Khu vực học liên ngành để kết nối dữ liệu lịch sử với thực trạng đương đại và định hướng phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn hóa và khung lý thuyết Khu vực học hiện đại:

  • Các khái niệm công cụ:
    • Phát triển bền vững: Dẫn chiếu Luật Bảo vệ môi trường, xác định là sự phát triển kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, không làm tổn hại nhu cầu thế hệ tương lai.
    • Đô thị và đô thị hóa: Dẫn chiếu Khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 về định nghĩa đô thị; tiếp cận đô thị hóa dưới góc độ biến đổi hình thái cư trú, cấu trúc kinh tế phi nông nghiệp, văn hóa và sinh thái nhân văn.
    • Phát triển đô thị bền vững: Sự cân bằng hài hòa giữa ba phân hệ môi trường vật chất (tự nhiên và xây dựng), môi trường kinh tế và môi trường xã hội trong lòng đô thị và vùng ngoại vi.
  • Khung lý thuyết Khu vực học (Area Studies):
    • Sự hình thành và phát triển: Ra đời tại Hoa Kỳ giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ hai, tiến triển từ đa ngành sang liên ngành.
    • Các trường phái tiếp cận: (1) Khu vực học gắn với Đất nước học; (2) Khu vực học dựa trên lý thuyết địa - chính trị; (3) Trường phái không gian lịch sử - văn hóa (phát triển mạnh tại Mỹ và Nhật Bản).
    • Định hướng ứng dụng thế kỷ XXI: Khu vực học không dừng lại ở nhận thức cấu trúc tĩnh mà xem xét khu vực như một không gian phát triển, đánh giá tiềm năng liên vùng, cung cấp dữ liệu phục vụ tư vấn và phản biện chính sách.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận liên ngành Khu vực học, đặt đối tượng trong mối tương tác giữa địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái, lịch sử, văn hóa và kinh tế xã hội.
  • Các phương pháp cụ thể: Phương pháp điền dã dân tộc học/sử học, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng kết hợp.

Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm 4 khối tài liệu chính:

  1. Thư tịch cổ và địa chí thời phong kiến: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí lược, tài liệu địa bạ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
  2. Tài liệu lưu trữ tiếng Pháp thời thuộc địa: Báo cáo Notice sur la province de Quang Yen (1932), tài liệu địa hình, an ninh, đê điều, y tế, báo cáo nhà máy kẽm La Métallurgie du Zinc au Tonkin (1921), các nghị định, công văn và bản đồ lưu trữ.
  3. Văn bản quản lý nhà nước: Các chủ trương của Đảng, Nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh Quảng Ninh, báo cáo quy hoạch kinh tế - xã hội, niên giám thống kê thị xã Quảng Yên qua các thời kỳ.
  4. Tài liệu điền dã thực địa: Văn bản chữ viết Hán Nôm (sắc phong, hương ước, văn bia, câu đối, đại tự, gia phả dòng họ), di tích vật chất (đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ họ, phế tích thành cổ, công trình kiến trúc thời Pháp), tư liệu truyền miệng (truyền thuyết dân gian, tri thức bản địa, kinh nghiệm quai đê lấn biển và nghề thủ công).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lí thuyết và địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu, xác lập cơ sở lý thuyết Khu vực học và trình bày toàn diện đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử cư dân thị xã Quảng Yên:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
    • Địa hình: Chiếm 60% diện tích là đồi núi thấp (11 xã, phường vùng Hà Bắc) và 40% là đồng bằng thấp trũng cửa sông ven biển (vùng đảo Hà Nam).
    • Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm 23-24°C, biên độ nhiệt ngày đêm 9-11°C; lượng mưa trung bình 1.537 mm/năm; số giờ nắng 1.700-1.800 giờ/năm; độ ẩm trung bình 81%.
    • Thủy văn: Sông Bạch Đằng phân nhánh thành sông Chanh và sông Rút bao quanh đảo Hà Nam; hồ thủy lợi Yên Lập có dung tích 127,5 triệu m³ (dung tích hữu ích 113,2 triệu m³) cấp nước ngọt chính; chế độ nhật triều biên độ lớn 3-4m.
    • Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên 31.420 ha, gồm 5 nhóm đất chính.
Nhóm đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Đặc điểm phân bố và sử dụng
Đất cát 629,21 2,21 Phân bố ven biển, ven sông; nghèo dinh dưỡng, chua nhẹ.
Đất mặn 6.956,48 22,19 Hình thành do bồi tích sông - biển; dùng nuôi thủy sản, rừng ngập mặn sú vẹt.
Đất phèn 4.908,65 15,66 Thành phần cơ giới thịt nặng, nứt nẻ khi khô; phân bố vùng trũng.
Đất phù sa 1.008,73 3,20 Gồm đất phù sa không được bồi ít chua (663,74 ha), phù sa chua (344,99 ha) và phù sa glây; trồng 2 vụ lúa và hoa màu.
Đất đỏ vàng Khoảng 17.916,93 ~56,74 Đất đồi núi thấp, gồm vàng nâu trên phù sa cổ, vàng nhạt trên đá cát, nâu vàng trên đá vôi.
  • Tài nguyên khoáng sản: Hạn chế về quy mô; đá vôi đảo Hoàng Tân trữ lượng trên 1 triệu m³; đất sét gạch ngói trữ lượng khoảng 1 triệu m³; than đá Đá Chồng khoảng 20-30 vạn tấn; cát sỏi xây dựng rải rác ven sông.
  • Cư dân và văn hóa:
    • Di chỉ Tràng Kênh, Đầu Rằm (cách ngày nay khoảng 4.000 năm), Hoàng Tân và mộ cổ thời Đông Hán tại Sông Khoai, Cộng Hòa chứng minh truyền thống tụ cư lâu đời gắn với kinh tế biển - thương mại.
    • Lịch sử gắn liền chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền và năm 1288 của Trần Hưng Đạo; năm 1237 vùng đất thuộc ấp thang mộc của Trần Liễu.
    • Công cuộc khẩn hoang đảo Hà Nam năm 1434 (thời vua Lê Thái Tông) do 17 vị Tiên công quê gốc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức (kinh thành Thăng Long) khởi xướng theo hai phương thức: khai canh tập thể và khai canh thủ lĩnh.
    • Bản sắc văn hóa: Lưu giữ 130 di tích lịch sử - văn hóa (30 di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh), 104 nhà thờ họ (21 nhà thờ xếp hạng quốc gia), 23 ngôi chùa làng; lễ hội Tiên Công ngày mồng 7 tháng Giêng tôn vinh thọ 80, 90, 100 tuổi; tục cưới xin đón dâu giờ Dần; tổ chức phường cá đánh bắt xa bờ bằng thuyền hai buồm và tập quán "chạ thuyền".

Chương 2: Thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến 1955

Nội dung chương tập trung tái hiện tiến trình biến đổi của Quảng Yên dưới thời kỳ Pháp thuộc:

  • Điều kiện lịch sử tác động: Thực dân Pháp đánh chiếm thành Quảng Yên năm 1883, từng bước thiết lập bộ máy thống trị và chuyển đổi cấu trúc đô thị cổ phong kiến sang đô thị chức năng hành chính - quân sự thuộc địa.
  • Chuyển biến bộ máy chính quyền: Thiết lập chính quyền thuộc địa song trùng với các chức danh Công sứ Pháp, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, tổ chức lại địa giới và mạng lưới kiểm soát an ninh.
  • Quy hoạch và xây dựng đô thị: Xây dựng hệ thống công sở hành chính, dinh thự Pháp, trại lính, bệnh xá, trường học, chỉnh trang bến Ngự ven sông Chanh, đầu tư mạng lưới đê điều ngăn mặn.
  • Chuyển biến kinh tế:
    • Nông nghiệp: Sản xuất lúa nước chịu rủi ro thiên tai, hạn hán và xâm nhập mặn; duy trì chế độ đo đạc ruộng đất, bóc lột địa tô và phụ thu.
    • Thuế khóa: Áp đặt hệ thống thuế thân đinh và thuế điền thổ nặng nề đối với dân cư bản địa.
    • Công nghiệp và thương mại: Khai thác khoáng sản với cơ sở chế biến tiêu biểu là nhà máy kẽm Quảng Yên (hoạt động từ năm 1921); phát triển giao thông thủy vận bến cảng kết nối Hải Phòng - Quảng Yên - Hòn Gai.

Chương 3: Thị xã Quảng Yên từ năm 1955 đến 2015

Chương 3 phân tích sự phát triển của Quảng Yên qua các thời kỳ sau hòa bình lập lại (1955), thời kỳ kháng chiến, thời kỳ bao cấp và giai đoạn Đổi mới:

  • Điều kiện lịch sử: Khôi phục kinh tế sau năm 1955, thực hiện cải cách ruộng đất (1956 tại Phong Cốc, Yên Đông), hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng công trình thủy nông hồ Yên Lập và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa từ năm 1986.
  • Bộ máy quản lý và địa giới hành chính: Sự thay đổi từ cấp huyện Yên Hưng sang tái lập thị xã Quảng Yên vào năm 2011 với 19 đơn vị hành chính cấp xã, phường; kiện toàn bộ máy chính quyền đô thị.
  • Xây dựng hạ tầng đô thị: Nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ (Quốc lộ 18A, Quốc lộ 10, Tỉnh lộ 331, Tỉnh lộ 338), tuyến đường sắt Kép - Bãi Cháy; quy hoạch chỉnh trang các phường nội thị và mở rộng không gian hạ tầng kỹ thuật.
  • Biến chuyển kinh tế và cơ cấu xã hội:
    • Tăng trưởng kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu GDP từ nông nghiệp sang công nghiệp - xây dựng và dịch vụ thương mại.
    • Nông - lâm - thủy sản: Hình thành vùng lúa chất lượng cao, khai thác gần 8.000 ha bãi triều nuôi trồng thủy sản.
    • Dân số và lao động: Dân số năm 2014 đạt 137.000 người, mật độ trung bình 437 người/km² (khu vực nội thị tập trung trên 700-1.000 người/km²); tỷ lệ tăng dân số 1,1%; tỷ lệ lao động dịch chuyển dần sang các ngành phi nông nghiệp.
    • Y tế, giáo dục: Mở rộng mạng lưới trạm y tế xã phường, bệnh viện khu vực và củng cố hệ thống trường học các cấp.

Chương 4: Một số giải pháp phát triển bền vững thị xã Quảng Yên

Chương 4 tích hợp các kết quả nghiên cứu lịch sử - thực tiễn để đề xuất định hướng phát triển bền vững:

  • Định hướng quy hoạch không gian và liên vùng: Xác định vị trí bản lề của Quảng Yên trong trục kinh tế ven biển Hải Phòng - Quảng Yên - Hạ Long; tận dụng hạ tầng cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và kết nối cảng nước sâu Lạch Huyện.
  • Nhận diện các vấn đề đặt ra:
    • Về thể chế và quy hoạch: Năng lực quản lý đô thị chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa; bất cập trong phân định hành chính vùng cửa sông Lạch Huyện.
    • Về kinh tế: Tỷ trọng công nghiệp còn thấp, nuôi trồng thủy sản chủ yếu dạng quảng canh, khai thác tiềm năng du lịch chưa tương xứng.
    • Về môi trường: Nguy cơ suy thoái rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, nước biển dâng, xói mòn lòng sông do triều rút và ô nhiễm nguồn nước hồ Yên Lập.
  • Hệ thống giải pháp phát triển bền vững:
    • Giải pháp thể chế và quy hoạch: Đổi mới quản lý đô thị, hoàn thiện quy hoạch tổng thể đồng bộ với không gian kinh tế liên vùng.
    • Giải pháp kinh tế: Đẩy mạnh công nghiệp sạch, phát triển logistics cảng biển, chuyển đổi nuôi thủy sản thâm canh công nghệ cao, phát triển chuỗi du lịch sinh thái - di tích lịch sử kết nối Hạ Long - Cát Bà.
    • Giải pháp xã hội: Bảo tồn không gian văn hóa Tiên Công, duy trì các di sản vật thể và phi vật thể của người Thăng Long khai hoang; đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho nông dân mất đất sản xuất.
    • Giải pháp môi trường: Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng phòng hộ ven biển, quản lý bảo đảm an toàn nguồn nước hồ Yên Lập, xây dựng hệ thống đê biển chống xâm nhập mặn thích ứng biến đổi khí hậu.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

  • Mang lại nhận thức tổng quát, tích hợp về không gian lịch sử - văn hóa Quảng Yên với các đặc trưng bản địa rõ nét từ truyền thống tụ cư đến đô thị đương đại.
  • Đưa ra hệ thống nhận định, đánh giá khách quan, khoa học về quá trình phát triển của đô thị Quảng Yên qua các thời kỳ lịch sử từ 1883 đến 2015.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể, thiết thực dựa trên cơ sở khoa học liên ngành, đóng vai trò luận cứ tham khảo phục vụ hoạch định chính sách phát triển bền vững cho địa phương.
  • Góp phần vận dụng và khẳng định tính khả thi của cách tiếp cận Khu vực học trong nghiên cứu các đơn vị không gian lãnh thổ cấp tiểu vùng tại Việt Nam.

Hệ thống kiến nghị, giải pháp chính:

  • Kiến nghị chính quyền các cấp ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng (trục Hải Phòng - Quảng Yên - Hạ Long).
  • Tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên đất đai, kiểm soát việc san lấp mặt bằng làm ảnh hưởng hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn.
  • Xây dựng cơ chế đặc thù bảo tồn các di tích lịch sử quốc gia, đặc biệt là quần thể di tích Chiến thắng Bạch Đằng và không gian văn hóa lễ hội Tiên Công đảo Hà Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Khung thời gian nghiên cứu thực nghiệm kết thúc ở mốc năm 2015, khi nhiều dự án hạ tầng giao thông động lực liên vùng (như tuyến cao tốc nối Hạ Long - Hải Phòng) mới đang trong giai đoạn thi công, chưa thể đánh giá hết tác động sau khi đưa vào vận hành thực tế.
  • Phạm vi tư liệu chữ viết thời thuộc địa phân tán ở nhiều trung tâm lưu trữ, một số thống kê giai đoạn trước năm 1955 thiếu tính liên tục đồng bộ giữa các năm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Khảo sát sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội và không gian đô thị Quảng Yên giai đoạn sau năm 2016 khi hệ thống cao tốc liên vùng và cảng biển Lạch Huyện hoàn thành.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về mô hình làng đảo quai đê lấn biển Hà Nam với các vùng khai hoang ven biển đồng bằng Bắc Bộ khác như Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Việt Nam học, Lịch sử Việt Nam, Địa lý nhân văn, Quản lý đô thị và Văn hóa học.
  • Cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ làm công tác quy hoạch, xây dựng chính sách của tỉnh Quảng Ninh và thị xã Quảng Yên.

Các phần có giá trị tham khảo cao trong công trình:

  • Chương 1: Phần tổng thuật cơ sở lý thuyết Khu vực học và khối dữ liệu thực địa về lịch sử di dân 17 vị Tiên công Thăng Long cùng hệ thống phong tục tập quán vùng đảo Hà Nam.
  • Chương 4: Hệ thống đánh giá hiện trạng và nhóm giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển, quy hoạch không gian liên vùng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguồn gốc cư dân khai khẩn vùng đảo Hà Nam (thị xã Quảng Yên) được văn bản xác định như thế nào? Cư dân khai khẩn đảo Hà Nam có nguồn gốc từ kinh thành Thăng Long và vùng đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình. Trong đó, dấu mốc nổi bật là vào năm 1434 (thời vua Lê Thái Tông), 17 vị Tiên công quê ở huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức (kinh thành Thăng Long) đã xuôi thuyền theo sông Hồng ra cửa biển khai hoang, đắp đê lấn biển lập làng theo phương thức tập thể và phương thức thủ lĩnh.

  2. Thị xã Quảng Yên sở hữu những đặc điểm địa hình và tài nguyên đất đai nào? Thị xã có diện tích 31.420 ha, chia làm hai vùng địa hình: đồi núi thấp (chiếm 60% diện tích ở vùng Hà Bắc) và đồng bằng thấp trũng ven biển (vùng Hà Nam). Tài nguyên đất gồm 5 nhóm: đất cát (629,21 ha), đất mặn (6.956,48 ha, chiếm 22,19%), đất phèn (4.908,65 ha, chiếm 15,66%), đất phù sa (1.008,73 ha, chiếm 3,2%) và đất đỏ vàng ở vùng đồi núi.

  3. Tác giả sử dụng khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận chính nào trong luận án? Luận án vận dụng khung lý thuyết Khu vực học (Area Studies), trọng tâm là trường phái không gian lịch sử - văn hóa kết hợp với hướng nghiên cứu không gian phát triển hiện đại. Phương pháp tiếp cận chủ đạo là liên ngành, kết hợp điền dã dân tộc học, thống kê, phân tích, tổng hợp tư liệu thư tịch và tư liệu lưu trữ.

  4. Vai trò chức năng của đô thị Quảng Yên có sự thay đổi ra sao qua các thời kỳ lịch sử? Thời phong kiến, Quảng Yên vừa là đô thị thương mại vừa là thủ phủ chính trị của vùng duyên hải Đông Bắc. Thời Pháp thuộc, Quảng Yên biến đổi thành đô thị hành chính - quân sự thuộc địa. Sau năm 1955, trung tâm tỉnh chuyển dịch khiến Quảng Yên có thời gian phát triển chậm lại, trước khi được tái lập thị xã năm 2011 và hướng tới trở thành đô thị động lực trong trục Hải Phòng - Quảng Yên - Hạ Long.

  5. Nguồn nước ngọt chính phục vụ đời sống và sản xuất tại thị xã Quảng Yên được cung cấp từ đâu? Nguồn nước ngọt lớn nhất của thị xã là hồ thủy lợi Yên Lập (thuộc phường Minh Thành) với dung tích thường xuyên 127,5 triệu m³ (dung tích hữu ích 113,2 triệu m³) và hệ thống kênh chính dài 28,4 km, cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho thị xã và các khu vực lân cận của Uông Bí, Hải Phòng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến nay" của tác giả Phạm Thị Thu Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu toàn diện quá trình biến đổi của thị xã Quảng Yên trên các bình diện thể chế, kinh tế, xã hội, văn hóa và không gian đô thị. Thông qua việc vận dụng phương pháp tiếp cận Khu vực học liên ngành, tác giả đã làm rõ bản sắc lịch sử - văn hóa của vùng đất cửa sông Bạch Đằng, đồng thời đánh giá khách quan các giai đoạn phát triển từ thời thuộc địa đến nay. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác quy hoạch phát triển bền vững kinh tế - xã hội địa phương trong mối liên kết vùng Đông Bắc.