CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Văn hóa Hiện nay, có hàng trăm định nghĩa văn hóa với nhiều góc độ, cách tiếp cận và xác định cấu trúc khác nhau, nhưng đại đa số các nhà nghiên cứu đều hướng đến xác nhận văn hóa như là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, là một bộ phận rất cơ bản trong đời sống xã hội. Theo Trần Ngọc Thêm văn hóa được định nghĩa như sau: “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2005: 21]. Định nghĩa này cung cấp cho chúng ta những đặc trưng cơ bản của văn hóa: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, chính kết qủa hoạt động sáng tạo của con người hợp thành môi trường văn hóa của cuộc sống con người, do vậy khái niệm văn hóa chỉ có nghĩa khi gắn với con người, mang tính nhân văn và hướng tới chân, thiện, mỹ.
Chủ thể của hệ thống giá trị đó là con người - những cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc sống và hoạt động trong điều kiện tự nhiên và xã hội lịch sử cụ thể. Chính trong quá trình đó, mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc trong sự hình thành, phát triển, qua hoạt động thực tiễn họ kế thừa, tiếp biến, dung hợp, tích hợp, sáng tạo nên một hệ thống giá trị vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của mình. Kế sách giữ nước của nhà Trần là hệ thống giá trị được sáng tạo theo phương thức đó. Trong văn hóa, dấu ấn sáng tạo và nhân văn là đặc trưng bản chất nhất.
Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, hai đặc trưng đó được thể hiện thành những hệ giá trị, chuNn mực, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Những gì ngược lại với các đặc trưng cơ bản đó đều có thể coi là không văn hoá, thiếu văn hoá hay phản văn hoá. Văn hóa vừa thể hiện ở một bình diện rộng, vừa thể hiện ở chiều sâu, chiều cao của các giá 15 trị sáng tạo và nhân văn của con người, cộng đồng đã đạt được trong nhận thức, tổ chức, ứng xử, những hình tượng, những nét đẹp truyền thống của mỗi vùng, miền, dân tộc và của nhân loại. Bởi vậy, kế sách giữ nước mang dấu ấn của mỗi triều đại, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, cho nên kế sách giữ nước của nhà Trần mang dấu ấn sâu sắc của triều đại, trước hết vương triều nhà Trần, do vậy, không giống với các triều đại khác, ngay cả triều đại nhà Lý trước đó.
Văn hóa nói riêng, xã hội nói chung gắn với con người, cộng đồng người với tư cách là chủ thể sáng tạo - lịch sử, trong điều kiện địa lý, môi trường tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử ở từng giai đoạn nhất định. Do vậy, nghiên cứu văn hóa - sản phNm sáng tạo của con người phải dựa trên cơ sở chủ thể, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử trong quá trình vận động biến đổi của nó. Đây là phương pháp tiếp cận giúp cho việc nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình sáng tạo một cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Mặt khác, trong chùm các đặc trưng của văn hóa Trần Ngọc Thêm đã trình bày, chúng tôi đặc biệt chú ý tính hệ thống và tính lịch sử, vì đây là cơ sở phương pháp luận trực tiếp cung cấp cho luận văn công cụ nghiên cứu.
Kế sách giữ nước được xác định là hệ thống giá trị do hoạt động xã hội của vương triều nhà Trần sáng tạo trên cơ sở kế thừa, tiếp biến, dung hợp những yếu tố phù hợp, tích hợp và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và vận động biến đổi qua các vương triều của thời nhà Trần. Từ quan niệm về văn hóa và phương pháp tiếp cận trên, chúng tôi khảo sát kế sách giữ nước của nhà Trần thời Đại Việt (1225 - 1400). Kế sách giữ nước Theo Từ điển tiếng Việt (2007): Kế (dt): Mưu kế. Sách là cách tiến hành.
Kế sách (dt): là phương sách và những kế lớn. Giữ nước là làm cho đất nước hòa bình, ổn định. Từ quan niệm trên có thể hiểu kế sách giữ nước là những mưu kế và phương sách lớn của một vương triều - quốc gia - dân tộc làm cho đất nước thái bình, ổn định, phát triển, ngăn ngừa chiến tranh (nội chiến và ngoại xâm), chống xâm lược giữ vững chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập của quốc gia - dân tộc. Giữ nước là hoạt động xã hội của một vương triều, quốc gia - dân tộc là làm cho đất nước hòa bình ổn định, phát triển, ngăn ngừa chiến tranh, giữ vững độc lập chủ 16 quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Đó là giữ vững chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập và chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. các mặt đời sống xã hội của một vương triều, quốc gia - dân tộc. Đồng thời phát huy những thành quả đã đạt được vào công cuộc xây dựng phát triển đất nước. Giữ nước là hoạt động xã hội của cá nhân hay cộng đồng người trong môi trường tự nhiên và xã hội trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Lịch sử thế giới đã cho thấy vấn đề giữ nước thường được đặt ra với những quốc gia - dân tộc có lãnh thổ nhỏ, kinh tế nghèo, dân ít, nhất là ở bên cạnh những quốc gia - dân tộc lớn, có tư tưởng bành trướng, bá chủ “thiên hạ”. Do đó, đối với những quốc gia - dân tộc nhỏ, yếu thường phải có kế sách giữ nước, nếu không có kế sách hoặc có nhưng không thực hiện được sẽ mất độc lập dân tộc hoặc mất nước, mất dân tộc như Đại Lý (Nam Chiếu) cùng thời nhà Trần. Trong điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia - dân tộc, tùy thuộc vào đối tượng và âm mưu thủ đoạn của đối phương, mỗi vương triều - dân tộc có sự nhận thức, lựa chọn phương thức giữ nước, nghĩa là phải có mưu kế, sách lược để giữ nước của mình. Do vậy, chủ thể khác nhau, điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử khác nhau sẽ có kế sách giữ nước khác nhau.
Kế sách giữ nước được hình thành trên cơ sở nhận thức, tổ chức, ứng xử của một vương triều - quốc gia - dân tộc trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và được thể hiện bằng những mưu kế và phương sách tận dụng, phát huy và kết hợp các mặt của đời sống xã hội như tự nhiên - xã hội, lịch sử - hiện tại, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội…đối nội - đối ngoại để tạo lực, lập thế, tranh thời bảo đảm sự ổn định, tồn tại, phát triển, kiến tạo hòa bình cho đất nước cũng như trong quan hệ láng giềng, ngăn ngừa chiến tranh (nội chiến và ngoại xâm), chống ngoại xâm. Trong đó, kế sách chống ngoại xâm là một nội dung - bộ phận quan trọng trong kế sách giữ nước. Kế sách giữ nước là hoạt động sáng tạo, thường là của những cá nhân, cộng đồng dân tộc nhỏ nhằm tự vệ để duy trì quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc, trong đó quyền sống là quyền cơ bản nhất của con người, bảo vệ phNm giá của con người trước những cá nhân, cộng đồng dân tộc lớn, do đó kế sách giữ nước là hoạt động sáng tạo mang ý nghĩa nhân văn cao cả. Mặt khác, kế sách giữ nước là để kiến tạo hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh và 17 chống xâm lược, nô dịch của cộng đồng, dân tộc này đối với cộng đồng dân tộc khác, bảo vệ các giá trị văn hoá, văn minh, tức là chống lại cái ác, cái dã man, chống lại những gì phản văn hoá, văn minh.
Do vậy, kế sách giữ nước là hoạt động văn hoá. Bản chất của văn hoá là sáng tạo và nhân văn. Giữ nước là hoạt động vì sự tồn tại và phát triển con người xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng tốt đẹp, cuộc sống con người ngày càng hạnh phúc bao hàm ý nghĩa văn hoá. Cho nên các cuộc chiến tranh vệ quốc, chiến tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ đều mang tính văn hoá.
Do vậy, kế sách chống ngoại xâm để giữ nước là sản phNm văn hóa. Kế sách giữ nước của mỗi cộng đồng, dân tộc hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn nhận thức, lựa chọn ứng xử để bảo vệ nền độc lập dân tộc trong điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nó được mỗi cộng đồng, dân tộc, trước hết là các triều đại kế thừa, tiếp biến, dung hợp, tích hợp, phát triển, sáng tạo nên hệ thống giá trị đáp ứng điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử nhất định. Do đó, kế sách giữ nước là hệ thống giá trị của mỗi cộng đồng, dân tộc.
Để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia - dân tộc của Nam Chiếu, Chămpa cùng thời có kế sách giữ nước khác Đại Việt được thể hiện rõ trong kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên. Mỗi quốc gia - dân tộc do có nền văn hóa khác nhau, giữ nước - bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện, hoàn cảnh khác nhau cho nên có sự nhận thức ứng xử trong giữ nước của mỗi dân tộc khác nhau. Lịch sử cho thấy có những dân tộc do không tìm được hoặc chưa tìm được phương thức ứng xử để giữ nước nên mất độc lập hoặc đã bị tiêu vong như Đại Lý. Kế sách giữ nước của dân tộc Việt Nam là hệ thống những mưu kế, phương sách tận dụng, phát huy các mặt của đời sống xã hội như điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao, đối nội - đối ngoại và sự kết hợp các mặt đó nhằm tạo nên sức mạnh bảo đảm sự tồn tại và phát triển, giữ vững chủ quyền độc lập dân tộc, kiến tạo hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh, chống xâm lược trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Hệ thống những mưu kế, phương thức trên được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước, trên cơ sở nhận thức, tổ chức và ứng xử của dân tộc ta trong từng giai đoạn lịch sử qua các triều đại.