đặt vấn đề tiếp cận Quảng Yên như một Khu vực để nghiên cứu một cách tổng hợp, toàn diện về khu vực này. Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu khu vực học để làm rõ quá trình phát triển của không gian lịch sử - văn hóa Quảng Yên; từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị và những giải pháp xây dựng một đô thị Quảng Yên hiện đại, phát triển bền vững. Một số khái niệm Phát triển bền vững Theo Luật Bảo vệ môi trường, “phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” [146]. Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và nâng cao được chất lượng môi trường sống [47]. Đô thị và đô thị hóa Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực 20 z kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn [147]. Trong phát triển đô thị, quá trình biến đổi có ý nghĩa quan trọng nhất là đô thị hóa. Đô thị hóa là quá trình biến đổi xã hội về mặt hình thái cư trú và sản xuất xã hội, từ xã hội ít văn minh đến hình thái xã hội văn minh hơn, từ sản xuất phân tán, nông nghiệp là chủ yếu lên hình thái tập trung và sản xuất công nghiệp, dịch vụ là chủ yếu.
Đô thị hóa mang tính xã hội và phụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất [108, tr 23]. Có nhiều quan điểm cho rằng đô thị hóa càng nhanh càng tốt, càng thúc đẩy được sự phát triển của xã hội. Nhưng chúng ta đều biết rằng đô thị hóa là một tiến trình rất phức tạp, bao gồm những đổi thay cơ bản trong lực lượng sản xuất, trong sự phân bố dân cư, dân số, trong kết cầu nghề nghiệp, trong lối sống, trong văn hóa. Về khía cạnh sinh thái nhân văn thì đô thị hóa là một quá trình chuyển động làm thay đổi lối sống và cảnh quan của một hệ thống quần cư từ hệ sinh thái nông thôn sang hệ sinh thái kinh tế xã hội đô thị.
Về khía cạnh văn hóa thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi văn hóa nông thôn thành văn hóa đô thị. Về khía cạnh kinh tế thì đô thị hóa là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội có quan hệ biện chứng với nhau. Phát triển kinh tế là điều kiện cần để đô thị hóa, trong đó phát triển công nghiệp được coi là tiền đề của đô thị hóa.
Trong thời đại hiện nay, đô thị hóa có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến việc tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đô thị hóa làm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đô thị và nền kinh tế quốc dân. Quá trình đô thị hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản (đặc biệt là sự phát triển 21 z công nghiệp và dịch vụ). Cơ chế chính sách cho phát triển đô thị, năng lực quản lí đô thị là những yếu tố rất quan trọng.
Phát triển đô thị bền vững Phát triển đô thị bền vững là sự cụ thể hoá và phát triển của khái niệm phát triển bền vững. Từ đó, có thể hiểu phát triển đô thị bền vững là sự phát triển đô thị hài hoà về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến lợi ích của các thế hệ tương lai. Nội dung phát triển đô thị bền vững nhấn mạnh việc giải quyết các mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên trong quá trình phát triển đô thị. Quan điểm phát triển bền vững được xem xét trên các khía cạnh khác nhau.
Một đô thị là bền vững khi nó đồng thời bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường và trong quan hệ bền vững với vùng ngoại vi của nó. Có thể xem phát triển đô thị bền vững như là sự phát triển cân đối, hài hoà giữa các ngành, các lĩnh vực và lãnh thổ. Các nhà sinh thái xem xét vấn đề phát triển bền vững trên theo khía cạnh bảo tồn, tiết kiệm tài nguyên, duy trì hệ sinh thái tự nhiên. Các nhà xã hội học coi trọng vấn đề phát triển ổn định vì con người, vì công bằng xã hội và giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị.
Phát triển đô thị bền vững có liên quan đến các mô hình đô thị với các hướng tiến bộ khác nhau. Trong một đô thị, có ba loại hình môi trường khác nhau cùng tồn tại: môi trường vật chất (tự nhiên và xây dựng), môi trường kinh tế và môi trường xã hội. Cả ba loại hình này cần phải cùng được xem xét, bởi vì chúng quan hệ rất chặt chẽ với nhau, hoặc đại diện hoặc cùng lúc biểu thị các mục tiêu, phương tiện và khó khăn tới các hoạt động của con người trong đô thị. Một đô thị được coi là bền vững khi tổng hiệu quả tốt của ba hình thái môi trường lớn hơn tổng của các hậu quả xấu.
Cơ sở lí thuyết nghiên cứu Khu vực học (area studies) ra đời tại Hoa Kỳ khoảng trước và trong Chiến tranh Thế giới II, phát triển không ngừng để trở thành một phương pháp nghiên cứu ưu việt trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn nửa cuối của thế kỷ XX. Vượt ra khỏi biên giới nước Mỹ, Khu vực học được giảng dạy và áp dụng trong nghiên cứu ở nhiều trung tâm học thuật trên thế giới và được đánh giá là thành công lớn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hiện đại [123, tr. Khu vực học, trước hết với tính chất là một phương thức tổ chức nghiên cứu đa ngành (multi-disciplinary studies), sau đó đã phát triển thành một định hướng nghiên cứu liên ngành (inter-disciplinary studies). Từ định hướng mục tiêu chung của một khoa học liên ngành nhằm đưa lại những nhận thức tổng quát về một khu vực/ một không gian lịch sử - văn hóa xác định, Khu vực học đã phát triển thành những trường phái khác nhau như: khu vực học gắn với đất nước học, khu vực học dựa trên lý thuyết địa - chính trị, trường phái không gian lịch sử - văn hóa… - Khu vực học gắn với đất nước học: Đây thực chất là một bước phát triển mới của môn đất nước học nhằm đưa lại nhận thức tổng quát về một quốc gia – dân tộc cụ thể.
Hướng phát triển này khá thịnh hành bởi nó trực tiếp phục vụ cho mục đích quảng bá hình ảnh của các quốc gia; là cách tổ chức nghiên cứu tổng hợp về nước ngoài của một số nước; cao hơn cả là tạo nền tảng để hình thành môn quốc học tại một số nước. Các trụ cột của môn đất nước học là lịch sử, địa lý nhân văn, ngôn ngữ, văn hóa và du lịch học. - Khu vực học dựa trên lý thuyết địa – chính trị: Trường phái nàu chủ yếu phát triển ở Tây Âu và một số cơ sở ở Bắc Mỹ. Theo đó, thế giới được chia thành những khu vực địa – chính trị rộng lớn, như Tây Âu, Đông Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á, Đông Á.
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tiếp cận địa lý, văn hóa chính trị, ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử, nhằm chỉ ra những nét tương 23 z đồng trong văn hóa, dân cư và nhất là định hướng phát triển. Trường phái này, ở những thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XX phát triển thành hai xu hướng khá thịnh hành: chính trị học quốc tế dựa trên nghiên cứu so sánh và toàn cầu học. - Trường phái không gian lịch sử - văn hóa: Trường phái này cho rằng “khu vực” chính là những không gian văn hóa – lịch sử có chủ thể xác định là những cộng đồng người cụ thể, với những đặc trưng và một bản thể/bản sắc văn hóa nào đó. Vì vậy, mục tiêu của Khu vực học là thông qua các nghiên cứu liên ngành, có tính thực chứng cao, làm sáng tỏ những đặc trưng văn hóa – lịch sử và bản sắc văn hóa đặc trưng của không gian nghiên cứu.
Trường phái này sớm hình thành ở Mỹ và phát triển rất mạnh ở Nhật Bản, trở thành một mô hình nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận liên ngành, với sự hỗ trợ của nhiều kĩ thuật nghiên cứu, phân tích hiện đại. Trường phái này có ưu điểm nổi bật là đưa lại nhận thức vừa tổng quát, vừa cụ thể, thực chứng về những vùng, tiểu vùng và không gian phát triển cụ thể. Kết quả nghiên cứu, vì vậy có tính thuyết phục và ứng dụng cao hơn. Đến cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, Khu vực học đã phát triển lên một tầm cao mới.
Bước chuyển này trước hết xuất phát từ mục tiêu của Khu vực học. Nếu như trước đây, Khu vực học đặt mục tiêu là đưa lại nhận thức tổng quát về một không gian lịch sử - văn hóa nào đó thì bây giờ hướng tới mục tiêu hàng đầu là ứng dụng những nhận thức tổng quát đó vào việc giải quyết hàng loạt các vấn đề có độ phức hợp cao đang đặt ra trong thực tiễn phát triển bền vững của các khu vực. Khu vực giờ đây không còn chỉ là một không gian lịch sử - văn hóa mà còn là, và trước hết là một không gian phát triển.