Luận Án Tiến Sĩ Về Di Tích Thời Đại Đá Mới Ở Đắk Lắk Và Đắk Nông

Tổng hợp kiến thức Khám Phá Di Tích Thời Đại Đá Mới Tại Đắk Lắk Và Đắk Nông, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Khảo cổ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

187
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TƯ LIỆU

1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, văn hóa – xã hội khu vực nghiên cứu

1.2. Điều kiện tự nhiên

1.3. Khái quát đặc điểm văn hóa - xã hội khu vực nghiên cứu

1.4. Quá trình phát hiện, nghiên cứu và những vấn đề đặt ra

1.4.1. Quá trình phát hiện

1.4.2. Kết quả nghiên cứu

1.4.3. Những vấn đề đặt ra

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM THỜI ĐẠI ĐÁ MỚI TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐẮK NÔNG

2.1. Giai đoạn Trung Đá mới

2.2. Đặc điểm di tích

2.3. Đặc điểm di vật

2.4. Niên đại và các giai đoạn phát triển

2.5. Giai đoạn Hậu kỳ Đá mới

2.6. Đặc điểm di tích

2.7. Đặc điểm di vật

2.8. Niên đại và các giai đoạn phát triển Hậu kỳ Đá mới

2.9. Đặc điểm thời đại Đá mới tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Tính liên tục giữa các giai đoạn thời đại Đá mới khu vực nghiên cứu

2.9.1. Đặc thù khu vực

2.10. Tiểu kết Chương II

3. CHƯƠNG 3: CƯ DÂN, ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN VÀ MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA

3.1. Phân bố dân cư

3.2. Các nhóm dân cư giai đoạn Trung kỳ Đá mới

3.3. Các nhóm dân cư giai đoạn Hậu kỳ Đá mới

3.4. Mô thức cư trú và hoạt động kinh tế

3.4.1. Mô thức cư trú và hoạt động kinh tế của cư dân Trung kỳ Đá mới

3.4.2. Mô thức cư trú và hoạt động kinh tế của cư dân Hậu kỳ Đá mới

3.5. Tổ chức xã hội và đời sống tinh thần

3.5.1. Giai đoạn Trung kỳ Đá mới

3.5.2. Giai đoạn Hậu kỳ Đá mới

3.6. Thời đại Đá mới tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông trong bối cảnh rộng hơn

3.6.1. Trong không gian Tây Nguyên

3.6.2. Với vùng duyên hải Nam Trung bộ

3.6.3. Với miền Đông Nam Bộ

3.7. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về di tích lịch sử

Di tích lịch sử tại Đắk Lắk và Đắk Nông là những chứng tích quan trọng của thời đại Đá mới. Những di tích này không chỉ phản ánh sự hiện diện của con người mà còn cho thấy sự phát triển văn hóa, xã hội của các cộng đồng cư dân trong khu vực. Các di tích này được phân bố rộng rãi, với hơn 100 địa điểm khảo cổ học đã được phát hiện. Đặc biệt, thời đại Đá mới được coi là giai đoạn phát triển đỉnh cao, với những thành tựu lớn về kỹ thuật và kinh tế sản xuất. Việc nghiên cứu các di tích này giúp hiểu rõ hơn về lịch sử văn hóa của vùng đất Tây Nguyên.

1.1. Đặc điểm địa lý và văn hóa xã hội

Đắk Lắk và Đắk Nông nằm ở phía Nam Tây Nguyên, nơi có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng. Khu vực này là mái nhà chung của gần 50 tộc người, trong đó có nhiều tộc người thiểu số. Những đặc điểm văn hóa xã hội của các tộc người này đã hình thành nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú. Nghiên cứu về các di tích thời đại Đá mới tại đây không chỉ giúp bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

II. Khám phá văn hóa thời đại Đá mới

Thời đại Đá mới tại Đắk Lắk và Đắk Nông được chia thành hai giai đoạn chính: Trung kỳ và Hậu kỳ. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng về di tích và di vật. Giai đoạn Trung kỳ Đá mới cho thấy sự phát triển của các công cụ đá, trong khi giai đoạn Hậu kỳ Đá mới phản ánh sự chuyển mình trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân. Các di tích như Buôn Kiều, Buôn Hằng Năm, và Thôn Tám là những ví dụ tiêu biểu cho sự phát triển này. Việc phân tích các di tích này giúp làm rõ hơn về mối liên hệ giữa các nhóm cư dân và sự phát triển văn hóa trong khu vực.

2.1. Đặc điểm di tích và di vật

Các di tích thời đại Đá mới tại Đắk Lắk và Đắk Nông có sự đa dạng về loại hình và cấu trúc. Di vật được tìm thấy chủ yếu là công cụ đá, gốm và các vật dụng sinh hoạt khác. Những di vật này không chỉ phản ánh kỹ thuật chế tác của cư dân mà còn cho thấy sự phát triển của kinh tế sản xuất. Việc nghiên cứu các di vật này giúp hiểu rõ hơn về đời sống vật chất và tinh thần của cư dân thời đại Đá mới, từ đó làm nổi bật giá trị văn hóa của khu vực.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu các di tích thời đại Đá mới tại Đắk Lắk và Đắk Nông không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Những thông tin thu thập được từ các di tích này có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo vệ các di sản văn hóa. Việc phát triển du lịch văn hóa cũng là một ứng dụng quan trọng, giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị lịch sử và văn hóa của khu vực.

3.1. Ứng dụng trong phát triển du lịch

Du lịch văn hóa tại Đắk Lắk và Đắk Nông có thể được phát triển dựa trên các di tích thời đại Đá mới. Việc khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử từ các di tích này không chỉ thu hút du khách mà còn góp phần nâng cao ý thức bảo tồn di sản văn hóa. Các tour du lịch có thể được thiết kế để giới thiệu về lịch sử, văn hóa và đời sống của các tộc người tại đây, từ đó tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tư liệu (27 trang); Chương 2. Đặc điểm thời đại Đá mới hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông (65 trang); Chương 3. Cư dân, đời sống vật chất, tinh thần và các mối quan hệ văn hóa (47 trang).

Ngoài ra, trong luận án còn có các phần: Danh mục các công trình của tác giả liên quan đến luận án; tài liệu tham khảo (108 tài liệu tiếng Việt và 15 tài liệu tiếng nước ngoài); phụ lục minh họa gồm: 1 bản đồ, 6 sơ đồ, 60 bản vẽ, và 73 bản ảnh. Những trang đầu của luận án có: Lời cam đoan, Lời cảm ơn, mục lục, bảng các chữ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ trong luận án (4 bảng, 9 biểu đồ) và danh mục các minh hoạ trong phụ lục. 9 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, văn hóa – xã hội khu vực nghiên cứu 1.

Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông là hai tỉnh ở phía Nam Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Srêpốk, sông Đồng Nai và một phần hệ thống sông Ba, nằm trong khung tọa độ địa lý: 11045'45" - 13025'06" vĩ độ Bắc, 107012’06’’ - 108059'37". Tổng diện tích khu vực nghiên cứu là 19.640,97km2 (trong đó, diện tích Đắk Lắk là 13.125,37 km2, diện tích tỉnh Đắk Nông là 6. Phía Bắc tỉnh Đắk Lắk giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 70 km. Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía Nam và tây nam tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Phước (thuộc miền Đông Nam Bộ); phía Tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới khoảng 120km.

Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự và an ninh quốc phòng của khu vực Tây Nguyên và trong cả nước; được coi như là “nóc nhà của ba nước Đông Dương”, là vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên với đồng bằng Duyên hải Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ (Bản đồ 1). * Địa hình Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông nằm sườn phía Tây Nam dãy Trường Sơn, địa hình bao gồm các ngọn núi cao hùng vĩ nối với các cao nguyên bằng phẳng rộng lớn, xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng dọc theo lưu vực các dòng sông lớn. Theo Nguyễn Văn Chiển, địa hình tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông gồm 3 dạng địa hình: địa hình vùng núi, địa hình vùng cao nguyên và địa hình vùng thấp [10]: - Địa hình vùng núi: có độ cao trung bình 1.200m, tập trung ở phía Nam và Đông Nam tỉnh Đắk Lắk; dãy núi cao phía Đông Nam tỉnh Đắk Nông qua địa phận huyện Đắk G’long và khối núi ở phía Tây tỉnh Đắk Nông, chạy dài từ 10 luan an huyện Đăk Mil, qua huyện Đăk Song, đến huyện Tuy Đức và Đăk R'lấp. Tại đây có những đỉnh núi cao như: đỉnh Chư Yang Sin cao 2.442m, Chư H’mu cao 2.051m, Chư Djê cao 1.793m, Chư Yang Pel cao 1.

(tỉnh Đắk Lắk) [101], đỉnh núi Nam Nung cao 1.505m, đỉnh Tà Đùng cao 1. - Địa hình vùng cao nguyên: bằng phẳng, rộng lớn với các cao nguyên có độ cao 400 – 500m so với mực nước biển (cao nguyên Buôn Ma Thuột, cao nguyên M’drắk) và các cao nguyên có độ cao trên 800m (cao nguyên Đắk Nông). Cao nguyên nguyên thủy cấu tạo bằng đá Basalt, bị xâm thực, bề mặt bị bào mòn và chia cắt mạnh mẽ. - Địa hình vùng trũng thấp: chủ yếu là các thềm sông phân bố dọc theo các thung lũng sông Krông Ana, sông Krông Nô, sông Srêpốk, sông Ba.

Đây là vùng thung lũng, bình nguyên bằng phẳng, có độ dốc từ 0 - 30, cao khoảng 160 – 300m. * Sơ lược đặc điểm địa chất Các thành tạo địa chất lộ ra trên tầng mặt ở các khu vực phân bố di tích thời đại Đá mới liên quan mật thiết với lịch sử phát triển địa chất từ kỷ Jura đến nay, thuộc 4 giai đoạn của lịch sử phát triển địa chất khu vực, gồm các phân vị địa chất chủ yếu sau: + Giai đoạn thành tạo bể rìa thụ động Đây là giai đoạn sụt lún của vỏ trái đất trên phạm vi rộng lớn. Đầu Jura sớm, toàn bộ khu vực lãnh thổ rộng lớn phía Đông nam châu Á bị sụt lún, hình thành bồn nội lục trên rìa lục địa thụ động hay còn gọi là bể rìa thụ động, với sự lắng đọng các trầm tích lục nguyên, được phân chia thành các phân vị địa chất chủ yếu sau: - Hệ tầng Đray Linh (J1đl, tuổi thành tạo: 201,3 - 174,1 triệu năm BP), phân bố khá phổ biến thành diện ở các huyện Cư Jut (Đắk Nông), Buôn Đôn (Đắk Lắk). Thành phần gồm: cuội kết, sạn kết, cát kết chứa Cúc đá (Ammonite), bột kết.

- Hệ tầng La Ngà (J2ln, tuổi thành tạo: 174,1 - 163,5 triệu năm BP), phân bố rất phổ biến thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở Đắk Lắk, Đắk Nông và kế cận. Thành phần chủ yếu gồm: cát bột kết, bột kết xen sét kết; và sét kết. Về quan hệ địa tầng, hệ tầng La Ngà nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Đray Linh. Cả 2 hệ tầng này đều bị các khối magma có tuổi Jura - Kreta xuyên cắt.

Tại các khu 11 luan an vực xuyên cắt, các đá của hệ tầng bị biến chất nhiệt động do tiếp xúc với các dung thể magma, tạo thành các đá quarzit, cát kết dạng quarzit, đá sừng, đá silic có độ cứng cao, được người Tiền sử ưa dùng làm đá nguyên liệu để chế tạo công cụ, phục vụ cuộc sống sinh tồn. + Giai đoạn hoạt động rìa lục địa tích cực Đây là giai đoạn hút chìm của mảng Thái Bình Dương xuống dưới khối Đông Dương nói riêng và Châu Á nói chung, tạo nên đới rìa lục địa tích cực Đà Lạt, khu vực nghiên cứu thuộc phần rìa bắc - tây bắc đới Đà Lạt, thành tạo các phân vị địa chất sau: - Phức hệ Định Quán (--J3đq, tuổi thành tạo: 163,5 - 145,0 triệu năm BP), phân bố thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở phía Đông Nam khu vực nghiên cứu (giáp với Lâm Đồng). Thành phần gồm: diorit, gabrodiorit, granitoit và các pha đá mạch aplit, thạch anh - Phức hệ Đèo Cả (K đc, tuổi thành tạo: 145,0 - 66,0 triệu năm BP) phân bố thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở phía Đông Nam khu vực nghiên cứu. Thành phần gồm: granitoid và các pha đá mạch aplit, thạch anh.

- Phức hệ Cà Ná (K2cn, tuổi thành tạo: 100,5 - 66,0 triệu năm BP) phân bố thành các diện lớn nhỏ khác nhau ở phía Đông Nam khu vực nghiên cứu. Thành phần gồm: granit alaskit, granit 2 mica và các pha đá mạch aplit, thạch anh Hoạt động của các phức hệ magma này đã xuyên cắt và gây biến chất nhiệt động các đá trầm tích của hệ tầng Đray Linh và La Ngà nêu trên. Đồng thời, bản thân các phức hệ magma này cũng cho các sản phẩm là đá thạch anh (đá quart), tinh thể thạch anh, đá aplit có tính cơ lý gần giống đá silic. là các đá nguyên liệu được người Tiền sử ưa dùng để chế tạo công cụ.

+ Giai đoạn hoạt động san bằng và phun trào Basalt khuếch tán lục địa Đây là giai đoạn bắt đầu bằng quá trình xâm thực - bào mòn, tạo ra bề mặt san bằng kiểu bán bình nguyên (Paleocene - Oligocene; 66,00 - 23,03 triệu năm BP), tiếp theo là sự hình thành các bể Đệ tam và tách giãn Biển Đông; sau cùng là chế độ kiến tạo lún chìm nhiệt thống trị, chuyển động thăng trầm phân dị khối tảng là chủ 12 luan an yếu, xuất hiện phun trào rầm rộ Basalt trên toàn Tây Nguyên cũng như Đông Dương; thành tạo các phân vị địa chất sau: - Hệ tầng Túc Trưng (N2- QI tt, tuổi thành tạo: 5,333 - 0,781 triệu năm BP) phân bố thành các diện rộng lớn ở tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông. Thành phần thạch học gồm: Basalt olivin-augit, Basalt olivin-augit-plagioclas. Đá Basalt màu xám đến xám xanh, xám đen; cấu tạo khối đặc xít hoặc lỗ hổng nhỏ. Liên quan tới Basalt của hệ tầng này, trong vùng nghiên cứu phổ biến các loại đá opal-chalcedon.

- Hệ tầng Xuân Lộc (Q12xl, tuổi thành tạo: 0,781 - 0,126 triệu năm BP), phân bố rộng rãi ở các huyện Đắk Mil, Krông Nô (Đắk Nông); thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Ana (Đắk Lắk). Chúng gắn bó chặt chẽ với các cấu trúc núi lửa, miệng núi lửa còn được bảo tồn khá tốt - tốt. Thành phần thạch học gồm: Basalt olivin, Basalt olivin - augit, Basalt olivin - augit - plagioclas. Đá có dạng vi hạt hoặc ẩn tinh, màu xám, xám đen, cấu tạo khối đặc sít hoặc lỗ hổng.

Các đá Basalt đặc xít của hệ tầng Túc Trưng và Xuân Lộc có độ cứng lớn, dòn, mảnh vỡ thường sắc cạnh, dễ chế tác tạo hình; cũng như các đá opal-chalcedon (đi kèm của trong các đá Basalt) có độ cứng dòn và mảnh vỡ sắc cạnh được người Tiền sử ưa dùng để chế tác công cụ, làm các lưỡi cắt phục vụ cuộc sống sinh tồn. - Trầm tích Đệ tứ (Q). Các thành tạo trầm tích Đệ tứ (từ 2,58 triệu năm đến nay) ở khu vực nghiên cứu có sự đa dạng về nguồn gốc (như: eluvi - tàn tích, deluvi - sườn tích, proluvi - lũ tích, aluvi - bồi tích, đầm hồ) và phong phú về thành phần thạch học (gồm: tảng, cuội, dăm, sỏi sạn, cát bột, sét). Trong đó, các di tích thời đại Đá mới trong vùng nghiên cứu có đặc điểm phân bố mối liên quan mật thiết với các gò đồi (là địa hình/tàn tích của miệng núi lửa, các thềm sông suối cổ, các hang động núi lửa).

Nguồn đá nguyên liệu để chế tác công cụ là các hòn cuội tảng (nguồn gốc: eluvi, deluvi, proluvi, aluvi). Chất liệu đá nguyên liệu là các đá quarzit, cát kết dạng quarzit, đá sừng, đá phiến, cát bột kết, đá thạch anh, đá Basalt, opal-chalcedon. * Hệ thống thủy văn Mạng lưới sông ngòi khá dày đặc. Các dòng sông, suối trên địa bàn nghiên cứu chủ yếu thuộc 03 hệ thống: - Hệ thống sông Srêpốk: chảy về phía Tây, đổ vào dòng Mê Kông trên đất 13 luan an Campuchia.

Diện tích lưu vực sông Srêpốk trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là: 10.400km2, địa phận tỉnh Đắk Nông là: 3. Lưu vực sông Srêpốk chủ yếu ở khu vực phía Tây tỉnh Đắk Lắk và Tây Bắc tỉnh Đắk Nông. Sông Srêpốk do hai dòng Krông Nô và Krông Ana hợp lưu với nhau tại thác Buôn Dray (huyện Krông Na).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Di Tích Thời Đại Đá Mới Ở Đắk Lắk Và Đắk Nông" của tác giả Vũ Tiến Đức, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Gia Đối và TS. Nguyễn Khắc Sử, tập trung vào việc khảo sát và khám phá các di tích thời đại đá mới tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử và văn hóa của khu vực mà còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng khảo cổ học Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin bổ ích về các di tích, cũng như những giá trị văn hóa và lịch sử mà chúng mang lại.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của khảo cổ học và văn hóa, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ về xây dựng đời sống văn hóa tại nông thôn Nghệ An", nơi nghiên cứu về việc phát triển văn hóa ở nông thôn, hoặc "Nghệ Thuật Cải Lương Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Hội Nhập", một cái nhìn khác về văn hóa nghệ thuật trong bối cảnh hiện đại. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, giúp bạn mở rộng hiểu biết về các lĩnh vực liên quan.