phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đảo Hà Nam và hát Đúm ở Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh. Chƣơng 2: Hát Đúm ở Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh nhìn từ phƣơng diện nội dung. Chƣơng 3: Hát Đúm ở Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh nhìn từ phƣơng diện nghệ thuật. 10 NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢO HÀ NAM VÀ HÁT ĐÚM Ở HÀ NAM, QUẢNG YÊN, QUẢNG NINH Hà Nam đƣợc biết đến là một trong những vùng đất thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi đây gắn với những chiến công lừng lẫy chống giặc ngoại xâm của dân nhân ta trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Bên cạnh đó, Hà Nam còn đƣợc biết đến là một vùng đất giàu trị văn hóa dân gian truyền thống của thị xã Quảng Yên. Điều kiện tự nhiên, đời sống văn hóa cũng nhƣ các phong tục tập quán mang đặc trƣng của vùng cửa sông Bạch Đằng đã tạo cho nơi đây một nền văn hóa độc đáo và giàu giá trị với những câu hát Đúm trữ tình, đằm thắm. Vì vậy, nghiên cứu hát Đúm của ngƣời dân đảo Hà Nam, chúng tôi nhận thấy, việc tìm hiểu tổng quan về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên - xã hội của địa phƣơng là điều cần thiết, bởi đó chính là nền tảng cho sự hình thành những câu hát Đúm cả về nội dung và nghệ thuật.
Tổng quan về đảo Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh 1. Lịch sử hình thành Hà Nam là vùng đất thuộc thị xã Quảng Yên nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh. Hà Nam xƣa là một vùng đất ở vùng cửa sông Bạch Đằng, chủ yếu là đất bãi triều do phù sa sông lắng đọng. Xƣa kia nơi đây chỉ có một số cƣ dân sinh sống bằng nghề chài lƣới ở khu vực Phong Cốc, Lƣu Khê, Quỳnh Biểu.
Khi các vị Tiên Công từ kinh thành Thăng Long về đây khai khẩn đất hoang mới hình thành nên đảo Hà Nam. Qua các nguồn tƣ liệu còn lƣu giữ đến ngày nay nhƣ văn bia, đại tự, bia ở đình Trung Bản (1592); bia Lập thiên trụ bi (1702) ghi chép chi tiết về lịch sử hình thành đảo Hà Nam. Năm 1434, tại vùng đất Kim Thoa (nay phƣờng Kim Liên - Hà Nội) có 17 vị Tiên Công gồm Vũ Song, Vũ Hồng Tiệm, Bùi Huy Ngoạn, Ngô Bách Đoan, Nguyễn Phúc Cốc, Nguyễn Phúc Thắng, Nguyễn phúc Vinh, Lê Khép, Lê Mở, Vũ Tam Tỉnh, Vũ Giai, Nguyễn Nghệ, Nguyễn Thực, Bùi 11 Bách Niên, Phạm Việt, Dƣơng Quang Tín, Dƣơng Quang Tấn đã cùng nhau tìm kiếm vùng đất mới. Họ xuôi theo dòng sông Nhị, sông Trì rồi sông Kinh Thầy, Đá Bạc.
và dừng thuyền ở cửa sông Bạch Đằng. Khi nghỉ ngơi, họ phát hiện ra nguồn nƣớc ngọt có thể sinh sống bởi vậy đã quyết định cùng nhau dừng chân và lập nên phƣờng Bồng Lƣu (sau gọi là Phong Lƣu). Sau này, thêm hai vị Tiên Công là Hoàng Lung, Hoàng Linh ( Hoàng Nông, Hoàng Nênh) quê vùng Trà Lũ (Nam Định ngày nay) cùng về đây tạo nên vùng đảo Hà Nam. Về sau, để tƣởng nhớ công lao to lớn đó, ngƣời dân trên đảo lập miếu thờ cúng và tôn xƣng họ là “Thập cửu Tiên Công”.
Hiện nay, cách vị trí miếu thờ hơn một nghìn mét có thể nhìn thấy dấu tích còn sót lại của hồ nƣớc (hay còn gọi là Hồ Mạch). Nơi đây là nơi dự trữ nguồn nƣớc cho ngƣời dân trên đảo mỗi khi khí hậu không đƣợc thuận hòa. Hiện nay, các cụ cao niên còn giữ gìn và phổ biến cho con cháu những câu hát về công lao dựng làng lập ấp, khai tên cho vùng đất Hà Nam xƣa kia: “Kể từ đời Lê Thái Tông Muôn dân tụ hội bệ rồng nguy nga ……………………………………… Lần theo sông Nhị, sông Trì Kinh Thầy, Đá Bạc xuống vùng An Bang Sông Rừng nước giặc gió Nam Nam biên Đằng hải, Bắc thành Tiên Sơn Hội phường bàn việc đặt tên Nhất hô bá ứng lập phường Bồng Lưu”….34] Nằm ở trung tâm của đảo Hà Nam chính là phƣờng Phong Cốc, cách thị xã Quảng Yên 5km về hƣớng Nam và đƣợc kết nối với trung tâm thị xã thông qua cầu sông Chanh. Phong Cốc tiếp giáp với phƣờng Yên Hải ở phía Tây, phƣờng Phong Hải và xã Liên Hòa ở phía Đông, xã Cẩm La ở phía Bắc và xã Liên Vị ở phía Nam nên sớm trở thành trung tâm giao lƣu buôn bán.
Nơi đây, trên dòng sông Bạch Đằng đã chứng kiến những chiến công vang dội của cha 12 ông từ ngàn xƣa trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ bờ cõi dân tộc. Sông Chanh có chiều dài khoảng 15km và chia thị xã Quảng Yên thành hai khu vực Hà Bắc và Hà Nam cùng phát triển kinh tế, đóng góp quan trọng cho sự phát triển đời sống của cƣ dân trên đảo. Hiện nay, Hà Nam ngày càng phát triển và trú trọng việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị truyền thống về văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán… nhằm phát triển du lịch văn hóa của thị xã Quảng Yên. Đặc điểm tự nhiên Địa hình Hà Nam do trƣớc kia là một đƣợng đất cao đƣợc phù sa sông lắng đọng, bởi vậy địa hình nơi đây thấp hơn mực nƣớc biển.
Phía Đông đến Đông Nam là cửa sông Chanh hƣớng ra biển. Phía Nam và Tây Nam giáp huyện đảo Cát Hải. Phía Bắc đến Đông Bắc giáp với thị xã Quảng Yên. Phía Tây giáp bãi đầm Nhà Mạc và phía Tây Bắc giáp với địa phận Thủy Nguyên, Hải Phòng.
Bao quanh đảo là dòng sông Chanh và cuối cùng đổ ra biển Đông. Bị chia cắt bởi dòng sông Bạch Đằng lịch sử nên địa hình hai bên bờ sông có sự khác nhau rõ rệt. Nếu địa hình Hà Bắc chủ yếu là các đồi núi thấp xen kẽ với đồng bằng nhỏ hẹp thì khu vực Hà Nam là đất bãi triều có nền đất thấp dƣới mức triều cƣờng. Hằng năm, cƣ dân Hà Nam chịu nhiều ảnh hƣởng của bão lũ, triều cƣờng, hạn hán, bởi vậy họ đúc rút đƣợc nhiều kinh nghiệm quý báu để trống chọi với thiên tai.
Ngoài ra, để thích nghi với điều kiện tự nhiên ngƣời dân Hà Nam rất thạo nghề sông nƣớc. Hầu hết, cƣ dân sinh sống bằng nghề đi biển, khai thác thủy sản. Họ có thể tham gia vào các ngƣ trƣờng lớn nhƣ Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà… Bên cạnh đó, phần bãi bồi ở cửa sông, ven biển chủ yếu là nƣớc mặn đƣợc sử dụng để nuôi trồng thủy sản và rừng ngập mặn đem lại nguồn lợi lớn cho ngƣời dân nơi đây. Địa hình ở Hà Nam chủ yếu là đất bãi bồi ven sông ven biển, ngƣời dân sinh sống và làm ăn chủ yếu dọc bãi bồi nên đã ảnh hƣởng trực tiếp đến phƣơng thức canh tác, lập làng lập xóm.
Họ cải tạo đất để canh tác và sản xuất 13 bằng cách khoanh vùng đắp thành bờ rồi dùng nƣớc mƣa để “thau chua rửa mặn”. Cùng với đó, họ sử dụng các loại lá cây có sẵn nhƣ lá mắm, lá vẹt để tạo độ mùn cho đất. Công việc đòi hỏi sự cần cù, kiên trì và tỉ mỉ đã hình thành cho những con ngƣời nơi đây đức tính chăm chỉ, chịu thƣơng chịu khó. Sống và gắn bó với vùng sông nƣớc nên ngƣời dân nơi đây chủ yếu là làm ruộng và đánh bắt hải sản.
Khí hậu nơi đây có đặc trƣng của một vùng ven biển Việt Nam, mùa đông thì lạnh giá, khô cằn; mùa hè thì nóng ẩm, mƣa nhiều với hai mùa rõ rệt thuận lợi cho cây trồng phát triển. Không những vậy còn bổ sung cho nơi đây nguồn nƣớc ngầm phong phú cùng với hồ Yên Lập cung cấp nƣớc cho việc sản xuất và sinh hoạt của cƣ dân nơi đây. Đặc điểm văn hóa, xã hội Hà Nam là vùng đất giàu giá trị về văn hóa cũng nhƣ phong tục, tập quán, lễ hội. Văn hóa theo định nghĩa của UNESCO “là tổng thể phức hợp của những đặc tính tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm nổi trội giúp xác định một xã hội hoặc nhóm xã hội.
Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn chương mà còn cả cách thức sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, các truyền thống và đức tin”. Văn hóa đã tạo nên dấu ấn riêng của mỗi cộng đồng dân tộc. Ở đó, không có nền văn hóa lớn hay nhỏ mà mỗi nền văn hóa đều nhƣ dòng suối tƣơi mát nuôi dƣỡng tâm hồn con ngƣời thêm yêu và tự hào về mảnh đất quê hƣơng nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Trong suốt chiều dài lịch sử, ngƣời dân Hà Nam nói riêng, thị xã Quảng Yên nói chung tự hào vì có dòng sông Bạch Đằng lịch sử - nơi ba lần đánh tan quân xâm lƣợc phƣơng Bắc.
Đó là trận Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán năm 938, vua Lê Đại Hành chiến thắng quân Tống xâm lƣợc năm 981 và trận đại thắng quân Mông Nguyên xâm lƣợc năm 1288 của vị tƣớng tài ba Trần Hƣng Đạo. Trong hai cuộc kháng chiến trƣờng kì chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, nhân dân Hà Nam cũng quyết tâm và hăng say chiến đấu, đóng góp sức ngƣời sức của cho mục đích chiến đấu cao cả của dân tộc. Những lớp thanh 14 niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” sôi nổi tham gia vào đoàn tàu Không số, chiến công của ngƣời anh hùng Nguyễn Công Bao của đoàn 10 đặc công Rừng Sác tiêu hủy kho xăng Nhà Bè… Có thể nói, trong không khí cách mạng chung của cả nƣớc, Hà Nam cũng phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nƣớc ngàn đời. Không chỉ giàu truyền thống cách mạng, Hà Nam còn lƣu giữ hơn 200 di tích lịch sử văn hóa, từ đƣờng của các dòng họ đƣợc xây dựng từ thế kỉ XV đến thế kỉ XX.
Từ đƣờng thờ thủy tổ và các thế tổ có truyền thống hiếu học. Nhiều di tích đƣợc xếp hạng cấp quốc gia và các hiện vật nhƣ sắc phong, tƣợng thờ, chuông đồng, câu đối đại tự đƣợc viết bằng chữ Hán, chữ Nôm. Đó là kho tàng văn hóa dồi dào và phong phú cho việc nghiên cứu và tìm hiểu về mảnh đất và con ngƣời nơi đây. Đảo Hà Nam còn lƣu giữ nhiều tập tục tang ma, cƣới xin, hội hè và các phong tục tập quán truyền thống xƣa.
Hằng năm, vào mỗi dịp đầu xuân, ngƣời dân nơi đây thƣờng ghé thăm các đình, chùa để cầu cho một năm thuận buồm xuôi gió. Ngoài ra, các lễ hội diễn ra trong năm tạo nên sự cố kết cộng đồng làng xã vô cùng bền chặt và gắn bó, họ giúp đỡ nhau trong tất cả mọi công việc lớn của gia đình.