CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG KHU PHỐ VĂN HÓA 1. Các khái niệm cơ bản. Khái niệm văn hóa và khu phố văn hóa. Khái niệm văn hóa: hiện nay có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, chúng ta xem xét một định nghĩa mang tính hệ thống của Giáo sư – Tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Khái niệm khu phố văn hóa: theo Tiến sĩ Huỳnh Quốc Thắng “Ấp văn hóa hay khu phố văn hóa không có gì khác hơn là một mô hình nông thôn mới hoặc một đô thị mới được xây dựng trên nền tảng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với quá trình đô thị hóa và quá trình thực hiện cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ gìn, phát huy mọi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, của địa phương” (Huỳnh Quốc Thắng, 2003, trang 37 tạp chí Văn hóa Nghệ thuật). Theo bà Tô Thị Bích Châu - Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - xây dựng khu phố văn hóa là cả một quá trình tích cực tham gia, vận động, hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng như giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn, xây nhà tình nghĩa, nhà tình thương, bài trừ tệ nạn xã hội, xóa mù chữ, giảm hộ đói nghèo… với sự hưởng ứng của nhiều ban ngành, đoàn thể, doanh nghiệp, các chợ, trường học…; ngoài ra cũng bao gồm nhiều hoạt động như tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, cải tạo, mở rộng các tuyến đường, tuyến hẻm, hình thành những tuyến đường mới làm thay đổi lớn về mỹ quan đô thị, các mảng xanh ngày càng phát triển nhiều hơn, tình hình vệ sinh môi trường, trật tự lòng lề đường phải có chuyển biến, góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Khái niệm văn minh, đô thị. Khái niệm văn minh: theo Giáo sư Trần Quốc Vượng “Văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu 123doc 8 vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại” (Trần Quốc Vượng, 1998, trang 19).
Viện sĩ người Nga D. Likhachov từng nhận xét, “Văn hóa và văn minh là những khái niệm gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau, song không đồng nhất. Văn hóa giàu tính nhân bản, nó hướng tới những giá trị muôn thuở; trong khi đó thì văn minh hướng tới sự hợp lý, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi”. Khái niệm đô thị: theo Tiến sĩ Tôn Nữ Quỳnh Trân, đô thị là một thực thể đã xuất hiện trong lịch sử loài người từ xa xưa, từ khi mà ở nơi này, nơi khác bắt đầu hình thành một nếp sinh hoạt khác biệt với nếp sinh hoạt vẫn hằng tồn tại ở thôn quê với nền sản xuất nông nghiệp.
Trong tiếng Việt có nhiều từ để chỉ khái niệm đô thị như đô thị, thành phố, thị xã, thị trấn… trong đó các từ “đô, thành, trấn, xã” có chức năng thành chính và “thị, phố” có nghĩa là chợ, nơi buôn bán; như vậy đô thị là nơi vừa có chức năng hành chính lẫn kinh tế. Trong The America Encyclopedia, đô thị được trình bày với một quan niệm như sau: “Như thông thường vẫn sử dụng, thành phố (city) chỉ là một tập hợp dân cư có một quy mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sống nông thôn ở miền thôn dã… Theo nghĩa đó, thành phố là một hiện tượng chung của xã hội văn minh”. - Theo quan niệm chung, đô thị bao giờ cũng gắn liền với văn minh, là nơi có điều kiện tốt nhất để tổ chức xây dựng một xã hội văn minh. Một đô thị mà không văn minh thì không thể là một đô thị được.
Trong tất cả các thời đại và các khu vực, từ cổ đại đến hiện đại thì đô thị là nơi phát triển cao nhất của trí lực, sáng kiến và thành tựu. Chừng nào mà con người còn ở trong giai đoạn chăn nuôi và nông nghiệp thì vẫn còn có ít chất kích thích để phân chia chức năng kinh tế; toàn bộ năng lực của con người bị thu hút vào công việc lo cung cấp lương thực, nhưng ở đô thị thì có sự phân công lao động và những khả năng tạo ra thặng dư kinh tế, do đó mà đưa đến sự tiến bộ về của cải, thời gian rảnh rỗi, giáo dục trí óc và sự phát triển của nghệ thuật và khoa học. Khái niệm văn hóa đô thị, môi trường văn hóa. Khái niệm văn hóa đô thị: Tiến sĩ Tôn Nữ Quỳnh Trân phân tích, văn minh là bản chất cơ bản tạo nên sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn, và những tính 123doc 9 chất của đô thị cùng nền văn hóa của đô thị cũng xuất phát từ bản chất này.
Văn hóa và văn minh có nhiều điểm khác nhau, nhưng tại đô thị, văn hóa và văn minh kết hợp vào nhau để tạo nên một bản sắc văn hóa của đô thị, vì vậy văn hóa đô thị là điểm trùng nhau giữa văn minh và văn hóa. Xét trong phạm trù văn hóa, văn hóa đô thị thường xuất hiện như là một vùng văn hóa, đồng hành với các vùng văn hóa khác như văn hóa làng xã, văn hóa biển… và là một nội dung trong vô số nội dung vô cùng phong phú của văn hóa. Khái niệm môi trường văn hóa: theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, môi trường văn hóa là tổng hòa những thành tố vật chất và tinh thần, trong một không gian và thời gian cụ thể, trong đó con người và quan hệ trực tiếp của con người với tự nhiên, với xã hội là nhân tố quan trọng nhất. (Nguyễn Thị Hậu, 2014) Khái niệm môi trường văn hóa đô thị: theo TS.
Nguyễn Thị Hậu, môi trường văn hóa đô thị có nội hàm rộng lớn, được coi như là sự tổng hòa của lối sống đô thị; đó là sự tổng hòa các dạng hoạt động sống điển hình của các cư dân đô thị, bao gồm các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của lối sống. Ở đó con người là thể thống nhất của các điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử trong đô thị. Trong quá trình hình thành và phát triển đô thị, mỗi cộng đồng xã hội ở đó đã tạo nên cách sống, phương thức sống và các hình thức sống riêng biệt của mình (Nguyễn Thị Hậu, 2014). Tác giả Đỗ Huy nhận định rằng tiếp cận văn hóa đô thị là tiếp cận lối sống: “Nói đến môi trường văn hóa đô thị là nói đến tổng thể của sự vận động sáng tạo, lưu giữ, tái tạo, tiêu dùng văn hóa của các cư dân đô thị.
Văn hóa đô thị bao gồm các mối quan hệ giữa con người, các cá nhân, cộng đồng ở đô thị. Văn hóa đô thị biểu hiện từ trong cơ cấu văn hóa đô thị. Các kiến trúc vườn hoa, bến bãi, cây xanh 123doc 10 đường phố. Văn hóa đô thị quan hệ toàn diện về các mặt vật chất và mặt tinh thần của lối sống đô thị.
Ở đó bao gồm chất lượng sống, phong cách sống, sự sản xuất, quản lý và tiêu dùng văn hóa. Ở đó có văn hóa pháp luật, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ. Vì thế nói đến văn hóa đô thị là nói đến lối sống. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa, nếp sống văn minh.
Hồ Chí Minh đã viết trong mục Đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942 - 1943): “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng như vậy mới có thể đóng góp được vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”, định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất gần với cách hiểu văn hóa mà hàng chục năm sau UNESCO mới nêu ra trong Tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến ngày 6/8/1982 ở Mexico.
“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi 123doc 11 không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ngay từ những ngày đầu tiên sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân vừa mới ra đời. Tháng 1/1946, Người viết cuốn sách Đời sống mới (3/1947) để hướng dẫn cụ thể mọi người tích cực tham gia xây dựng và cho thành lập Ủy ban Trung ương vận động “Đời sống mới”. Người viết: “Thực hành đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính; nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì sẽ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân; nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm, chính là nhen lửa cho đời sống mới”.
Người chỉ rõ việc xây dựng đời sống mới phải bắt đầu từ việc “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”.