Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học (mã số: 62 22 70 01) với đề tài "Tục chơi quan họ xứ Kinh Bắc (Bắc Ninh) xưa và nay" được thực hiện tại Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2015. Công trình do nghiên cứu sinh hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Lương và PGS.TS Lê Sỹ Giáo.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dân ca quan họ là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến tại vùng Kinh Bắc xưa (nay thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang). Sau khi được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2009 dựa trên Hồ sơ quốc gia do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam soạn thảo (xác định 49 làng quan họ gốc), hoạt động bảo tồn quan họ đã thu hút sự quan tâm của giới quản lý và nghiên cứu.

Tuy nhiên, thực tiễn sinh hoạt văn hóa quan họ đang trải qua nhiều biến đổi lớn dưới tác động của bối cảnh lịch sử và xã hội hiện đại. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và giai đoạn Cải cách ruộng đất (1953–1958), tục chơi quan họ từng có thời kỳ gián đoạn trong cộng đồng. Trong nhiều thập kỷ, khối lượng công trình nghiên cứu về dân ca quan họ tương đối lớn nhưng phần lớn tập trung vào khía cạnh âm nhạc, lời ca và kỹ thuật biểu diễn (nghiên cứu "hát quan họ"). Đối với cư dân tại các làng quan họ gốc, ca hát chỉ là một bộ phận của một tổng thể văn hóa rộng lớn hơn được gọi là "tục chơi quan họ" hay "văn hóa quan họ".

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm:

  1. Thiếu các công trình nghiên cứu hệ thống về "tục chơi quan họ" như một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng thể gắn liền với thiết chế làng xã, lễ hội, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng.
  2. Xu hướng biến đổi của quan họ từ lề lối truyền thống sang hiện đại, cùng quan điểm của chính chủ thể văn hóa (người dân địa phương) đối với di sản của họ, chưa được khảo sát đầy đủ.
  3. Hoạt động bảo tồn hiện nay có biểu hiện "sân khấu hóa" và "Nhà nước hóa", áp đặt từ trên xuống, làm cho các giá trị văn hóa dần xa rời chủ thể cộng đồng.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đáp ứng định hướng của Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) và Nghị quyết Trung ương 9 (Khóa XI) của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu dân ca quan họ với tư cách là một loại hình sinh hoạt văn hóa của các làng thuộc vùng Kinh Bắc xưa.
  2. Khám phá đặc điểm, bản chất, ý nghĩa và giá trị của di sản văn hóa dân gian trong xã hội cổ truyền và sự biến đổi của nó trong xã hội hiện đại.
  3. Tìm kiếm những ngụ ý khoa học cho chính sách bảo tồn văn hóa quan họ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức sinh hoạt văn hóa quan họ truyền thống trước năm 1945 và quá trình biến đổi của loại hình này từ sau năm 1954 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2015).
  • Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát sâu tại hai làng quan họ cổ có mối quan hệ kết bạn truyền đời: làng Viêm Xá (tục gọi là làng Diềm), thuộc xã Hoà Long, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh và làng Hoài Thị (tục gọi là làng Bịu), thuộc xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Làng được sử dụng làm đơn vị phân tích và đặt trong bối cảnh không gian văn hóa vùng Kinh Bắc.
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu từ truyền thống cổ truyền (trước 1945) qua các giai đoạn biến động lịch sử (kháng chiến, Đổi mới 1986) cho đến giai đoạn đương đại sau khi quan họ được UNESCO công nhận di sản.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án ghi nhận hơn 300 đầu tài liệu liên quan đến quan họ (sách chuyên khảo, bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo, luận án tiến sĩ và báo cáo độc lập). Tác giả phân chia các tài liệu này thành 3 hướng tiếp cận chính:

1. Hướng tiếp cận âm nhạc – dân tộc học (Ethno-musicology)

Các nghiên cứu ban đầu từ bài viết của Chu Ngọc Hải (1928), tiếp nối bởi hoạt động sưu tầm, chỉnh lý của các nhạc sĩ trong kháng chiến chống Pháp tại Chiến khu Việt Bắc. Sau năm 1954, nhiều công trình phân tích âm nhạc dân tộc học được công bố bởi Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc (1962), Đặng Văn Lung (1976, 1977), Tô Ngọc Thanh và Hồng Thao (1986), Nguyễn Trọng Ánh (1997, 2005), Phạm Trọng Toàn (2005).

  • Nhạc sĩ Hồng Thao (1977, 1978, 1982, 1985, 1997, 2002) ký âm và phân tích 186 bài quan họ cổ, xác định quan họ sử dụng các thang âm ngũ cung kiểu IV và kiểu V (tương ứng điệu thức Chùy và Vũ), có cấu trúc âm nhạc phương Đông phát triển cao. Hồng Thao đề xuất xây dựng dàn nhạc cụ dân tộc tránh lối hòa âm phương Tây làm át giọng hát.
  • Về hệ thống giọng lề lối: Nguyễn Đình Phúc (1962) phân chia 5 giọng (Hừ la, Ngay, Tình tang, Đường bạn, Lên núi). Hồng Thao (1982) xác định 6 giọng (Hừ la, La rằng, Đường bạn, Tình tang, Cây gạo, Cái hời cái ả). Trần Văn Khê (1958) cho rằng giọng La giằng và Hừ la tương đồng. Nhóm tác giả Nguyễn Văn Phú và cộng sự (1962) hệ thống các giọng cổ: Hừ la, La rằng, Đường bạn, Tình tang, Lên núi xuống sông, Cái hời cái ả, cùng hệ thống giọng Vặt (Vụn).
  • Toan Ánh (1974) và Trần Văn Khê (1958) phân tích trình tự hát lề lối trong canh hát: mở đầu bằng giọng Sổng/La giằng, chuyển qua giọng Vặt, khuya hát giọng Huỳnh/Hãm và kết thúc bằng giọng Giã bạn (giọng Bỉ/Vĩ). Hoắc Công Huynh (2000) nghiên cứu kết cấu hai bộ phận (hát và ngâm), nhịp 2/4 và 4/4 của giọng Giã bạn.
  • Luận án tiến sĩ của Le Ngoc Chan (Đại học California Berkeley, 2002) phân tích giọng La rằng, đối chiếu từ nguyên với tiếng Mường và tiếng Mã Lai/Chăm (thuật ngữ toh yang – hát thờ thần), đồng thời ghi nhận tục thờ đá (linga/yoni) tại đền Vua Bà làng Diềm và tục quan hệ tính giao giữa liền anh làng Bịu và liền chị làng Diềm trong đêm hát canh hội làng đầu thế kỷ XX.

2. Hướng tiếp cận cấu trúc văn hóa – ngôn ngữ học

  • Vận dụng lý thuyết thơ ca dân gian của L.A. Novicova (1989) về thể loại bài ca trữ tình gắn với nghi lễ và diễn xướng đối đáp nam nữ.
  • Lê Danh Khiêm (2000, 2001, 2003, 2010, 2011) nghiên cứu việc sử dụng "nhã ngữ", đại từ nhân xưng ("em" – "anh" bắt nguồn từ tục kết chạ giữa "dân em" và "dân anh", nam xưng "tôi", nữ xưng "em", gọi nhau "anh" – "chị" thay vì "chàng" – "nàng"). Công trình Từ điển ca từ và bài bản dân ca quan họ (2003, 2010) khảo cứu 447 trang với 497 bài hát và lời đối, phân tích các điển cố từ Truyện Kiều, Nhị Độ Mai, Chinh phụ ngâm và văn học cổ.
  • Nhóm nghiên cứu "Tìm về cội nguồn quan họ" do Hoàng Hương chủ trì (1987) đề xuất khái niệm "văn học quan họ". Hồng Thao và Trần Linh Quý (1997) lập bản đồ 49 làng quan họ cổ (44 làng ở Bắc Ninh, 5 làng ở Bắc Giang). Bùi Quang Thanh (2008) xác định không gian văn hóa quan họ trong tam giác sông Cà Lồ – hạ lưu sông Đuống và nhấn mạnh tầm quan trọng của vùng bắc sông Cầu.
  • Không gian diễn xướng và lễ hội được phân tích bởi Lê Văn Hảo (1962), Toan Ánh (1969), Trần Quốc Vượng và cộng sự (1973, 1998, 2000), Lê Sỹ Giáo (1973), Nguyễn Văn Huyên (1939/1995), Đinh Khắc Thuân (2009), Frank Proschan (1992).

3. Hướng tiếp cận chính trị học về bảo tồn di sản văn hóa

  • Luận án tiến sĩ của Lauren Meeker (2007) so sánh chính sách bảo tồn chèo (Thái Bình) và quan họ (Bắc Ninh), chỉ ra sự can thiệp của Nhà nước trong việc "thể chế hóa" (institutionalize) và "sân khấu hóa" di sản dân gian thành biểu tượng quốc gia.
  • Nguyễn Đình Tấn (1980) bàn về tính dị bản và đề xuất cải biên, nâng cao vốn cổ (ví dụ bài Tình bằng có cái trống).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án định vị việc tiếp cận quan họ dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học nhận thức: không tách rời âm nhạc khỏi môi trường sống của cộng đồng làng xã; chuyển từ nghiên cứu "hát quan họ" sang "tục chơi quan họ"; khảo sát thực chứng nhận thức của chính người dân địa phương tại hai làng kết bạn Diềm và Bịu để làm rõ sự biến đổi văn hóa và cung cấp cơ sở cho việc hoạch định chính sách bảo tồn từ dưới lên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

                               Khung lý thuyết tiếp cận
Lý thuyết truyền thống           Tiếp cận địa - văn hóa            Nhân học nhận thức
   và biến đổi                     và không gian văn hóa            (Cognitive Anthropology)
  (Roger Janelli)              (J. Bonnemaison, Trần Quốc Vượng,      (K. Pike, J. Cash)
                                    Ngô Đức Thịnh)             
  Thay đổi là thuộc             Không gian là biến số;           Kết hợp góc nhìn chủ thể (emic)
  tính bản chất; phê            xem làng là tiểu hệ              và khách thể (etic) để hiểu nhận
  phán "hình thái gốc"          thống trong vùng văn hóa         thức của cộng đồng

Khung lý thuyết

Luận án vận dụng 3 hệ thống lý thuyết chủ yếu:

  1. Lý thuyết về truyền thống và biến đổi của di sản văn hóa: Dựa trên quan điểm của Roger Janelli (2010), Bestor (1990), Barbara Kirshenblatt-Gimblett (1995), Lương Văn Hy và Trương Huyền Chi (2010), Tô Ngọc Thanh (2003). Lý thuyết khẳng định sự biến đổi là thuộc tính bản chất của văn hóa dân gian. Việc cố định hóa di sản theo "hình thái gốc" nhân tạo có thể triệt tiêu tính sáng tạo và sức sống nội sinh của di sản (tương tự bài học bảo tồn bài ca gieo lúa đảo Jindo ở Hàn Quốc).
  2. Tiếp cận địa – văn hóa và không gian văn hóa: Tiếp thu khung phân tích của Joel Bonnemaison (1989), Trần Quốc Vượng (1998, 2000), Ngô Đức Thịnh (1993, 2004), Kottak (2006), Lý Tùng Hiếu (2012). Không gian văn hóa vùng Kinh Bắc được xem xét như một tổng thể cấu trúc – hệ thống, trong đó mỗi làng quan họ cổ là một tiểu hệ thống mang đặc trưng sinh thái – nhân văn cụ thể.
  3. Nhân học nhận thức (Cognitive Anthropology): Vận dụng mô hình tiếp cận từ chủ thể (emic – quan điểm của người trong cuộc) và tiếp cận từ khách thể (etic – quan điểm của nhà nghiên cứu) của Kenneth Pike (1954), Jennifer Cash (2002) và Kottak (2006) nhằm tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị và cách thức cộng đồng giải thích về tục chơi quan họ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

1. Nghiên cứu định tính

  • Điền dã dân tộc học: Tác giả trực tiếp lưu trú tại làng Diềm và làng Bịu, tham gia vào đời sống sinh hoạt, trải nghiệm các tuyến đường giao lưu quan họ cổ truyền (từ Bịu về Diềm, tuyến Việt Yên – Tiên Du).
  • Quan sát tham dự: Tham gia các hội làng mùa xuân, lễ hội Vua Bà (làng Diềm), sinh hoạt thường kỳ của Câu lạc bộ (CLB) quan họ, các lớp truyền dạy quan họ cho thanh thiếu niên, và các không gian bên lề (sân đình, sân chùa, sân bóng).
  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện với các nghệ nhân cao tuổi (nghệ nhân Nguyễn Thị Bàn tại làng Diềm, nghệ nhân Nguyễn Văn Quỳnh tại làng Bịu), các liền anh, liền chị, cán bộ quản lý văn hóa địa phương và các nhóm người dân không chơi quan họ.

2. Nghiên cứu định lượng

  • Công cụ điều tra: Bảng hỏi gồm 48 câu hỏi (kết hợp câu hỏi mở, câu hỏi đóng hai thái cực Có/Không, câu hỏi nhiều lựa chọn và câu hỏi theo thang đo).
  • Quy mô mẫu: Tổng cộng 300 người tại hai làng Diềm và Bịu.
  • Kỹ thuật chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân lớp (stratified sampling) dựa trên hai tiêu chí: cân bằng giới tính và phân tầng độ tuổi (3 nhóm: cao niên $\ge 60$ tuổi; trung niên $40-59$ tuổi; thanh niên $< 40$ tuổi). Mẫu được thu thập gián tiếp qua cộng tác viên địa phương (7 đội trưởng tại làng Diềm, mỗi đội chọn cố định 30 người từ các hộ gia đình khác nhau = 210 mẫu; 3 tổ trưởng xóm tại làng Bịu, mỗi tổ chọn 30 người = 90 mẫu).
Địa bàn khảo sát Số đơn vị cơ sở Số mẫu điều tra Cơ cấu giới tính Phân tầng độ tuổi
Làng Diềm (Viêm Xá, TP. Bắc Ninh) 07 đội 210 người 50% Nam / 50% Nữ Cao niên ($\ge 60$), Trung niên ($40-59$), Thanh niên ($< 40$)
Làng Bịu (Hoài Thị, H. Tiên Du) 03 tổ xóm 90 người 50% Nam / 50% Nữ Cao niên ($\ge 60$), Trung niên ($40-59$), Thanh niên ($< 40$)
Tổng cộng 10 đơn vị 300 người 150 Nam / 150 Nữ Đảm bảo đồng đều theo 3 nhóm tuổi
  • Nguồn tư liệu lưu trữ: Khai thác gia phả, sắc phong, thần tích, văn bia Hán Nôm, tài liệu quản lý văn hóa địa phương và báo chí truyền thông.

Nội dung chính theo từng chương

Dẫn luận và Chương 1: Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận

Chương này tập trung xác lập tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, tổng quan lịch sử nghiên cứu quan họ theo 3 hướng tiếp cận chính và xây dựng khung lý thuyết (truyền thống – biến đổi, địa – văn hóa, nhân học nhận thức). Đồng thời, chương trình bày chi tiết quy trình điền dã dân tộc học và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân lớp 300 bảng hỏi tại hai làng Diềm và Bịu.

Chương 2: Tục chơi quan họ ở làng Diềm: Lịch sử, quan hệ lề lối và quan họ mới

Chương 2 phân tích làng Diềm (Viêm Xá) như một đơn vị phân tích cơ bản:

  • Lịch sử và không gian cảnh quan: Làng Diềm nằm ven triền đê sông Ngũ Huyện Khê dưới chân núi Kim Lĩnh và núi Thấp. Làng có cấu trúc cổ truyền dạng xương cá với 2 trục lộ chính, bao quanh bởi hào tre, ao đầm và 5 cổng làng (cổng Đông, cổng Đình, cổng Chùa, cổng Tây, cổng Đỏ cùng ngõ Chui). Làng thờ Vua Bà – Thủy tổ dân ca quan họ tại Đền Cùng.
  • Tổ chức bọn quan họ cổ truyền: Làng Diềm chủ yếu tổ chức các "bọn quan họ nữ". Lề lối sinh hoạt quy định nghiêm ngặt về tư cách thành viên, quy tắc xưng hô, ăn mặc, tiếp khách và giữ gìn nền nếp gia đình.
  • Lối sống và sinh hoạt văn hóa: Hoạt động ca hát gắn liền với lễ hội mùa xuân, hội đền Vua Bà, các canh hát tại "nhà chứa".
  • Biến đổi sang "quan họ mới": Khảo sát sự hình thành CLB quan họ, sự chuyển biến từ sinh hoạt tự nguyện trong làng sang phục vụ du lịch và biểu diễn sân khấu. Bảng 1 (trang 80 của văn bản gốc) ghi nhận ý kiến nhận định của cộng đồng làng Diềm về hướng bảo tồn quan họ hiện nay.

Chương 3: Tục chơi quan họ ở làng Hoài Thị và quan hệ kết bạn Diềm – Bịu

Chương 3 tập trung khảo sát làng Hoài Thị (làng Bịu) và mối quan hệ giao hảo đặc thù:

  • Đặc trưng làng Bịu: Làng Bịu chủ yếu hình thành các "bọn quan họ nam". Bảng 2 (trang 110) tổng hợp nhận định của cộng đồng làng Hoài Thị về hướng bảo tồn quan họ.
  • Mối quan hệ kết chạ và kết bạn truyền đời Diềm – Bịu: Đây là cặp làng kết bạn nam – nữ điển hình trong số các cặp làng kết chạ vùng Kinh Bắc (nhắc đến trong các công trình của Đoàn Thi 1973, Lê Danh Khiêm 2010). Tục kết bạn quy định nguyên tắc bất thành văn: các thành viên kết bạn quan họ tuyệt đối không kết hôn với nhau, xưng hô khiêm nhường ("dân em" – "dân anh").
  • Dữ liệu thực chứng về điều kiện và vị thế người chơi quan họ truyền thống:
    • Bảng 3 (tr. 118): Điều kiện để chơi quan họ trong truyền thống.
    • Bảng 4 (tr. 119): Gia cảnh người chơi quan họ trong truyền thống.
    • Bảng 5 (tr. 120): Tỷ lệ người biết về quan hệ kết chạ của quan họ làng mình với làng khác.
    • Bảng 6 (tr. 121): Tỷ lệ người biết về số bọn quan họ trong làng.
    • Bảng 7 (tr. 122): Đánh giá về lối sống của người chơi quan họ so với người không chơi.
    • Bảng 8 (tr. 122): Vị thế của người chơi quan họ trong truyền thống.
    • Bảng 9 (tr. 126): Tỷ lệ xem quan họ hội làng của cộng đồng.

Chương 4: Biến đổi, chính sách và biện pháp bảo tồn quan họ từ quan điểm của cộng đồng

Chương 4 phân tích thực trạng biến đổi và đánh giá chính sách dựa trên số liệu điều tra:

  • Động cơ và nguyện vọng tham gia CLB quan họ:
    • Bảng 10 (tr. 138): Nguyện vọng cho con cháu tham gia CLB quan họ của các hộ gia đình.
    • Bảng 11 (tr. 138): Lý do để mọi người tham gia vào CLB quan họ.
  • Thực hành biểu diễn và tác động kinh tế:
    • Bảng 12 (tr. 142): Nhận định của cộng đồng về việc cho quan họ nhận tiền trong hát hội.
    • Bảng 13 (tr. 144): Tần suất xem chương trình hát quan họ trên TV, đài phát thanh hay băng đĩa của cộng đồng.
    • Bảng 14 (tr. 145): Đánh giá của người dân về chính sách bảo tồn, phát huy quan họ hiện nay của Nhà nước.
  • Mức độ tiếp nhận của thế hệ trẻ và định hướng bảo tồn:
    • Bảng 15 (tr. 154): Nhận định về mức độ yêu thích quan họ của thanh thiếu niên trong làng hiện nay.
    • Bảng 16 (tr. 155): Sở thích nghe quan họ của cộng đồng hiện nay.
    • Bảng 17 (tr. 155): Nhận định tổng hợp của cộng đồng về hướng bảo tồn quan họ hiện nay.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Đổi mới hướng tiếp cận: Luận án mở rộng đối tượng nghiên cứu từ "nghệ thuật hát quan họ" sang "tục chơi quan họ" / "văn hóa quan họ", xem đây là một thiết chế văn hóa – xã hội tổng thể gắn với làng xã cổ truyền Kinh Bắc.
  2. Vận dụng khung lý thuyết nhân học: Kết hợp thành công lý thuyết về tính liên tục và biến đổi văn hóa (Janelli), tiếp cận địa – văn hóa (Bonnemaison, Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh) và nhân học nhận thức (Pike, Cash) để phân tích hiện tượng quan họ từ cả góc nhìn người trong cuộc (emic) và người ngoài cuộc (etic).
  3. Làm rõ bản chất tục kết bạn Diềm – Bịu: Luận chứng tính quy chuẩn của mối quan hệ kết bạn truyền đời nam – nữ, tục xưng hô "nhã ngữ" và mối liên hệ giữa tục kết bạn quan họ với tục kết chạ giữa các làng xã.

Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách

  1. Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng thực chứng: Xây dựng bộ dữ liệu khảo sát 300 mẫu tại hai làng quan họ gốc, phản ánh chân thực nhận thức, thái độ của cộng đồng đối với các chính sách bảo tồn, hiện tượng quan họ nhận tiền trong lễ hội, và sự tiếp nhận của thế hệ trẻ.
  2. Đề xuất chính sách bảo tồn "từ dưới lên": Luận án chỉ ra các hạn chế của xu hướng "sân khấu hóa" và "Nhà nước hóa" quan họ, từ đó khuyến nghị chuyển trọng tâm chính sách sang hỗ trợ chủ thể văn hóa tại các làng gốc, trao quyền cho cộng đồng trong việc tự bảo tồn và trao truyền di sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn địa bàn nghiên cứu thực địa chuyên sâu tại hai làng cổ Diềm (Viêm Xá) và Bịu (Hoài Thị) thuộc tỉnh Bắc Ninh (phía nam sông Cầu). Mặc dù đây là cặp làng kết bạn điển hình, phạm vi này chưa bao quát toàn bộ 49 làng quan họ gốc cũng như các làng quan họ truyền thống ở khu vực bắc sông Cầu (thuộc tỉnh Bắc Giang). Ngoài ra, luận án không đi sâu phân tích kỹ thuật âm nhạc học thuần túy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh các làng quan họ ở vùng bắc sông Cầu (Bắc Giang), nghiên cứu tác động của thương mại hóa du lịch cộng đồng đối với không gian diễn xướng cổ truyền, và đánh giá hiệu quả lâu dài của các chính sách đãi ngộ nghệ nhân dân gian.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học định lượng (chọn mẫu phân lớp theo giới tính và lứa tuổi) trong nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đối với cơ quan quản lý văn hóa (Sở VHTTDL Bắc Ninh, Bắc Giang, Bộ VHTTDL): Cung cấp các số liệu thực chứng từ cộng đồng để điều chỉnh các chương trình bảo tồn di sản, tránh việc hành chính hóa hoặc làm biến dạng các giá trị sinh hoạt văn hóa dân gian gốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lựa chọn hai làng Diềm và Bịu làm địa bàn nghiên cứu chính?

Làng Diềm (Viêm Xá) và làng Bịu (Hoài Thị) là cặp làng quan họ cổ có mối quan hệ kết bạn truyền đời điển hình ở vùng Kinh Bắc. Trong khi làng Diềm chủ yếu tập hợp các bọn quan họ nữ và là nơi có Đền Cùng thờ Thủy tổ Quan họ (Vua Bà), thì làng Bịu lại chủ yếu có các bọn quan họ nam. Mối quan hệ kết bạn nam – nữ giữa hai làng này thể hiện đầy đủ các chuẩn mực lề lối cổ truyền của tục chơi quan họ.

2. Sự khác biệt căn bản trong cách tiếp cận của luận án so với các nghiên cứu trước đây là gì?

Phần lớn các nghiên cứu trước đây tiếp cận quan họ dưới góc độ âm nhạc học (nghiên cứu làn điệu, thang âm, bài bản hát) hoặc văn học dân gian (ca từ). Luận án này tiếp cận quan họ dưới góc độ Dân tộc học và Nhân học nhận thức, nghiên cứu "tục chơi quan họ" như một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng thể, tập trung vào tiếng nói và nhận thức của chủ thể văn hóa (người dân địa phương).

3. Phương pháp điều tra định lượng trong luận án được tiến hành như thế nào?

Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi 48 câu hỏi, tiến hành khảo sát trên 300 mẫu (210 mẫu tại 7 đội thuộc làng Diềm và 90 mẫu tại 3 tổ thuộc làng Bịu). Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân lớp, cân bằng 50% nam – 50% nữ và phân bổ đều qua 3 nhóm tuổi: cao niên ($\ge 60$ tuổi), trung niên ($40-59$ tuổi) và thanh niên ($< 40$ tuổi), bảo đảm mỗi hộ gia đình chỉ có một người tham gia khảo sát.

4. Luận án ghi nhận hiện tượng gì trong việc thực hành biểu diễn quan họ hiện nay?

Luận án ghi nhận sự chuyển dịch từ sinh hoạt văn hóa tự nguyện, mang tính nghi lễ và thâm tình sang các hình thức "quan họ mới" trong các CLB, biểu diễn sân khấu hóa và phục vụ du lịch. Dữ liệu khảo sát phản ánh các luồng ý kiến khác nhau trong cộng đồng về việc liền anh liền chị nhận tiền khi hát hội và mức độ quan tâm của giới trẻ đối với các làn điệu lề lối cổ truyền.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Tục chơi quan họ xứ Kinh Bắc (Bắc Ninh) xưa và nay" là công trình nghiên cứu dân tộc học hệ thống về sinh hoạt văn hóa quan họ từ truyền thống đến hiện đại. Bằng việc kết hợp lý thuyết biến đổi văn hóa, tiếp cận địa – văn hóa và nhân học nhận thức cùng phương pháp điền dã kết hợp định lượng 300 mẫu tại hai làng Diềm và Bịu, tác giả đã làm rõ cấu trúc xã hội, lề lối kết bạn và thực trạng biến đổi của di sản. Công trình cung cấp những luận cứ thực chứng quan trọng, khẳng định vai trò trung tâm của cộng đồng chủ thể trong việc bảo tồn bền vững di sản văn hóa phi vật thể.