Chương 1. Tổng quan tư liệu (27 trang); Chương 2. Đặc điểm thời đại Đá mới hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông (65 trang); Chương 3. Cư dân, đời sống vật chất, tinh thần và các mối quan hệ văn hóa (47 trang).
Ngoài ra, trong luận án còn có các phần: Danh mục các công trình của tác giả liên quan đến luận án; tài liệu tham khảo (108 tài liệu tiếng Việt và 15 tài liệu tiếng nước ngoài); phụ lục minh họa gồm: 1 bản đồ, 6 sơ đồ, 60 bản vẽ, và 73 bản ảnh. Những trang đầu của luận án có: Lời cam đoan, Lời cảm ơn, mục lục, bảng các chữ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ trong luận án (4 bảng, 9 biểu đồ) và danh mục các minh hoạ trong phụ lục. 9 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, văn hóa – xã hội khu vực nghiên cứu 1.
Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông là hai tỉnh ở phía Nam Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Srêpốk, sông Đồng Nai và một phần hệ thống sông Ba, nằm trong khung tọa độ địa lý: 11045'45" - 13025'06" vĩ độ Bắc, 107012’06’’ - 108059'37". Tổng diện tích khu vực nghiên cứu là 19.640,97km2 (trong đó, diện tích Đắk Lắk là 13.125,37 km2, diện tích tỉnh Đắk Nông là 6. Phía Bắc tỉnh Đắk Lắk giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 70 km. Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía Nam và tây nam tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Phước (thuộc miền Đông Nam Bộ); phía Tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới khoảng 120km.
Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự và an ninh quốc phòng của khu vực Tây Nguyên và trong cả nước; được coi như là “nóc nhà của ba nước Đông Dương”, là vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên với đồng bằng Duyên hải Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ (Bản đồ 1). * Địa hình Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông nằm sườn phía Tây Nam dãy Trường Sơn, địa hình bao gồm các ngọn núi cao hùng vĩ nối với các cao nguyên bằng phẳng rộng lớn, xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng dọc theo lưu vực các dòng sông lớn. Theo Nguyễn Văn Chiển, địa hình tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông gồm 3 dạng địa hình: địa hình vùng núi, địa hình vùng cao nguyên và địa hình vùng thấp [10]: - Địa hình vùng núi: có độ cao trung bình 1.200m, tập trung ở phía Nam và Đông Nam tỉnh Đắk Lắk; dãy núi cao phía Đông Nam tỉnh Đắk Nông qua địa phận huyện Đắk G’long và khối núi ở phía Tây tỉnh Đắk Nông, chạy dài từ 10 luan an huyện Đăk Mil, qua huyện Đăk Song, đến huyện Tuy Đức và Đăk R'lấp. Tại đây có những đỉnh núi cao như: đỉnh Chư Yang Sin cao 2.442m, Chư H’mu cao 2.051m, Chư Djê cao 1.793m, Chư Yang Pel cao 1.
(tỉnh Đắk Lắk) [101], đỉnh núi Nam Nung cao 1.505m, đỉnh Tà Đùng cao 1. - Địa hình vùng cao nguyên: bằng phẳng, rộng lớn với các cao nguyên có độ cao 400 – 500m so với mực nước biển (cao nguyên Buôn Ma Thuột, cao nguyên M’drắk) và các cao nguyên có độ cao trên 800m (cao nguyên Đắk Nông). Cao nguyên nguyên thủy cấu tạo bằng đá Basalt, bị xâm thực, bề mặt bị bào mòn và chia cắt mạnh mẽ. - Địa hình vùng trũng thấp: chủ yếu là các thềm sông phân bố dọc theo các thung lũng sông Krông Ana, sông Krông Nô, sông Srêpốk, sông Ba.
Đây là vùng thung lũng, bình nguyên bằng phẳng, có độ dốc từ 0 - 30, cao khoảng 160 – 300m. * Sơ lược đặc điểm địa chất Các thành tạo địa chất lộ ra trên tầng mặt ở các khu vực phân bố di tích thời đại Đá mới liên quan mật thiết với lịch sử phát triển địa chất từ kỷ Jura đến nay, thuộc 4 giai đoạn của lịch sử phát triển địa chất khu vực, gồm các phân vị địa chất chủ yếu sau: + Giai đoạn thành tạo bể rìa thụ động Đây là giai đoạn sụt lún của vỏ trái đất trên phạm vi rộng lớn. Đầu Jura sớm, toàn bộ khu vực lãnh thổ rộng lớn phía Đông nam châu Á bị sụt lún, hình thành bồn nội lục trên rìa lục địa thụ động hay còn gọi là bể rìa thụ động, với sự lắng đọng các trầm tích lục nguyên, được phân chia thành các phân vị địa chất chủ yếu sau: - Hệ tầng Đray Linh (J1đl, tuổi thành tạo: 201,3 - 174,1 triệu năm BP), phân bố khá phổ biến thành diện ở các huyện Cư Jut (Đắk Nông), Buôn Đôn (Đắk Lắk). Thành phần gồm: cuội kết, sạn kết, cát kết chứa Cúc đá (Ammonite), bột kết.
- Hệ tầng La Ngà (J2ln, tuổi thành tạo: 174,1 - 163,5 triệu năm BP), phân bố rất phổ biến thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở Đắk Lắk, Đắk Nông và kế cận. Thành phần chủ yếu gồm: cát bột kết, bột kết xen sét kết; và sét kết. Về quan hệ địa tầng, hệ tầng La Ngà nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Đray Linh. Cả 2 hệ tầng này đều bị các khối magma có tuổi Jura - Kreta xuyên cắt.
Tại các khu 11 luan an vực xuyên cắt, các đá của hệ tầng bị biến chất nhiệt động do tiếp xúc với các dung thể magma, tạo thành các đá quarzit, cát kết dạng quarzit, đá sừng, đá silic có độ cứng cao, được người Tiền sử ưa dùng làm đá nguyên liệu để chế tạo công cụ, phục vụ cuộc sống sinh tồn. + Giai đoạn hoạt động rìa lục địa tích cực Đây là giai đoạn hút chìm của mảng Thái Bình Dương xuống dưới khối Đông Dương nói riêng và Châu Á nói chung, tạo nên đới rìa lục địa tích cực Đà Lạt, khu vực nghiên cứu thuộc phần rìa bắc - tây bắc đới Đà Lạt, thành tạo các phân vị địa chất sau: - Phức hệ Định Quán (--J3đq, tuổi thành tạo: 163,5 - 145,0 triệu năm BP), phân bố thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở phía Đông Nam khu vực nghiên cứu (giáp với Lâm Đồng). Thành phần gồm: diorit, gabrodiorit, granitoit và các pha đá mạch aplit, thạch anh - Phức hệ Đèo Cả (K đc, tuổi thành tạo: 145,0 - 66,0 triệu năm BP) phân bố thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở phía Đông Nam khu vực nghiên cứu. Thành phần gồm: granitoid và các pha đá mạch aplit, thạch anh.
- Phức hệ Cà Ná (K2cn, tuổi thành tạo: 100,5 - 66,0 triệu năm BP) phân bố thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở phía Đông Nam khu vực nghiên cứu. Thành phần gồm: granit alaskit, granit 2 mica và các pha đá mạch aplit, thạch anh Hoạt động của các phức hệ magma này đã xuyên cắt và gây biến chất nhiệt động các đá trầm tích của hệ tầng Đray Linh và La Ngà nêu trên. Đồng thời, bản thân các phức hệ magma này cũng cho các sản phẩm là đá thạch anh (đá quart), tinh thể thạch anh, đá aplit có tính cơ lý gần giống đá silic. là các đá nguyên liệu được người Tiền sử ưa dùng để chế tạo công cụ.
+ Giai đoạn hoạt động san bằng và phun trào Basalt khuếch tán lục địa Đây là giai đoạn bắt đầu bằng quá trình xâm thực - bào mòn, tạo ra bề mặt san bằng kiểu bán bình nguyên (Paleocene - Oligocene; 66,00 - 23,03 triệu năm BP), tiếp theo là sự hình thành các bể Đệ tam và tách giãn Biển Đông; sau cùng là chế độ kiến tạo lún chìm nhiệt thống trị, chuyển động thăng trầm phân dị khối tảng là chủ 12 luan an yếu, xuất hiện phun trào rầm rộ Basalt trên toàn Tây Nguyên cũng như Đông Dương; thành tạo các phân vị địa chất sau: - Hệ tầng Túc Trưng (N2- QI tt, tuổi thành tạo: 5,333 - 0,781 triệu năm BP) phân bố thành các diện rộng lớn ở tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông. Thành phần thạch học gồm: Basalt olivin-augit, Basalt olivin-augit-plagioclas. Đá Basalt màu xám đến xám xanh, xám đen; cấu tạo khối đặc xít hoặc lỗ hổng nhỏ. Liên quan tới Basalt của hệ tầng này, trong vùng nghiên cứu phổ biến các loại đá opal-chalcedon.
- Hệ tầng Xuân Lộc (Q12xl, tuổi thành tạo: 0,781 - 0,126 triệu năm BP), phân bố rộng rãi ở các huyện Đắk Mil, Krông Nô (Đắk Nông); thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Ana (Đắk Lắk). Chúng gắn bó chặt chẽ với các cấu trúc núi lửa, miệng núi lửa còn được bảo tồn khá tốt - tốt. Thành phần thạch học gồm: Basalt olivin, Basalt olivin - augit, Basalt olivin - augit - plagioclas. Đá có dạng vi hạt hoặc ẩn tinh, màu xám, xám đen, cấu tạo khối đặc sít hoặc lỗ hổng.
Các đá Basalt đặc xít của hệ tầng Túc Trưng và Xuân Lộc có độ cứng lớn, dòn, mảnh vỡ thường sắc cạnh, dễ chế tác tạo hình; cũng như các đá opal-chalcedon (đi kèm của trong các đá Basalt) có độ cứng dòn và mảnh vỡ sắc cạnh được người Tiền sử ưa dùng để chế tác công cụ, làm các lưỡi cắt phục vụ cuộc sống sinh tồn. - Trầm tích Đệ tứ (Q). Các thành tạo trầm tích Đệ tứ (từ 2,58 triệu năm đến nay) ở khu vực nghiên cứu có sự đa dạng về nguồn gốc (như: eluvi - tàn tích, deluvi - sườn tích, proluvi - lũ tích, aluvi - bồi tích, đầm hồ) và phong phú về thành phần thạch học (gồm: tảng, cuội, dăm, sỏi sạn, cát bột, sét). Trong đó, các di tích thời đại Đá mới trong vùng nghiên cứu có đặc điểm phân bố mối liên quan mật thiết với các gò đồi (là địa hình/tàn tích của miệng núi lửa, các thềm sông suối cổ, các hang động núi lửa).
Nguồn đá nguyên liệu để chế tác công cụ là các hòn cuội tảng (nguồn gốc: eluvi, deluvi, proluvi, aluvi). Chất liệu đá nguyên liệu là các đá quarzit, cát kết dạng quarzit, đá sừng, đá phiến, cát bột kết, đá thạch anh, đá Basalt, opal-chalcedon. * Hệ thống thủy văn Mạng lưới sông ngòi khá dày đặc. Các dòng sông, suối trên địa bàn nghiên cứu chủ yếu thuộc 03 hệ thống: - Hệ thống sông Srêpốk: chảy về phía Tây, đổ vào dòng Mê Kông trên đất 13 luan an Campuchia.
Diện tích lưu vực sông Srêpốk trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là: 10.400km2, địa phận tỉnh Đắk Nông là: 3. Lưu vực sông Srêpốk chủ yếu ở khu vực phía Tây tỉnh Đắk Lắk và Tây Bắc tỉnh Đắk Nông. Sông Srêpốk do hai dòng Krông Nô và Krông Ana hợp lưu với nhau tại thác Buôn Dray (huyện Krông Na).