Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA NGUYỄN TRÃI 1. Phương thức ứng xử 1. Giới thuyết về phương thức ứng xử Không ai có thể tồn tại ngoài cộng đồng và môi trường sống, điều đó tạo nên mối liên hệ, ràng buộc qua lại mà ta quen gọi là “xã hội”.
Để nhận định đánh giá khách quan một cá nhân cần phải đặt họ trong mối tương tác với thế giới xung quanh. Thước đo chuẩn mực có lẽ là cách con người quan hệ với ngoại giới hay chính là ứng xử. “Ứng xử là thể hiện thái độ, hành động thích hợp trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác” [15,1395]. Ứng xử là nét riêng biệt chỉ có ở xã hội loài người.
Ứng xử thể hiện trình độ văn minh của cộng đồng và văn hóa của mỗi con người. Từ thái độ, suy nghĩ con người thể hiện ra bên ngoài bằng hành động. Từ kênh thông tin: thái độ và hành động - người ta sẽ định giá cách ứng xử của mỗi cá nhân. Ứng xử đơn thuần không chỉ thể hiện mối quan hệ thân sơ, yêu ghét mà còn thể hiện tầm trí tuệ, năng lực cá nhân thậm chí là bản lĩnh sống.
Vì thế, trước một hoàn cảnh, một vấn đề, cùng một đối tượng…mỗi người lại có cách ứng xử khác nhau. Con người có sự tương tác thường xuyên với xã hội và giới tự nhiên. Tất nhiên, trong hai mối quan hệ ấy, người ta đặc biệt chú trọng quan hệ giữa con người với con người, vì nó thể hiện sắc nét nhất nghệ thuật sống của mỗi cá nhân. Quan hệ xã hội được chia thành năm cấp độ khác nhau: gia đình, làng xóm, quê hương, quốc gia và nhân loại.
Còn quan hệ với giới tự nhiên thường ta chỉ đề cập đến tác động tích cực hay tiêu cực của con người. Mỗi người có thể chọn cho mình một cách ứng xử mà họ tâm đắc và từ đó nhân cách được hình thành và soi sáng. Từ đó con người rút ra bài học ứng xử với bản thân để đạt được thành công trong cuộc sống. Ứng xử, giao tiếp của con người là hoạt động có ý thức, vì thế ngay khi tiến hành hoạt động đó, con người đồng thời cũng đặt hàng loạt các đích giao tiếp.
Đích đầu tiên không thể thiếu của ứng xử, giao tiếp là trao đổi thông tin, đó chính là nhu cầu 11 hối thúc con người tiến hành hoạt động này. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động giao tiếp ứng xử con người bộc lộ cảm xúc, thái độ của mình, cũng là để nhận thức và đánh giá lẫn nhau. Mặt khác, ứng xử, giao tiếp còn có thể coi như một tấm gương để mỗi cá nhân soi vào đó mà tự điều chỉnh hành vi của mình. Tiến hành giao tiếp ứng xử như thế nào để hiệu quả giao tiếp cao nhất, được cho ta mà không hại cho người.
Câu trả lời nằm trong phương thức ứng xử bởi người xưa có câu “Ác đúng chỗ là thiện, thiện sai chỗ thành ác”. Chọn cho mình lẽ xử thế hợp cảnh để đạt đến đức nhân là mong muốn của mỗi người. Chính vì thế, phương thức ứng xử luôn được con người trong mọi thời đại xem trọng và đưa ra những giới thuyết hợp lý nhất. “Phương thức là cách thức và phương pháp tiến hành nói chung” [15, 1021].
Nói đến phương thức người ta thường nhấn mạnh đến cách thực hiện để đạt được cái đích đã đề ra. Với ứng xử, thông thường người ta thường đề cập đến biểu hiện của hành vi ứng xử để định giá chủ thể của hành vi ứng xử. Nhưng với phương thức ứng xử thì người ta chú trọng đến việc thực hiện như thế nào. Hay nói cách khác, phương pháp nào được vận dụng trong hành vi ứng xử.
Từ phương pháp và cách thức ấy, dần dà người ta đi tìm ra quy luật ứng xử và đó là những thông tin cần thiết để giải mã những tâm hồn, tính cách, trí tuệ, bản lĩnh của chủ thể giao tiếp. Từ hai khái niệm “ứng xử” và “phương thức”, ta có thể hiểu phương thức ứng xử như sau. Phương thức ứng xử là cách thức, phương pháp thể hiện thái độ, hành động trước những việc có quan hệ giữa mình với người khác, với môi trường, hoàn cảnh sống…Từ đó khẳng định tầm trí tuệ, bản lĩnh sống cũng như vốn hiểu biết và văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân. Phân biệt văn hóa ứng xử với phương thức ứng xử Phương thức ứng xử và văn hóa ứng xử là hai khái niệm cận quan.
Để phân biệt được thì trước tiên ta cần hiểu “văn hóa ứng xử” là gì. Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng xin được viện dẫn khái niệm trong Đại từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng 12 tạo ra trong lịch sử”. Những gì con người sáng tạo ra trên cái nền của tự nhiên và ứng dụng quay lại phục vụ chính con người đó chính là văn hóa. Đôi khi văn hóa trở thành một thước đo để đánh giá con người trong xã hội.
Văn hóa ứng xử là cách đối nhân xử thế thích hợp, đẹp đẽ giữa người với người trong cuộc sống. Việc ứng xử có văn hóa không chỉ tạo nên nét đẹp cho từng cá nhân, mà còn phản ánh bản sắc văn hóa của một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc. Văn hóa ứng xử của mỗi quốc gia dân tộc khác nhau, thậm chí ngay cùng một đất nước mỗi vùng miền, mỗi thời kì cũng có những chuẩn mực văn hóa ứng xử khác nhau.1: Phân biệt văn hóa ứng xử và phương thức ứng xử Tiêu chí Văn hóa ứng xử Phương thức ứng xử Phạm vi Rộng: vùng miền văn Hẹp: Cá nhân. hóa, quốc gia, vùng lãnh thổ cư dân.
Đặc điểm nổi - Tính truyền thống, lâu - Tính hiện đại, luôn luôn được làm mới, bật đời, ổn định, “tính tĩnh”. thay đổi, thậm chí có những trường hợp đi ngược lại với quy tắc văn hóa ứng xử chung cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, xã hội và cá nhân – “tính động”. - Tính chung của quốc - Tính riêng biệt của cá nhân. gia, cộng đồng, vùng miền.
Tính chất - Thiên về những tính - Thiên về sự vận dụng, ứng dụng cụ thể chất mang nặng yếu tố những lý thuyết ứng xử trong giao tiếp lý thuyết về ứng xử. Mối quan hệ - Văn hóa ứng xử có vai - Phương thức ứng xử được sinh tạo trên trò làm nền tảng để sản cái nền văn hóa ứng xử chung của dân sinh và định giá hành vi tộc. ứng xử của con người. 13 - Văn hóa ứng xử có tác - Phương thức ứng xử có tính tương tác động một chiều đến qua lại: Chịu tác động của văn hóa ứng phương thức ứng xử - xử, nhưng cũng tác động lại văn hóa ứng tác động chi phối.
Điều này lí giải tại sao có các nhà văn hóa, danh nhân văn hóa. Bản chất - Trả lời cho câu hỏi - Trả lời cho câu hỏi “hành vi ứng xử “hành vi ứng xử được được thực hiện bằng cách nào?”. biểu hiện như thế nào?”. Khi phân biệt được văn hóa ứng xử và phương thức ứng xử ta sẽ hiểu rõ hơn vấn đề được bàn đến trong luận văn - phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi.
Ở đây, ta nhấn mạnh đến tính động, tính linh hoạt, cái riêng, cái cá nhân trong ứng xử của Nguyễn Trãi trên nền văn hóa ứng xử chung của dân tộc, điều đó vừa thể hiện được bản sắc dân tộc lại vừa thể hiện bản lĩnh cá nhân của một con người tài trí lỗi lạc, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Phương thức ứng xử nói chung đề cao phương pháp, cách thức con người tiến hành giao tiếp. Nhưng trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi một mặt xem xét khía cạnh Nguyễn Trãi đã lựa chọn cách ứng xử như thế nào đối với chính bản thân mình, với những người thân yêu trong gia đình, với cộng đồng xã hội để có thể vừa thỏa mãn khát vọng cống hiến của một con người phận vị nhưng cũng cố gắng để thỏa nguyện khao khát của cá nhân mình. Bên cạnh đó, cách thức ứng xử của Nguyễn Trãi đối với thiên nhiên như thế nào cũng được đề cập để thấy được tình yêu thiên nhiên, sự nâng niu, trân trọng thiên nhiên hết mực của ông.
Từ phương thức ứng xử với con người và thiên nhiên ta nhìn thấu tâm can của con người “Sinh bất phùng thời, “Hoài tài bất ngộ” nhưng vẫn cống hiến hết thân, tâm cho dân cho nước. Cơ sở hình thành phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi 1. Nền tảng khách quan khởi sinh phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi 1. Truyền thống ứng xử của dân tộc Mỗi dân tộc có nền văn hóa mang bản sắc riêng.
Trong dòng chảy ấy thì truyền thống ứng xử là yếu tố căn cốt cấu thành nên văn hóa quốc gia. Dễ nhận thấy, không một quốc gia, dân tộc nào có văn hóa, truyền thống ứng xử giống nhau. Việt Nam ta cũng có những truyền thống ứng xử tạo nên sự khác biệt, hấp dẫn riêng của so với các dân tộc khác trên thế giới. Truyền thống là những thói quen, tư tưởng những giá trị văn hóa lâu đời đã hình thành trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Truyền thống không chỉ là bản sắc của dân tộc mà nó còn là một yếu tố quan trọng khẳng định chủ quyền độc lập: “Sơn xuyên chi phong vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị.” (Núi sông bờ cỡi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác) (Cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi) Từ khi mới sinh, mỗi người con đất Việt được tắm đẫm trong bầu sữa văn hóa. Các bậc cha mẹ luôn tâm niệm dạy con cách ứng xử: “Tiên học lễ, hậu học văn” (Tục ngữ). Ứng xử là bài học “vỡ lòng” thiết yếu, cần có trước việc học “chữ”. Truyền thống ứng xử của con người Việt Nam rất đa dạng nhưng ta có thể quy về các mối quan hệ cơ bản.
Trước tiên là ứng xử trong gia đình. Người Việt đặt việc thi lễ trong gia đình theo khuôn chuẩn đạo hiếu, chú trọng đến kính lễ của con cái với cha mẹ. Làm con phải đặt ơn cha nghĩa mẹ làm đầu: "Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" (Ca dao) Kinh nhà Phật từng dạy: "Có hai hạng người, này các Tỳ kheo, ta nói không thể trả ơn được đó là mẹ và cha". Tình cảm nào rồi cũng nhạt phai với thời gian, chỉ có cha mẹ thương con là ngàn năm bất tận.