phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương, sáu tiết. 6 z NỘI DUNG Chƣơng 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CƠ BẢN HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI 1.1 Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội Đại Việt cuối thế kỳ XIV đầu thế kỷ XV Trải qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, triều đình phong kiến tuy có lúc hưng lúc suy, song nhìn chung nó có những bước phát triển mạnh mẽ, nhà nước phong kiến ngày càng được củng cố và trưởng thành về mọi mặt, đặc biệt giai đoạn nhà Trần được đánh giá là một trong số thời kỳ hưng thịnh của triều đại phong kiến. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIV, địa vị thống trị của nhà Trần có dấu hiệu lung lay, xã hội bước vào giai đoạn khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực. Về kinh tế, sau một thời gian phát triển, chế độ điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của sản xuất.
Mặt khác, sự phát triển của địa chủ làm lung lay chế độ điền trang thái ấp. Bên cạnh đó, từ giữa thế kỷ XIV, nước ta liên tiếp gặp thiên tai mất mùa, nạn đói thường xuyên xảy ra, đời sống nhân dân ngày càng cực khổ. Theo tài liệu sử học ghi chép: nạn đói thường xuyên diễn ra, đặc biệt vào những năm 1358; 1362; 1370; 1375, “chết đói nhiều nơi, triều đình phải kêu gọi nhà giàu, các phủ nộp thóc để chuẩn cứu dân nghèo”. Ngô Thì Sĩ phải thốt lên rằng “Mười năm năm đã sáu lần nhật thực, ba lần thủy tai, ba lần hạn hán, một lần sâu cắn lúa, lại luôn năm mất mùa đói kém.
Đến đây từ mùa xuân đến mùa thu nào là núi lở, nào là động đất, không tháng nào không có tai biến”. Về chính trị - xã hội, tầng lớp quý tộc nhà Trần từ vua cho đến vương hầu, quan lại sa vào ăn chơi sa đọa, chỉ lo bóc lột, vơ vét của nhân dân để sống xa hoa, phóng túng. Trong khi đó, nông dân bị bóc lột tô thuế, lao dịch 7 z nặng nề, ruộng đất bị địa chủ cướp. Điều này làm cho mâu thuẫn trong xã hội trở nên gay gắt.
Các cuộc khởi nghĩa xảy ra ở nhiều nơi, tuy thất bại, song đã giáng những đòn đả kích quyết liệt vào nền thống trị của nhà Trần, vào chế độ điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ. Trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng xuất hiện nhiều biến động. Phật giáo sau một thời gian hưng thịnh đã bắt đầu suy thoái cùng với đó là sự ủng hộ nhà chùa thái quá của triều đình. Những công thần như Trương Hán Siêu, Lê Quát … bắt đầu công kích thế lực Phật giáo, tố cáo việc dựng chùa quá nhiều, lãng phí nhân lực, vật lực, các ông muốn “dùng đạo Thánh để giáo hóa dân chúng” nhưng không được Trần Minh Tông chấp thuận.
Đến thời kỳ của Trần Dụ Tông đã xây dựng xã hội theo mô hình của Nho giáo nhưng mang tính chất kỳ thị, thay thế thái độ mềm dẻo bằng một thái độ cứng ngắc, thay thế tinh thần khoan dung bằng một tinh thần nghiêm khắc, thay thế tinh thần hòa đồng tự do bằng một tinh thần độc tôn. Như vậy, tính đến cuối thế kỷ XIV, tình hình kinh tế - xã hội nhà Trần đã khủng hoảng nay lại càng khủng hoảng hơn. Tình thế này đặt ra một yêu cầu cấp thiết cần phải thủ tiêu chế độ điền trang thái ấp và quan hệ nông nô, nô tỳ, thay đổi về đường lối trị nước để mở đường cho chế độ phong kiến tiến lên một giai đoạn mới, cao hơn. Trong hoàn cảnh đó, năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, dựng triều Hồ, tiến hành cải cách về mọi mặt.
Hồ Quý Ly thi hành chính sách hạn điền hạn nô và thanh lọc sư tăng, bắt nhà sư chưa đến năm mươi tuổi phải hoàn tục. Về ruộng đất, Hồ Quý Ly ra quy định “Đại vương, trưởng công chúa không có hạn đình, dưới đến thứ dân không được có quá mười mẫu. Người nào nhiều ruộng được phép lấy ruộng chuộc tội, số ruộng thừa ra thì sung công” [15]. 8 z Với chính sách này Hồ Quý Ly đã thu hẹp thế lực của quý tộc tôn thất, phân tán quyền chiếm hữu ruộng đất của một số đại địa chủ, giải phóng cho nông nô và nô tỳ trở thành những người dân được sử dụng đất công, tạo đà cho sản xuất.
Ngoài ra Hồ Quý Ly còn tiến hành cải cách thuế, kiểm kê tài sản, cải cách tiền tệ, phát hành tiền giấy. Những cải cách này đã tác động mạnh vào sở hữu của quý tộc, địa chủ, làm suy yếu tầng lớp thương nhân. Về văn hóa , tư tưởng, Hồ Quý Ly vừa muốn thanh lọc Phật giáo, vừa muốn phê phán, xét lại Nho giáo, nhưng ông cũng chưa xây dựng được ý thức hệ mới, làm cốt lõi cho nền văn hóa Việt Nam. Ông cho mở khoa thi đầu tiên, Nguyễn Trãi ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sỹ).
Sau khi thi đỗ, Nguyễn Trãi được Hồ Quý Ly trao chức Ngự sử đài chánh chưởng. Những cải cách của Hồ Quý Ly mang tính nửa vời, thiếu triệt để, không giải quyết được đời sống cực khổ của nhân dân, đặc biệt là bộ phận nông dân, nông nô, không cố kết được nhân tâm, không lấy được lòng dân. Nguyễn Trãi đã tổng kết: “Họ Hồ dùng gian trí để cướp lấy nước, lấy gian trí để hiếp lòng dân. Lệnh sao ban bố mà mọi người oán nỗi thương sinh, việc di dân thi hành mọi người kêu bề thất sở.
Gia dĩ thuế mà phiền, giao dịch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm, chỉ vụ ích kỷ, phì gia, chẳng nghĩ khổ dân, lại nước, yêu gần vị tình riêng. Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểu nhân mà nịnh cũng tin dùng. Nhân mừng mà khen thưởng, nhân giận mà phạt giết. Người trung phải khóa miệng, kẻ lương thiện thì ngậm oan” [15; 237].
Sự thất bại của hai triều đại Trần – Hồ cho thấy vai trò to lớn của nhân dân trong việc dựng và giữ nước. Bên cạnh đó là vai trò của nhà cầm quyền, của quan lại trong việc hoạch định đường lối trị nước, nhằm đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân và sự vững chắc của triều đại. Điều này đã được 9 z Nguyễn Trãi nhận thấy và hoạch định trong “Bình ngô sách” dâng cho Lê Lợi sau này. Trước tình hình đất nước ngày càng rối ren do nhà nước và các tầng lớp trong xã hội không có lợi ích thống nhất, năm 1406, quân Minh mang quân sang xâm lược nước ta.
Từ năm 1407 đến năm 1427, nhà Minh chính thức đặt ách thống trị lên nước ta. Về chính trị - xã hội, chúng đổi tên nước ta thành quận Giao Chỉ, tổ chức chính quyền gồm ba ty, lệ thuộc trực tiếp vào triều đình nhà Minh. Bên cạnh đó, chúng ra sức đào tạo đội ngũ tay sai người bản xứ gọi là thổ quan, nhằm phục vụ đắc lực cho việc áp bức, bóc lột nhân dân ta. Về kinh tế, chúng đặt ra vô số thứ thuế nặng nề đánh vào mọi hạng người và mọi nghề nghiệp.
Chúng nắm độc quyền mua bán một số ngành nghề quan trọng như nghề làm muối. Ngoài ra, chúng còn bắt nhân dân ta đi phu, đi lao dịch nhằm khai thác nguồn tài nguyên của đất nước. Về văn hóa, chúng thủ tiêu nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta, đồng thời tiến hành đồng hóa về mặt phong tục, tập quán. Chúng bắt nhân dân ta thay đổi cách ăn mặc, phong tục tập quán theo phong tục và lễ giáo của nhà Minh.
Đối với Phật giáo, Đạo giáo chúng đốt kinh, sách, tuyên truyền mê tín dị đoan trong nhân dân. Về giáo dục, nhà Minh ra sức hạn chế việc học, việc thi, biến nhà trường thành nơi đào tạo tay sai, phục vụ cho chính quyền đô hộ. Dưới ách đô hộ của nhà Minh, xã hội Đại Việt bị kìm hãm sự phát triển, đời sống nhân dân lâm vào tình trạng lầm than, cơ cực. Điều nà y làm cho nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, như cuộc khởi nghĩa của Phạm Trân - một thổ hào ở Đông Triều (Hải Dương) đã lãnh đạo nhân dân nổi lên lập Trần Nguyệt Hồ làm vua, và tổ chức quân khởi nghĩa gọi là “Trung nghĩa Quân”.
Khởi nghĩa của Trần Giản Định (1407 – 1409) - một tôn thất nhà Trần, nổi 10 z lên khởi nghĩa ở Yên Mô (Ninh Bình), sau lui về Nghệ An, được hào kiệt khắp nơi theo về hưởng ứng rất đông, trong đó có cả những cựu thần nhà Trần như Đặng Tất, Trần Triệu Cơ đã làm quan cho nhà Minh cũng quay lại tham gia nghĩa quân. Tuy các cuộc khởi nghĩa đều thất bại song nó đã khơi gợi tinh thần yêu nước trong nhân dân, đồng thời cho thấy sự khủng hoảng trong việc tìm ra người có đủ đức, đủ tài đánh giặc cứu nước. Năm 1396, khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hóa) nổ ra, đã được toàn thể nhân dân hưởng ứng. Khởi nghĩa đã tập hợp được những hào kiệt trong nước tham gia.
Trải qua hơn ba mươi năm chiến đấu gian khổ, năm 1427, khởi nghĩa giành thắng lợi. Năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, lấy tên nước là Đại Việt. Đây là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình từ nền quân chủ quý tộc thời Lý – Trần, mang đậm tính Phật giáo, sang nền quân chủ tập quyền thời Lê sơ. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là chiến thắng của sự gắn bó sâu sắc và kết hợp hài hòa trong thể thống nhất của tướng lĩnh với quân dân, của tập thể anh hùng và toàn thể dân tộc, mà đứng đầu là Lê Lợi, và người tham mưu kiệt xuất Nguyễn Trãi.
Sau khi giành thắng lợi, Nguyễn Trãi tiếp tục cống hiến sức mình giúp Lê Lợi xây dựng và quản lý đất nước. Về mặt hành chính: Lê Thái Tổ chia đất nước thành năm đạo, sau đó Lê Thái Tông cải tổ lại, chia thành 13 đạo (sau đổi thành 13 thừa tuyên), đứng đầu là các tuyên phủ sứ. Số lượng được bổ sung thông qua các kỳ thi. Như vậy, chế độ phong kiến phân quyền quý tộc bị thủ tiêu, thay vào đó là chế độ phong kiến trung ương tập quyền.
Vua là biểu hiện tối cao của quyền lực, là người toàn quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong việc trị nước thì dựa trên học thuyết của Nho giáo, bài xích Phật giáo và Đạo giáo, bên cạnh mặt lễ giáo, các vua thời Lê Sơ còn rất chú trọng đến việc chế định pháp luật.