Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Khảo cổ học (mã số: 9.17) của nghiên cứu sinh Vũ Tiến Đức, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Gia Đối và PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử, có tiêu đề: "Các di tích thời đại Đá mới ở hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông nằm ở khu vực phía Nam Tây Nguyên, được chia tách từ tỉnh Đắk Lắk cũ vào năm 2004. Đây là địa bàn cư trú của gần 50 tộc người, trong đó có 4 tộc người tại chỗ gồm Êđê, J’rai, M’nông và Mạ. Từ phát hiện đầu tiên của Georges Condominas vào năm 1949 đến nay, hơn 100 địa điểm khảo cổ học tiền sử đã được ghi nhận trên địa bàn, trong đó các địa điểm thuộc thời đại Đá mới (Neolithic) chiếm tới 100 địa điểm. Thời đại Đá mới ghi nhận bước chuyển biến về kỹ thuật mài, làm đồ gốm và sự xuất hiện của kinh tế sản xuất.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: mặc dù nguồn tư liệu phong phú, phần lớn các công bố trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ thông báo phát hiện hoặc báo cáo khai quật riêng rẽ tại một số ít di tích được đào thám sát hay khai quật hạn chế. Diễn trình phát triển, đặc trưng văn hóa của từng giai đoạn cũng như mối quan hệ giữa các nhóm cư dân thời đại Đá mới tại Đắk Lắk, Đắk Nông với nhau và với các vùng lân cận chưa được tổng hợp và phân tích hệ thống. Bên cạnh đó, hoạt động canh tác cây công nghiệp diện rộng cùng các dự án xây dựng hồ thủy điện, thủy lợi tại Tây Nguyên đang đe dọa trực tiếp và làm phá hủy nhiều di tích, đòi hỏi nghiên cứu khảo cổ học phải được tiến hành khẩn cấp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phác dựng bức tranh lịch sử văn hóa thời đại Đá mới tại tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông trong dòng chảy chung của lịch sử dân tộc.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa tư liệu và kết quả nghiên cứu về thời đại Đá mới tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Đắk Nông.
  2. Tìm hiểu đặc trưng cơ bản, tính chất, niên đại, chủ nhân, các giai đoạn phát triển thời đại Đá mới ở hai tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông, góp phần làm rõ đặc tính địa phương và con đường phát triển của thời đại Đá mới ở vùng này.
  3. Phân tích so sánh các di tích và di vật tiêu biểu thời đại Đá mới ở tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông với các di tích xung quanh nhằm phác thảo đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tổ chức xã hội của cư dân thời đại Đá mới vùng này, cũng như đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa của thời đại Đá mới tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông trong bối cảnh rộng hơn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các di tích và di vật thời đại Đá mới đã phát hiện trên địa bàn hai tỉnh. Nhóm di tích Trung kỳ Đá mới gồm các điểm tiêu biểu: Buôn Kiều, Buôn Hằng Năm, Hố Tre (Đắk Lắk); Thôn Tám, Tân Lập, các hang động núi lửa Krông Nô như hang C6-1, hang C6’ (Đắk Nông). Nhóm di tích Hậu kỳ Đá mới tiêu biểu gồm: Buôn Triết, T’Sham A, Cư K’tur, Dhă Prông (Đắk Lắk); Đồi Chợ, Nghĩa Trang, Suối Ba (Đắk Nông). Ngoài ra, luận án tham khảo tư liệu so sánh tại các tỉnh Tây Nguyên còn lại, vùng duyên hải Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ.
  • Phạm vi không gian: Địa giới hành chính tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông hiện nay, có mở rộng liên hệ so sánh với các khu vực tiếp giáp.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào thời đại Đá mới, khung niên đại khởi đầu từ khoảng 10.000 năm cách ngày nay (BP).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Quá trình nghiên cứu khảo cổ học thời đại Đá mới tại Đắk Lắk và Đắk Nông được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn trước năm 1975:

  • Năm 1949, Georges Condominas phát hiện 11 thanh đá tại làng Sar Luk (nay thuộc xã Krông Nô, huyện Lắk, Đắk Lắk), đặt tên là bộ đàn đá Ndut Lieng Krak, cùng một công cụ ghè đẽo kiểu Bắc Sơn. G. Condominas xếp niên đại bộ đàn đá tương đương văn hóa Bắc Sơn (~8.000 năm BP). Tuy nhiên, các học giả như L. Bezacier hay O. Janse nhận định hiện vật này thuộc cuối giai đoạn Hậu kỳ Đá mới.
  • Năm 1974, Viện Khảo cổ học thám sát di chỉ Draixi (huyện Cư M’gar, Đắk Lắk) với hố đào 4,5 m², tìm thấy 1 cuốc đá, 2 dầm đá, 1 rìu vai xuôi, 1 bàn mài và 45 mảnh gốm, chứng minh dấu tích nông nghiệp dùng cuốc Hậu kỳ Đá mới (~3.000 - 3.500 BP).

Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2019: Khảo cổ học khu vực được đẩy mạnh qua Chương trình nghiên cứu Trường Sa - Tây Nguyên - Nam Bộ (1993 - 2000) và Chương trình điều tra cơ bản Khảo cổ học Tây Nguyên - Nam Bộ (2001 - 2004). Đến năm 2019, đã ghi nhận 100 địa điểm thời đại Đá mới (Đắk Lắk: 35 điểm, Đắk Nông: 65 điểm), trong đó có 16 địa điểm đã được thám sát, khai quật có địa tầng:

  • Di chỉ Buôn Triết (huyện Lắk): Thám sát năm 1993, khai quật năm 1994, thu được cuốc đá, rìu có vai, bôn hình răng trâu, rìu tứ giác, 2 mộ vò úp miệng, 2 bát chân cao, 3 dọi xe chỉ và gốm khắc vạch kết hợp in chấm, làm cơ sở đề xuất xác lập văn hóa Buôn Triết.
  • Di chỉ Đồi Nghĩa Trang (huyện Đắk R’lấp): Khai quật năm 1995 (30 m²), tầng văn hóa dày 0,35 - 0,75 m, thu được 2 rìu tứ giác, 2 phác vật rìu, 1 mảnh vòng tay, 24 bàn mài và 1.250 mảnh gốm.
  • Di chỉ Dhă Prông (TP. Buôn Ma Thuột): Thám sát năm 2001, khai quật năm 2002, tầng văn hóa dày 0,4 m có 9 bếp, 2 mộ táng, 335 hiện vật đá gồm công cụ hình mai mực, rìu chuôi nhọn, rìu hình thang bằng đá basalt mài lan thân.
  • Di chỉ xưởng Cư K’tur (huyện Ea Kar): Khai quật năm 2002, tầng văn hóa dày 0,7 m chia hai mức laterit hóa; thu thập hơn 300 đồ đá, hơn 1 vạn mảnh tước, rìu bôn có eo, rìu bôn hình thang dài và rìu bôn có vai bằng đá opal, phiến sét, phtanite.
  • Các di chỉ vệ tinh xưởng T’Sham A, Thanh Sơn, Bản Thái (huyện Ea Kar): Phát hiện và thám sát năm 2000 - 2002, cung cấp bằng chứng về chuỗi khai thác nguyên liệu đá opal, ghè tạo phác vật sơ chế và hoàn thiện công cụ.
  • Cụm di chỉ Thôn Tám (huyện Cư Jút): Phát hiện năm 2005, khai quật năm 2006 và 2013 (tổng diện tích 92 m²), thu thập 15.863 di vật đá (178 công cụ) và 469 mảnh gốm trên 13 gò đất đầm Sương Mù; nhận định đây là di chỉ cư trú - xưởng đá Trung kỳ Đá mới niên đại khoảng 5.000 BP mang kỹ nghệ hậu Hòa Bình.
  • Cụm di chỉ Buôn Kiều và Buôn Hằng Năm (huyện Krông Bông): Khai quật Buôn Kiều năm 2015 (67 m²), thu 1.576 hiện vật đá, đồ gốm; niên đại C14 khoảng 4.200 BP. Thám sát Buôn Hằng Năm thu 18.025 di vật đá. Cả hai đại diện cho cơ tầng bản địa sau Hoabinhian.
  • Di tích Suối Ba (huyện Đắk R’lấp): Phát hiện năm 2006, xử lý mộ chum năm 2010 (chum chứa 12 công cụ, 1 phác vật, 20 viên cuội kê trên 3 viên cuội tam giác), phúc tra năm 2013 ghi nhận nhiều bàn mài, vòng tay, khuyên tai đá.
  • Di tích hang động núi lửa Krông Nô (hang C6-1, hang C6’): Khai quật từ năm 2017 đến 2019, phát hiện tầng văn hóa dày chứa công cụ cuội ghè hai mặt, bếp lửa, cụm đá xếp và các cụm mộ táng cổ.
  • Các di tích thám sát năm 2018 - 2019: Hố Tre (Krông Ana), Tân Lập (Đắk Mil) thuộc Trung kỳ Đá mới; Rừng Lạnh (Đắk Song) thuộc Hậu kỳ Đá mới.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án tập trung giải quyết 4 vấn đề tồn tại trong học giới:

  1. Xác lập không gian phân bố, nội hàm văn hóa của các nhóm di tích và kiểm chứng các giả thuyết về văn hóa Buôn Triết, đới văn hóa Buôn Ma Thuột, văn hóa Taipêr.
  2. Bổ sung nguồn tài liệu phân tích niên đại tuyệt đối, nhân chủng, trầm tích và môi trường cổ nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu phục dựng đời sống kinh tế - xã hội.
  3. Phân tách ranh giới và mối liên hệ giữa Trung kỳ Đá mới và Hậu kỳ Đá mới, làm rõ cơ tầng phát triển bản địa tại chỗ.
  4. Làm sáng tỏ bản chất các mối giao lưu văn hóa giữa lưu vực sông Srêpốk với vùng duyên hải Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem hoạt động sản xuất vật chất là nền tảng của sự phát triển xã hội; vận dụng quan điểm phân kỳ thời đại lịch sử của Ph. Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (thời đại Mông muội và Dã man với 3 giai đoạn thấp - giữa - cao, tương ứng từ Trung kỳ Đá mới, Hậu kỳ Đá mới đến Sơ kỳ Kim khí).
  • Thuyết sinh thái văn hóa (Julian Steward và Leslie White): Xem văn hóa là sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên thông qua mối quan hệ "kỹ thuật - môi trường".
  • Lý thuyết hình thái kinh tế khai thác và cư trú của Lewis Binford: Phân biệt hệ sinh thái phổ tạp (chỉ số đa dạng sinh học cao) tương ứng với hình thái kinh tế khai thác khái thực (Forager - di chuyển thường xuyên, khai thác phổ rộng, không tích trữ nhiều) và hệ sinh thái chuyên biệt tương ứng với hình thái khái tập (Collector - cư trú lâu dài, tích trữ lương thực, săn bắt chuyên biệt). Nguyễn Gia Đối đã vận dụng mô hình này vào nghiên cứu tiền sử nhiệt đới Việt Nam.
  • Lý thuyết mô hình tiến triển chính trị - xã hội của Elman Service: Phân chia các nấc thang phát triển xã hội gồm: Nhóm người di động săn bắt - hái lượm (Bầy đàn / Band), Xã hội phân tầng (Bộ lạc / Tribe / Segmentary societies), Tù trưởng quốc (Chiefdom), và Nhà nước sơ khai (Early State), dựa trên 8 tiêu chí phân lập (bản dịch của Đặng Văn Thắng, Lê Long Hổ, Trần Hạnh Minh Phương từ tài liệu của Colin Renfrew và Paul Bahn).

Phương pháp nghiên cứu

  • Cách tiếp cận: Tiếp cận chuyên ngành khảo cổ học kết hợp tiếp cận liên ngành (địa - khảo cổ, địa - văn hóa, khảo cổ - nhân học so sánh, ngôn ngữ - tộc người) và tiếp cận đồng đại - lịch đại.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát, điều tra, thám sát và khai quật khảo cổ học tại Ea Súp, Buôn Đôn, Hố Tre, cụm hang núi lửa Krông Nô, Đắk Mil, Đắk Song, Cư Jút, Đắk G’long, Suối Ba, Rừng Lạnh, Tân Lập, hang C6-1 và hang C6’.
  • Phương pháp chỉnh lý và xử lý hiện vật: Đo đạc, vẽ kỹ thuật, chụp ảnh, miêu tả hình thái; thống kê, phân loại loại hình học đối với công cụ đá và đồ gốm.
  • Phương pháp khoa học tự nhiên: Định tuổi tuyệt đối bằng Carbon phóng xạ (C14, AMS), phân tích độ từ cảm, phân tích thành phần thạch học lát mỏng, phân tích bào tử phấn hoa, phân tích hàm lượng hóa học và vi sinh trong đất trầm tích.
  • Phương pháp dân tộc học so sánh: Đối chiếu tư liệu khảo cổ với phương thức canh tác rẫy luân canh và cơ cấu buôn/bon truyền thống của các tộc người bản địa Êđê, J’rai, M’nông, Mạ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Nguồn tư liệu bao gồm 100 địa điểm khảo cổ thời đại Đá mới trên địa bàn hai tỉnh, trong đó có 16 địa điểm đã thám sát, khai quật có tầng văn hóa; sưu tập hiện vật lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk, Bảo tàng tỉnh Đắk Nông, Viện Khảo cổ học; tư liệu điều tra từ Đề tài khoa học cấp Nhà nước Tây Nguyên 2016 - 2020 (mã số TN17/T06); 108 tài liệu tham khảo tiếng Việt và 15 tài liệu tiếng nước ngoài.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tư liệu

Chương 1 hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, bối cảnh văn hóa - xã hội và lịch sử nghiên cứu khảo cổ học tại địa bàn:

  • Địa lý tự nhiên: Khu vực nghiên cứu có tổng diện tích 19.640,97 km² (Đắk Lắk: 13.125,37 km², Đắk Nông: 6.515,60 km²), tọa độ địa lý 11°45’45” - 13°25’06” vĩ độ Bắc, 107°12’06” - 108°59’37” kinh độ Đông. Địa hình gồm 3 dạng: vùng núi cao (đỉnh Chư Yang Sin cao 2.442 m, Chư H’mu 2.051 m, Chư Djê 1.793 m, Nam Nung 1.505 m, Tà Đùng 1.982 m); vùng cao nguyên (cao nguyên Buôn Ma Thuột và M’drắk cao 400 - 500 m, cao nguyên Đắk Nông cao trên 800 m); vùng trũng thấp dọc thung lũng sông (độ dốc 0 - 3°, cao 160 - 300 m).
  • Cấu tạo địa chất: Trải qua 4 giai đoạn phát triển chính:
    1. Giai đoạn bể rìa thụ động: Hệ tầng Đray Linh ($J_1đl$, 201,3 - 174,1 triệu năm BP) và Hệ tầng La Ngà ($J_2ln$, 174,1 - 163,5 triệu năm BP) chứa cuội kết, cát kết, bột kết bị biến chất nhiệt động tạo thành đá quarzit, cát kết dạng quarzit, đá sừng, đá silic.
    2. Giai đoạn rìa lục địa tích cực: Phức hệ Định Quán ($J_3đq$), Đèo Cả ($Kđc$), Cà Ná ($K_2cn$) cung cấp đá mạch aplit, đá thạch anh (quartz).
    3. Giai đoạn phun trào basalt lục địa: Hệ tầng Túc Trưng ($N_2-Q_1tt$, 5,333 - 0,781 triệu năm BP) và Hệ tầng Xuân Lộc ($Q_1^2xl$, 0,781 - 0,126 triệu năm BP) gồm basalt olivin-augit đặc xít và các ổ đá opal-chalcedon sắc cạnh.
    4. Trầm tích Đệ tứ (Q): Nguồn tảng cuội aluvi, deluvi, eluvi cung cấp nguyên liệu chế tác đá phong phú.
  • Thủy văn và 7 tiểu vùng địa lý: Ba hệ thống sông chính gồm sông Srêpốk (lưu vực tại Đắk Lắk: 10.400 km², Đắk Nông: 3.120 km²; hợp lưu từ sông Krông Nô và Krông Ana), sông Ba và thượng nguồn sông Đồng Nai (suối Đắk N’rung dài 90 km, suối Đắk R’lấp, suối Đắk R’Tih). Bảy tiểu vùng địa lý gồm: núi cao Cư Yang Sin, núi thấp Cư Dju, cao nguyên Buôn Ma Thuột, cao nguyên M’drắk, cao nguyên Đắk Nông, vùng trũng Krông Pắk - Lắk và bán bình nguyên Ea Súp.
  • Môi trường vi khí hậu hang động núi lửa Krông Nô: Lòng hang mát mẻ, độ ẩm ổn định, nồng độ Canxi trong trầm tích đạt 90%, mật độ vi sinh vật thấp, tạo điều kiện bảo tồn nguyên vẹn di cốt xương răng động vật và vỏ nhuyễn thể.
  • Bối cảnh tộc người: 4 tộc người bản địa gồm Êđê, J’rai (ngữ hệ Nam Đảo / Malayo-Polynesian), M’nông và Mạ (ngữ hệ Nam Á / Môn-Khmer). Đơn vị cư trú là buôn/bon, kinh tế làm rẫy luân canh kết hợp săn bắt hái lượm.
  • Lịch sử nghiên cứu: Ghi nhận 100 địa điểm thời đại Đá mới (14 điểm Trung kỳ, 86 điểm Hậu kỳ); nêu bật kết quả thám sát, khai quật tại 16 di tích tiêu biểu gắn với tầng văn hóa.

Chương 2: Đặc điểm thời đại Đá mới tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông

Chương 2 phân tích đặc điểm di tích, địa tầng, di vật và niên đại của hai giai đoạn phát triển chính:

1. Giai đoạn Trung kỳ Đá mới

  • Không gian phân bố: Gồm 14 di tích, tập trung tại lưu vực sông Srêpốk. Nhóm ngoài trời gồm 6 di tích: Buôn Kiều, Buôn Hằng Năm, Buôn Ea Chổ, Hố Tre, Thôn Tám, Tân Lập. Nhóm trong hang động núi lửa gồm 8 hang thuộc hệ thống Krông Nô: hang C1, C1-1, C3, C4, C4-1, C6, C6-1, C6’. Cư dân cư trú phân tán thành các cụm điểm gò đồi thấp ven sông suối hoặc trong vòm hang núi lửa basalt.
  • Cấu tạo địa tầng tại 7 di tích tiêu biểu:
    • Thôn Tám: Tầng văn hóa dày 0,5 m, đất sét nâu lẫn đá basalt xốp, silic, chert và sỏi cát kết.
    • Buôn Kiều: Tầng văn hóa dày 0,2 - 0,4 m, đất basalt phong hóa màu nâu xám, nâu vàng, kết cấu cứng.
    • Buôn Hằng Năm: Tầng văn hóa dày 0,55 - 0,75 m gồm hai lớp: lớp đất màu nâu đỏ dày 0,1 - 0,25 m và lớp đất đỏ basalt dày 0,3 - 0,5 m rắn chắc.
    • Tân Lập: Tầng văn hóa dày 0,2 - 0,5 m, đất phong hóa màu vàng nhạt lẫn hạt laterit nhỏ.
    • Hố Tre: Tầng văn hóa dày 0,4 - 0,45 m, đất laterit hiện đại màu vàng nhạt xen lẫn đất xám đen.
    • Hang C6-1: Trầm tích nhân sinh dày 1,85 m chia 2 lớp văn hóa: Lớp trên (dày 0,35 - 0,4 m) chứa công cụ cuội ghè đẽo, chày nghiền, bàn mài, công cụ xương mài nhọn, 1 mũi tên đồng, gốm đất nung; Lớp dưới (dày ~1,5 m) chứa công cụ cuội ghè hai mặt hình bầu dục, nạo hình đĩa, rìu ngắn, hòn ghè, chày, hòn kê.
    • Hang C6’: Cấu trúc đá xếp gồm 2 lớp đá basalt xen kẽ 2 lớp đất tro xám mịn nhân tạo.
  • Các dấu tích trong tầng văn hóa:
    • Cụm đá xếp tập trung (ngoài trời): Phát hiện 11 cụm tại Thôn Tám và 1 cụm tại Hố Tre (diện tích 0,5 - 1 m²), gồm tảng đá kê/đe va đập cơ học, đá nguyên liệu, phác vật và mảnh tước, minh chứng cho hoạt động chế tác đá tại chỗ.
    • Cụm đá xếp hình tròn (hang động): Hang C6’ có 3 cụm đá xếp hình tròn đường kính 1,5 - 2 m, cao 1 m; Hang C6-1 có cụm đá xếp tròn đường kính 60 cm, sâu 12 - 17 cm, đáy dạng lòng chảo chứa tro xám trắng.
    • Bếp lửa: Khai quật được 5 bếp lửa ở lớp văn hóa trên hang C6-1, đường kính 45 - 60 cm, dạng lòng chảo chứa than tro, xương động vật cháy xém, vỏ nhuyễn thể, công cụ đá và mảnh gốm.
    • Mộ táng: Hang C6-1 ghi nhận 3 mộ táng cổ có niên đại C14 là 5.945 BP (hiệu chỉnh ~6.800 cal BP). Táng thức nằm co bó gối (mộ 18.M2, 18.M3) hoặc ngồi co bó gối (mộ 18.M1), mặt hướng về phía cửa hang. Trên mộ 18.M2 có lớp đất cao lanh nhân tạo che phủ. Ven các mộ phát hiện 5 mảnh vỏ ốc Sứ (Cypraeidae) nguồn gốc biển.
  • Kỹ nghệ di vật: Đặc trưng bởi kỹ nghệ ghè đẽo hai mặt kiểu hậu Hòa Bình, chế tạo công cụ hình bầu dục, rìu ngắn, nạo hình đĩa, rìu mài lưỡi, công cụ xương; đồ gốm thô xuất hiện hạn chế; chưa có kỹ thuật mài toàn thân. Niên đại giai đoạn dao động từ 7.000 đến trên 4.000 BP.

2. Giai đoạn Hậu kỳ Đá mới

  • Quy mô và di tích: Gồm 86 địa điểm, phân bố mở rộng lên các đồi basalt, bồn địa cao nguyên. Tiêu biểu là Buôn Triết, Dhă Prông, Cư K’tur, T’Sham A, Thanh Sơn, Bản Thái, Suối Ba, Đồi Nghĩa Trang, Rừng Lạnh.
  • Kỹ nghệ công cụ: Kỹ thuật mài toàn thân phát triển hoàn thiện. Loại hình đa dạng gồm rìu tứ giác mài nhẵn, rìu/bôn có vai, bôn răng trâu, đục, bàn mài đa dạng dạng rãnh/lõm; các loại cuốc đá đặc thù (cuốc hình mai mực ở Dhă Prông, cuốc vai nhọn thắt eo ở Buôn Triết).
  • Hệ thống công xưởng chế tác: Phân hóa chuyên môn cao với cụm công xưởng Ea Kar (Bản Thái, Thanh Sơn là nơi khai thác đá opal và sơ chế phác vật; Cư K’tur là xưởng chế tác lớn với hơn 1 vạn mảnh tước; T’Sham A tiếp nhận phác vật để tu chỉnh hoàn thiện).
  • Đồ gốm và táng thức: Gốm có xương mịn pha cát nhỏ, trang trí hoa văn khắc vạch kết hợp văn thừng, văn in chấm ô vuông, miết láng; xuất hiện dọi xe chỉ (Buôn Triết), đồ trang sức vòng tay, khuyên tai đá (Suối Ba); táng thức xuất hiện mộ vò úp miệng nhau (Buôn Triết) và mộ chum kê cuội (Suối Ba). Niên đại dao động từ khoảng 4.000 đến 3.000 BP.

Bảng tổng hợp các di tích khảo cổ học tiêu biểu có địa tầng

Di tích Vị trí địa lý Phân kỳ Tầng văn hóa Di tích / Dấu vết cư trú Di vật tiêu biểu Niên đại
Thôn Tám Cư Jút, Đắk Nông Trung kỳ Đá mới Dày 0,5 m; đất sét nâu lẫn basalt, silic 11 cụm đá xếp tập trung (xưởng đá) Công cụ hình bầu dục, rìu mài lưỡi, hòn ghè, phác vật, gốm thô ~5.000 BP
Buôn Kiều Krông Bông, Đắk Lắk Trung kỳ Đá mới Dày 0,2 - 0,4 m; đất phong hóa nâu vàng Cụm di vật ven sông Công cụ ghè hai mặt hình bầu dục, hình đĩa, cuốc đá, gốm ~4.200 BP (C14)
Hố Tre Krông Ana, Đắk Lắk Trung kỳ Đá mới Dày 0,4 - 0,45 m; đất laterit hiện đại 01 cụm đá xếp tập trung Rìu ngắn, rìu bầu dục ghè đẽo basalt, hòn kê, mảnh tước, gốm thô Trung kỳ Đá mới
Hang C6-1 Krông Nô, Đắk Nông Trung kỳ Đá mới Dày 1,85 m; 2 lớp trầm tích hang núi lửa 5 bếp lửa, 1 cụm đá xếp tròn, 3 mộ táng Công cụ cuội ghè 2 mặt, nạo hình đĩa, chày nghiền, công cụ xương, vỏ ốc biển 5.945 BP (~6.800 cal BP)
Hang C6’ Krông Nô, Đắk Nông Trung kỳ Đá mới Trầm tích hang núi lửa 3 cụm đá xếp hình tròn nhân tạo Xương răng thú, vỏ nhuyễn thể, than tro 4.160±20 BP (~4.600 - 4.800 cal BP)
Dhă Prông Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk Hậu kỳ Đá mới Dày 0,4 m 9 bếp lửa, 2 mộ táng, vết thổ hoàng Rìu hình mai mực, rìu chuôi nhọn, rìu hình thang mài lan thân Hậu kỳ Đá mới
Cư K’tur Ea Kar, Đắk Lắk Hậu kỳ Đá mới Dày 0,7 m; 2 mức laterit hóa Hố đất đen, bếp lửa, cụm gốm Rìu bôn có eo, rìu bôn có vai opal, bàn đập vỏ cây, >1 vạn mảnh tước Hậu kỳ Đá mới
Buôn Triết Lắk, Đắk Lắk Hậu kỳ Đá mới Trầm tích bồn địa 2 mộ vò gốm úp miệng Rìu có vai, bôn răng trâu, cuốc vai nhọn thắt eo, bát chân cao, dọi xe chỉ Hậu kỳ Đá mới
Suối Ba Đắk R’lấp, Đắk Nông Hậu kỳ Đá mới Trầm tích đồi lượn sóng Mộ chum gốm kê trên 3 viên cuội Rìu, cuốc, đục, bàn mài phẳng/rãnh, vòng tay, khuyên tai đá Hậu kỳ Đá mới

Chương 3: Cư dân, đời sống vật chất, tinh thần và mối quan hệ văn hóa

  • Phân bố dân cư và mô thức cư trú:
    • Giai đoạn Trung kỳ: Cư dân sống thành từng nhóm nhỏ, phân tán tại các gò đất ven suối hoặc hang động núi lửa dọc lưu vực sông Srêpốk. Mô thức thích nghi mang tính chất khái thực (Forager), cư trú mang tính mùa vụ, di chuyển theo nguồn thức ăn tự nhiên.
    • Giai đoạn Hậu kỳ: Dân số gia tăng, địa bàn cư trú mở rộng chiếm lĩnh các cao nguyên đất đỏ basalt màu mỡ; xuất hiện các tụ điểm cư trú - công xưởng chế tác đá lâu dài mang tính định cư cao hơn.
  • Hoạt động kinh tế:
    • Kinh tế Trung kỳ: Khai thác tự nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối thông qua săn bắn (hươu, nai, thú nhỏ, dơi), hái lượm và thu nhặt thủy sản nước ngọt (vỏ ốc suối, cá).
    • Kinh tế Hậu kỳ: Xuất hiện kinh tế sản xuất nông nghiệp dùng cuốc (các loại cuốc đá Drai xi, Buôn Triết, Buôn Kiều) kết hợp chăn nuôi bầy đàn; thủ công nghiệp phát triển rõ rệt với nghề chế tác đá quy mô lớn, nghề làm gốm và nghề dệt vải (chứng minh qua dọi xe chỉ đất nung).
  • Tổ chức xã hội và đời sống tinh thần:
    • Chuyển biến từ các nhóm bầy đàn di động sang mô hình xã hội phân tầng / bộ lạc (Segmentary societies / Tribe) theo khung phân loại của E. Service.
    • Tục mai táng người chết trong không gian cư trú (hang C6-1) với tư thế nằm/ngồi co bó gối phản ánh ý niệm về thế giới bên kia; bước sang giai đoạn Hậu kỳ xuất hiện mộ vò (Buôn Triết) và mộ chum (Suối Ba). Đời sống tinh thần phong phú thể hiện qua đồ trang sức đá, vỏ ốc biển trang trí và sự xuất hiện của nhạc cụ âm thanh (bộ đàn đá Ndut Lieng Krak).
  • Mối quan hệ văn hóa trong bối cảnh khu vực:
    • Trong không gian Tây Nguyên: Gắn kết mật thiết giữa Bắc Tây Nguyên và Nam Tây Nguyên (sự tương đồng về rìu bôn có vai Cư K’tur với các di chỉ Biển Hồ, Lung Leng, làng Ngol).
    • Với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: Tuyến sông Ba là hành lang giao lưu kỹ thuật ghè đẽo hai mặt kiểu Buôn Kiều với văn hóa Bàu Dũ (Quảng Nam) và lớp muộn di chỉ Eo Bồng (Phú Yên).
    • Với miền Đông Nam Bộ: Hệ thống sông Đồng Nai kết nối các di tích Nam Tây Nguyên với lưu vực Đồng Nai, thể hiện qua sự đồng dạng của loại hình cuốc vai nhọn thân thắt eo Buôn Triết với hiện vật trong mộ táng Cù Lao Rùa (Bình Dương), Bình Phước và Lâm Đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu: Cập nhật, thống kê và phân loại khoa học 100 địa điểm khảo cổ thời đại Đá mới tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, cung cấp cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về tiền sử Nam Tây Nguyên.
  • Xác lập cơ tầng Trung kỳ Đá mới tại chỗ: Làm sáng tỏ sự hiện diện của cơ tầng văn hóa Trung kỳ Đá mới tại lưu vực sông Srêpốk (với kỹ nghệ ghè hai mặt kiểu hậu Hòa Bình tại Thôn Tám, Buôn Kiều, hang C6-1), khẳng định đây là nền tảng bản địa hình thành nên các nhóm văn hóa Hậu kỳ Đá mới rực rỡ sau đó, bác bỏ các giả thuyết về nguồn gốc ngoại sinh đơn thuần.
  • Ghi nhận không gian cư trú và nhân chủng trong hang động núi lửa: Khẳng định lần đầu tiên tại Việt Nam dấu tích cư trú của người tiền sử trong hệ thống hang động núi lửa basalt (Krông Nô); phát hiện các di cốt người cổ cùng táng thức nằm/ngồi co bó gối nguyên vẹn có niên đại xác thực khoảng 6.800 cal BP.
  • Phục dựng bức tranh kinh tế - xã hội: Vận dụng lý thuyết nhân học khảo cổ học hiện đại (sinh thái văn hóa, mô hình Forager/Collector, chuỗi tiến triển xã hội của E. Service) để phục dựng toàn diện mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái nhiệt đới gió mùa cao nguyên qua các giai đoạn phát triển.

Giá trị thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  • Cung cấp cơ sở khoa học và tọa độ di tích phục vụ các nhà quản lý văn hóa, quy hoạch kinh tế - xã hội nhằm khoanh vùng bảo vệ di sản khảo cổ trước sức ép từ việc mở rộng vùng trồng cây công nghiệp và xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện.
  • Cung cấp tư liệu chuẩn xác cho công tác biên soạn địa chí, lịch sử địa phương, cũng như trưng bày, bảo tồn hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk và Bảo tàng tỉnh Đắk Nông.
  • Cung cấp luận cứ khẳng định chủ quyền lịch sử và cội nguồn văn hóa bản địa lâu đời, phục vụ chính sách củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại vùng biên cương phía Tây của Tổ quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Giai đoạn Sơ kỳ Đá mới tại