phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn của chúng tôi được triển khai thành ba chương. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CA DAO VÀ VĂN HÓA TRANG PHỤC NAM BỘ. Trong chương một, luận văn đề cập một số vấn đề có tính khái quát. Sau khi giới thiệu về mảnh đất, con người Nam Bộ, khái lược về văn hóa trang phục ở Nam Bộ, người viết tổng thuật các cách giới thuyết về khái niệm ca dao, ca dao Nam Bộ cùng các đặc điểm của ca dao Nam Bộ.
Cuối cùng, chúng tôi đã điểm qua nguồn tư liệu để khảo sát, phục vụ nghiên cứu. Chương này đã tạo nhiều tiền đề để chúng tôi đi sâu vào các nội dung nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục ở hai chương tiếp theo. NỘI DUNG CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC. Chương này tập trung khai thác ca dao người Việt ở Nam Bộ trên các phương diện nội dung dưới góc nhìn văn hóa trang phục.
Thông qua việc thống kê, chọn lựa, khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi có thể rút ra kết luận về đặc điểm của trang phục trong ca dao Nam Bộ; từ đó thấy được lối ứng xử với môi trường và quan niệm thẩm mỹ của người Nam Bộ thông qua ca dao Nam Bộ. NGHỆ THUẬT CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC. Chương này tập trung khai thác ca dao Nam Bộ ở các phương diện nghệ thuật dưới góc nhìn văn hóa trang phục, gồm biểu tượng và các công thức truyền thống. Cuối cùng, sau phần tài liệu tham khảo, luận văn còn có phần Phụ lục về các bài ca dao người Việt ở Nam Bộ được thống kê từ các tuyển tập và được phân loại dựa trên các loại trang phục ở Nam Bộ.
KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CA DAO VÀ VĂN HÓA TRANG PHỤC NAM BỘ 1. Đôi nét về đất và người Nam Bộ 1. Lịch sử hình thành đất Nam Bộ Nam Bộ là vùng đất cuối cùng phía Nam của Tổ quốc, nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và Cửu Long. Nam Bộ nằm rất gần biển Đông, là một vùng châu thổ màu mỡ với nhiều cửa sông đổ ra biển.
Chính điều này đã tạo nên một vùng đất trù phú, gắn với bao huyền thoại thời mở đất. Quá trình hình thành, phát triển của vùng đất Nam Bộ gắn liền với quá trình khai phá, phát triển lịch sử, văn hóa của vương quốc cổ Phù Nam, sự mở rộng ảnh hưởng của Chân Lạp, sự đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền của các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVI-XVIII cũng như vương triều Nguyễn (1802-1945). Vùng đất này đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, với các thời kỳ lịch sử lớn: thời Phù Nam, thời Chân Lạp, đến Đàng Trong của chúa Nguyễn và Nam Bộ của Việt Nam bây giờ. Vào khoảng đầu Công nguyên, nước Phù Nam xuất hiện.
Phù Nam thời hưng thịnh là một đế chế gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ Việt Nam, Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca, còn trung tâm là vùng Nam Bộ Việt Nam hiện nay. Cư dân chủ yếu của khu vực trung tâm này là nhóm người Mã Lai – Đa Đảo ven biển đầy kinh nghiệm hàng hải và tài nghệ làm thủy lợi nên việc khai phá, canh tác vùng đồng bằng trũng thấp này rất thuận lợi. Vào cuối thế kỷ VI, Phù Nam có dấu hiệu suy yếu dần. Vào đầu thế kỷ VII, một số nước do người Khmer xây dựng, là thuộc quốc của Phù Nam đã lợi dụng cơ hội này đánh chiếm vào vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ Việt Nam.
Vậy là, sau 627 năm, vùng đất Nam Bộ từ phụ thuộc Phù Nam chuyển sang bị phụ thuộc vào Chân Lạp. Nam Bộ bấy giờ được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp. Đây là một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ. 12 Sau đó, việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tổ chức khai thác.
Do người Khmer với dân số ít đã quen sống ở vùng cao, nên bây giờ không có đủ lực lượng, kinh nghiệm và khả năng khai thác vùng đồng bằng rộng lớn, còn ngập nước và sình lầy này. Hơn nữa, vào nửa cuối thế kỷ VIII, quân đội nước Srivijaya2 của người Java tấn công liên tục và lấn chiếm Thủy Chân Lạp, làm cho cả Thủy Chân Lạp gần như lệ thuộc vào Srivijaya2. Lúc này, Chân Lạp và Chămpa lại chiến tranh liên miên, việc cai quản và khai phá vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Chân Lạp lúc này chỉ dồn sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mekong và mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây.
Dấu ấn Chân Lạp trên vùng đất phía Nam còn lại không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở vùng này cũng không đậm nét. Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ vẫn còn thưa thớt; đất đai thì vẫn thế mà còn hoang sơ. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của nước Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, rơi vào thời kì suy vong. Dưới tình trạng này, nước Chân Lạp hầu như không có khả năng quản lý, khai thác vùng đất còn ngập nước ở phía Nam nữa.
Từ đầu thế kỷ XVII, người Việt ở Thuận – Quảng đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) đã đến vùng đất dần bị bỏ quên này mà khai khẩn, lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng này, mở ra một tương lai đầy hứa hẹn. Cũng từ đó, vùng đất Nam Bộ ngày càng được khai phá nhanh chóng qua các sự kiện sau: Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II. Từ đó, Chúa Nguyễn trở thành chỗ dựa cho vua Chân Lạp để đối phó với nước Xiêm. Năm 1623, người Việt đã có mặt hầu hết ở khắp miền Đông Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Tp.
Hồ Chí Minh ngày nay để thu thuế. Đến năm 1628, Chey Chetta II chết, nước Xiêm cùng chúa Nguyễn hỗ trợ cho các phe phái trong chính quyền Chân Lạp đấu đá nhau. Người Việt lại thêm lần nữa dễ dàng khai phá những vùng đất hoang ở đồng bằng sông Cửu Long. Chúa Nguyễn cũng nhanh chóng thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình ở nhưng nơi đã được khai phá, ổn định.
Cùng lúc này, một số người trung thành với nhà Minh chống nhà Thanh đến đây, giúp đẩy nhanh hơn nữa 13 quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ. Và quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn thành từ 1757, khi đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn (để đền ơn chúa Nguyễn giúp họ bảo vệ được cư dân vùng đất Hà Tiên trước quân Xiêm). Từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã thực thi chủ quyền bằng cách tiến hành tổ chức các đơn vị hành chính, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế. Năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập gồm hai dinh là Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn hộ.
Sau năm 1774, Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Hà Tiên), dưới là phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã. Từ đó, tổ chức hành chính ở Nam Bộ cơ bản hoàn chỉnh. Như vậy, vùng đất Nam Bộ lúc đầu chỉ là một vùng hoang dại với hệ thống đất đai trũng, úng, sình lầy và sông rạch chằng chịt, bắt đầu từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở vào.Tuy nhiên, phải gần một thế kỷ sau, Nam Bộ mới bước đầu được định hình một vùng văn hóa khi mà chúa Nguyễn tiếp nhận một đoàn người Hoa đến khai phá, định cư ở Biên Hòa – Đồng Nai (cuối thế kỷ XVII) và người dân từ Quảng Bình vào chia đặt doanh, huyện. Năm 1802, Triều Nguyễn được thành lập, tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn.
Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn Nam Bộ. Triều định ổn định chính sách chính trị, quân sự, khuyến khích nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng thuỷ lợi, phát triển. Cũng từ đó mà Nam Bộ chính là nơi hợp lưu của nhiều lớp, nhiều dòng văn hóa. Trước hết là văn hoá Phù Nam (thế kỷ I – VII) rồi đến văn hoá Khmer (thế kỷ VII – XVII).
Hai nền văn hóa này đã tiếp thu mạnh mẽ nền văn hoá Ấn Độ. Tiếp đến là văn hoá Việt với sự kế thừa văn hoá từ vùng đồng bằng sông Hồng. Sau đó, văn hóa Hoa, Chăm cũng có mặt và hình thành những nét văn hóa riêng độc đáo, góp thêm cho văn hóa Nam Bộ những màu sắc mới, sống động hơn. Như vậy, theo thời gian, miền đất này đón nhận văn hóa Phù Nam, Khmer rồi sau này là Việt, Hoa, Chăm.
Các lớp văn hóa này nối tiếp nhau, có khi đan xen nhau, hòa hợp vào nhau theo chiều không gian. 14 Nam Bộ vừa có bề dày tiến trình lịch sử văn hóa lại vừa là vùng đất giàu sức trẻ do các tộc người ở đây đang dày công gây dựng nên. Con người ở đây trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong lịch sử, dần tạo nên những giá trị vùng văn hoá Nam Bộ như hiện nay với những nét đặc thù, đổi mới so với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam. Điều kiện tự nhiên vùng đất Nam Bộ Nam Bộ vốn từng là một vùng đất có rất ít người sinh sống.
Hầu hết là rừng rậm, cây cối đặc biệt là cổ thụ um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau. Đi sâu vào mới thấy ruộng đồng nhưng còn trống trải, ít cây cối. Nhưng chỉ trong vài thế kỉ, người Nam Bộ đã biến vùng đất hoang vu thành thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Sự khác biệt đó thể hiện ở khung cảnh làng mạc, cấu trúc nhà cửa, cơ cấu xã hội.
Đặc biệt là sự thay đổi rõ rệt về ngôn ngữ, tính cách, thói quen,…đã tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc riêng cho nơi đây. Nam Bộ bao gồm 2 bộ phận hợp thành là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (theo hệ thống phân loại 8 vùng địa lý – kinh tế của Việt Nam).