Tổng quan nghiên cứu
Xã Phùng Giáo thuộc huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa sở hữu diện tích tự nhiên 2.185,5 ha, là không gian quần cư lâu đời của 1.001 hộ dân với 4.050 nhân khẩu thuộc 4 dân tộc Mường, Kinh, Dao và Thái theo số liệu thống kê năm 2022. Trong cơ cấu dân cư, đồng bào Mường giữ vai trò chủ thể với 3.170 người, chiếm 78,2% dân số, kiến tạo nên diện mạo văn hóa bản địa đặc sắc dọc lưu vực sông Âm dài 88 km.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài bắt nguồn từ thực trạng biến đổi kinh tế - xã hội nhanh chóng, tác động mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa khiến nhiều nét đẹp phong tục dần mai một, nhiều phế tích lịch sử chưa được quan tâm bảo tồn tương xứng. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở hình thành làng xã, quá trình tộc người và diện mạo di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại vùng đất Phùng Giáo, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp phát huy giá trị di sản.
Phạm vi không gian tập trung tại địa bàn 8 thôn làng thuộc xã Phùng Giáo như Làng Chầm, Làng Chuối, Làng Phùng Sơn, Làng Bứa. Trục thời gian nghiên cứu trải dài từ lịch sử truyền thống thế kỷ XV gắn với khởi nghĩa Lam Sơn cho đến giai đoạn hiện đại năm 2023. Luận văn mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi bổ sung hệ thống luận cứ về 17 mường cổ xứ Thanh, đồng thời cung cấp giải pháp thực tiễn nâng cao hiệu quả quản lý cho 100% di tích xếp hạng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế du lịch văn hóa địa phương từ 15% đến 20%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết sinh thái nhân văn nhằm giải thích sự tương tác giữa điều kiện địa hình đồi núi thấp dưới 400m chiếm hơn 90% diện tích huyện Ngọc Lặc với phương thức sinh kế truyền thống của cư dân bản địa. Mô hình cấu trúc - chức năng được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa thiết chế làng bản cổ truyền và hệ thống luật tục Mường.
Các khái niệm cốt lõi được định hình gồm: Di sản văn hóa vật thể, Di sản văn hóa phi vật thể, Không gian sinh tồn tộc người và Tiếp biến văn hóa. Sự tiếp biến giữa văn hóa Mường bản địa với văn hóa Kinh và văn hóa Dao được luận giải dựa trên nguyên lý tương tác cộng cư không đồng hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng từ nguồn sử liệu thành văn (Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, 3 tập Lịch sử Đảng bộ huyện Ngọc Lặc) và hồ sơ xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Cỡ mẫu khảo sát điền dã thực tế bao gồm 80 hộ người Dao tại Làng Phùng Sơn, 4 nghệ nhân và bậc cao niên am hiểu phong tục tại Làng Chầm, Làng Chuối cùng đại diện ban quản lý di tích tại 8 thôn làng. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận trực tiếp các chủ thể nắm giữ tri thức dân gian và tư liệu gia phả cổ.
Phương pháp phân tích lịch sử kết hợp logic được lựa chọn để làm rõ tính kế thừa qua các mốc thời gian 1479, 1900, 1954 và 2022. Phương pháp liên ngành dân tộc học và khu vực học giúp phân tích số liệu địa bàn một cách khách quan. Tiến trình nghiên cứu và khảo sát thực địa được triển khai liên tục từ năm 2020 đến tháng 6 năm 2023.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu tộc người tại Phùng Giáo có sự đa dạng độc đáo với 4 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Mường chiếm 78,2% (3.170 người), người Kinh chiếm 11,1% (449 người), người Dao chiếm 9,0% (363 người) và người Thái chiếm 1,4% (57 người). Luận văn làm rõ sự tồn tại của phân nhóm Mường Pa-Sá tại 4 làng (Làng Bứa, Làng Bằng, Làng Chuối, Làng Chầm) hình thành qua quá trình cộng cư và giao lưu ngôn ngữ lâu đời.
Thứ hai, hệ thống di sản văn hóa vật thể lưu giữ 2 di tích lịch sử cấp tỉnh được xếp hạng năm 2004 là Đền Bà Chúa Trầm với khuôn viên 500 m2 (chính điện 65,25 m2) và Đền Lê Lâm với khuôn viên 1.000 m2 (lối lên gồm 27 bậc thạch chỉ). Di tích bảo tồn nhiều hiện vật quý gồm 1 đạo sắc phong thời vua Bảo Đại năm thứ 9 (1934), đồ thờ gỗ sơn son thế kỷ XVI - XVII và cồng chiêng Mường đường kính 62 cm.
Thứ ba, di sản phi vật thể thể hiện sức sống bền bỉ với lễ hội Pồn Pôông, nghệ thuật hát xường, tục làm vía của người Mường và diễn trình lễ cấp sắc 3 đèn - 12 đèn cùng Tết nhảy của 80 hộ đồng bào Dao Quần chẹt định cư từ năm 1954.
Thảo luận kết quả
Điều kiện tự nhiên với địa hình thung lũng dọc 7 km sông Âm chảy qua xã và diện tích đất lâm nghiệp chiếm 41,3%, đất nông nghiệp chiếm 25,7% là yếu tố quy định phương thức canh tác lúa nước kết hợp làm nương rẫy, tạo nền tảng cho sự cố kết cộng đồng.
So với các nhóm Mường Ngoài chịu ảnh hưởng sâu của văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, nhóm Mường Trong tại Phùng Giáo lưu giữ phương ngữ xiêng mỉ thuần khiết hơn khoảng 20% đến 30% và duy trì kiến trúc nhà sàn truyền thống gắn với tín ngưỡng thờ cúng đa thần. Dữ liệu nghiên cứu được biểu đạt trực quan qua Bảng cơ cấu thành phần dân tộc năm 2022 và Sơ đồ phân bố không gian di tích - làng bản, làm nổi bật tính liên tục của không gian văn hóa vùng cao xứ Thanh.
Đề xuất và khuyến nghị
- Quy hoạch khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt và số hóa 100% hồ sơ di tích Đền Bà Chúa Trầm, Đền Lê Lâm trong giai đoạn 2024-2025, do Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Lặc chủ trì phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, đảm bảo bảo quản an toàn toàn bộ sắc phong và hiện vật gỗ cổ.
- Phục dựng định kỳ 1 năm một lần Lễ hội Pồn Pôông và Tết nhảy của người Dao từ năm 2025, do Ủy ban nhân dân xã Phùng Giáo phối hợp với các nghệ nhân dân gian điều hành, hướng tới mục tiêu thu hút khoảng 5.000 lượt khách tham quan mỗi năm.
- Thành lập 8 câu lạc bộ văn hóa dân gian tại 8 thôn làng trong giai đoạn 2024-2026, hỗ trợ kinh phí đào tạo chữ Nôm Dao và truyền dạy dân ca Mường cho 150 thanh thiếu niên, do Đoàn Thanh niên xã và Hội Người cao tuổi đảm nhiệm.
- Đầu tư nâng cấp 13 km tuyến đường liên xã kết nối đường Hồ Chí Minh và xây dựng tour du lịch sinh thái - di sản đập Phùng Sơn kết nối vùng di tích Lam Kinh, nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế du lịch địa phương tăng 15% vào năm 2030, do Ban Quản lý Di tích huyện Ngọc Lặc thực hiện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Nhà nghiên cứu văn hóa, dân tộc học và học viên cao học ngành Lịch sử: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu điền dã chuẩn xác về cấu trúc tộc người và diễn trình biến đổi văn hóa của cư dân Mường Trong qua hơn 4.000 năm lịch sử.
- Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan chính quyền địa phương: Giúp xây dựng kế hoạch trùng tu 100% di tích và ban hành chính sách bảo tồn văn hóa thiểu số sát thực tế trong giai đoạn 2025-2030.
- Giảng viên và giáo viên bộ môn Lịch sử địa phương: Cung cấp nguồn sử liệu sinh động để biên soạn giáo trình và giảng dạy lịch sử địa phương tại 27 trường học trên địa bàn huyện Ngọc Lặc.
- Doanh nghiệp du lịch và lữ hành: Cung cấp tư liệu địa chí để thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa bản địa 2 ngày 1 đêm kết nối 8 điểm làng truyền thống tại Phùng Giáo.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn công bố những số liệu nhân khẩu học quan trọng nào về xã Phùng Giáo? Luận văn thống kê chi tiết 1.001 hộ dân với 4.050 nhân khẩu năm 2022, phân tích rõ tỷ lệ người Mường chiếm 78,2% (3.170 người), người Kinh chiếm 11,1% (449 người), người Dao chiếm 9,0% (363 người) và người Thái chiếm 1,4% (57 người), phản ánh cấu trúc cư dân đa dạng.
Cộng đồng người Dao tại Làng Phùng Sơn có nguồn gốc hình thành như thế nào? Người Dao Quần chẹt bắt đầu định cư tại Phùng Sơn từ năm 1954 gồm 3 hộ với 13 nhân khẩu chuyển từ vùng núi Thạch Lập về khai hoang dưới chân núi Nan. Đến năm 2022, cộng đồng đã phát triển lên 80 hộ với 363 nhân khẩu thuộc hai họ Bàn và Triệu.
Di tích Đền Bà Chúa Trầm lưu giữ những giá trị lịch sử tiêu biểu nào? Đền Bà Chúa Trầm tọa lạc trên diện tích 500 m2 dưới chân núi Thiềng, thờ người phụ nữ có công giúp nghĩa quân Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn thế kỷ XV. Di tích lưu giữ 1 đạo sắc phong Trinh uyển tôn thần năm 1934 và hệ thống hiện vật gỗ quý giá.
Nhóm cư dân Mường Pa-Sá tại Phùng Giáo có đặc điểm gì nổi bật? Mường Pa-Sá là nhóm cộng đồng người Mường sử dụng ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Mường bản địa và tiếng Kinh, cư trú tập trung tại 4 làng gồm Làng Bứa, Làng Bằng, Làng Chuối, Làng Chầm, hình thành từ quá trình giao lưu văn hóa và hôn nhân liên tộc người.
Sự khác biệt về quy mô kiến trúc giữa Đền Lê Lâm và Đền Bà Chúa Trầm là gì? Đền Lê Lâm được quy hoạch trên diện tích 1.000 m2 với lối lên gồm 27 bậc đá và hệ thống cửa thượng song hạ bản, trong khi Đền Bà Chúa Trầm có diện tích khuôn viên 500 m2 kết hợp ao bán nguyệt 100 m2 và vườn cây lưu niên 250 m2 phía trước.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện tiến trình lịch sử và cấu trúc dân cư 4 dân tộc gồm 4.050 người tại xã Phùng Giáo.
- Khảo tả chi tiết giá trị lịch sử và hiện vật của 2 di tích lịch sử cấp tỉnh được xếp hạng năm 2004.
- Luận giải cơ chế tiếp biến văn hóa độc đáo giữa các nhóm Mường Trong, Mường Pa-Sá và người Dao Quần chẹt.
- Đánh giá thực trạng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong bối cảnh phát triển nông thôn mới.
- Đề xuất lộ trình 4 giải pháp khoa học nhằm bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2024-2030.
Luận văn là công trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với ngành Lịch sử Việt Nam và công tác quản lý văn hóa địa phương. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm vui lòng tham khảo toàn văn công trình để khai thác tư liệu phục vụ học tập, nghiên cứu và xây dựng chính sách văn hóa bền vững.