Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng của người Chăm (Heng dalam ndam Cuh Cam) Chương 3: Hình tượng Heng trong nghệ thuật Chăm Kết luận Phụ lục 13 14 Nguồn: Sưu Tầm 15 16 Chương Một: Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Thuật ngữ khoa học liên quan đến đề tài Trong phạm vi luận văn, hình tượng Heng được chúng tôi nghiên cứu như một biểu tượng tiêu biểu trong văn hóa Chăm. Vì vậy, để tiếp cận với đề tài này một cách có khoa học chúng tôi có sử dụng một số thuật ngữ cơ bản để làm nền tảng trong việc nghiên cứu đề tài này. Hình tượng Hình tượng là một đối tượng được sản sinh ra bằng hư cấu hay sự tưởng tượng sáng tạo của nghệ sĩ theo những quan điểm thẩm mỹ nhất định nó giúp người ta hình dung được các sự vật, các sự kiện, những con người, như khả năng vốn có của chúng.
Ở mỗi loại hình nghệ thuật, hình tượng được bộc lộ dưới nhiều dạng khác nhau muôn hình muôn vẽ tùy theo lý tưởng thẩm mỹ nói chung và quan điểm về thẩm mỹ cụ thể của từng tác giả. Song dù khác nhau thế nào, hình tượng vẫn có một cái chung: Hình tượng là kết quả của một phương thức tái tạo một đối tượng nào đó (con người, hoàn cảnh xã hội, cảnh vật,v.) dưới một dạng tương đồng hoặc gần gũi và phù hợp với khả năng tồn tại khách quan của chúng(5). Biểu tượng Chúng ta biết rằng con người thể hiện những ý nghĩa và tình cảm của mình nhờ các ký hiệu. Nhưng văn hóa thể hiện không đơn giản trong các ký hiệu mà là trong các biểu tượng.
Khái niệm biểu tượng chiếm một vị trí đặc biệt trong văn hóa học. Biểu tượng là kí hiệu, nhưng là loại ký hiệu hoàn toàn đặc biệt. Nếu ký hiệu đơn giản và có thể ví như cánh cửa đi vào thế giới vật thể của các ý nghĩa (các hình ảnh và khái niệm), thì biểu tượng là cánh cửa dẫn vào thế giới phi vật thể của các ý niệm. Thông qua các 5 htt://dictionary.vn (Bách khoa toàn thư Việt Nam: hình tượng) 17 biểu tượng chúng ta thấy được “chốn thiêng liêng” của văn hóa là các ý niệm, các ý niệm này sống trong chốn sâu thẳm vô thức của tâm hồn và gắn bó mọi người theo một cảm nhận thống nhất đối với thế giới và bản thân mình.
Đồng thời, biểu tượng đích thực không chỉ đơn giản “biểu thị” ý niệm mà còn mang trong mình đầy đủ sức mạnh hữu hiệu của nó. Biểu tượng là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học sử dụng với nội dung bao hàm khác nhau. Khái niệm “biểu tượng” (tiếng Pháp: Symbole, tiếng Anh: Symbol), được dùng rộng rãi trong khoa học và đời sống. Biểu tượng là hình ảnh về vật trong đầu óc, ý thức tư duy con người.
Hình thức cao nhất của sự phản ánh trực quan cảm tính xã hội trên cơ sở tri giác. Khác với tri giác, biểu tượng không còn phản ứng rời rạc, các thuộc tính của sự vật. Sự vật được phản ánh dưới hình thức biểu tượng có tính chỉnh thể. Những biểu tượng của con người thường được bộc lộ bằng một lớp vỏ ngôn ngữ và chứa nhiều yếu tố của sự phản ánh khái quát.
Biểu tượng là khâu trung gian giữa giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lý tính(6). Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng. Chim bồ câu là “một biểu tượng hòa bình” [Hoàng Phê: 2005, 66 – 67], áo dài là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam. Cũng như theo từ điển bách khoa văn hóa học, khái niệm biểu tượng được hiểu là “một loại kí hiệu đặc biệt thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó.
Biểu tượng văn hóa khác với kí hiệu thông thường ở chỗ chứa đựng tâm lý với sự tồn tại mà nó biểu trưng”(7). Freud, biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn các xung đột. Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một phạm vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng… 6 www.vn/Portal/page/Portal/dhsphn (Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội: Biểu tượng nghệ thuật, Đỗ Văn Hiểu).A 2002: Từ điển bách khoa văn hóa học (Vũ Đình Phùng dịch), Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian, Hà Nội. 18 Theo từ điển Xã hội học, từ “symbol” mang ý nghĩa tiếng Việt là “tượng trưng, biểu tượng, biểu trưng”.
Tượng trưng có vị trí đặc biệt trong các dấu hiệu ở chừng mực là nó thể hiện một cách tiềm tàng mối liên hệ nhất định về ý nghĩa, bối cảnh văn hóa xã hội và như vậy là truyền tới một thông tin, mà nếu so sánh thì phức tạp hơn. Khi đó, tượng trưng không có nội dung, ý nghĩa, phải quy định trước một cách bắt buộc hoặc phải thông báo rõ rẹt. Chúng đưa ra một lời đề nghị với ý nghĩa khá mơ hồ và có thể có người nhận, cũng có thể không. Vậy dấu hiệu tượng trưng có những dấu hiệu này phụ thuộc vào sự sẵn sàng chấp nhận thông tin tượng trưng ở một người nhận.
Khi xử lý thực nghiệm các hoạt động có tính tượng trưng, phải xuất phát từ điểm là trong đời sống xã hội luôn xuất hiện những dạng hỗn hợp các thể loại tượng trưng khác nhau. Phần lớn các tượng trưng của loài người có nguồn gốc xã hội mà ý nghĩa của nó xuất phát từ việc sử dụng trong cộng đồng. Nhưng dù có thuyết quy ước này thì các tượng trưng vẫn không được chọn một cách tùy tiện mà chúng đã dần hình thành trong quá trình lịch sử của một nền văn hóa hoặc xã hội sau một sự kiện đã được khắc sâu vào trí nhớ của tập thể(8). Nguồn gốc của biểu tượng gắn liền với khả năng nhận thức của con người trong lịch sử.
Thời nguyên thủy, đời sống tinh thần của con người bị chi phối bởi những tín ngưỡng thần bí, các cử chỉ, hình vẽ hiện diện cho ma thuật để được xem như biểu tượng. Sau này, biểu tượng được tôn giáo, nghệ thuật và những hình thức văn hóa kế thừa. Một biểu tượng văn hóa có xu hướng bổ sung ý nghĩa trong tiến trình lịch sử của nó nhưng sau một thời gian ý nghĩa đó trở nên cố định và đôi khi khó hiểu đối với con người thời sau. Đặc biệt trong văn hóa Chăm biểu tượng trong các nghi lễ chiếm một vị trí rất quan trọng, ở đó con người thể hiện những ước muốn, tình cảm của mình đến các thần linh tối cao của họ, họ mong muốn cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình yên.
Biểu tượng trong nghi lễ Biểu tượng nghi lễ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong văn hóa Chăm. Trong nghi lễ của người Chăm có rất nhiều biểu tượng và mỗi biểu tượng ấy chứa 8 G. Trommsdorff 2002: Từ điển Xã Hội Học, NXB Thế Giới, trang 530 – 531. 19 đựng nhiều ý nghĩa khác nhau.
Vì vậy, tìm hiểu biểu tượng trong nghi lễ sẽ giúp hiểu được văn hóa của tộc người tiến hành nghi lễ ấy. Một nhà khoa học, Victor W. Tunner định nghĩa “nghi lễ” (ritual) là một hành vi quy định có tính chất dành cho những dịp không liên quan đến công việc có tính chất kĩ thuật hàng ngày, mà có quan hệ với các niềm tin vào đáng tối cao hay có sức mạnh thần bí(9). Biểu tượng nghi lễ (ritual symbol) là đơn vị nhỏ nhất, cái giữ lại những thuộc tính cụ thể của hành vi nghi lễ; nó là đơn vị cơ bản của một cấu trúc cụ thể trong bối cảnh nghi lễ.
Tunner cho rằng nghi lễ chính là kho chứa các biểu tượng có ý nghĩa bởi ở đó thông tin được tiết lộ và được coi là độc quyền, là đối phó với các giá trị quan trọng của cộng đồng. Biểu tượng không chỉ cho chúng ta thấy các giá trị xã hội và tôn giáo quan trọng mà còn cho biết sự biến đổi của hành vi và thái độ của con người. Việc xử lý các biểu tượng trong nghi lễ cho thấy nhiều quyền hạn của mình để hành động theo và thay đổi những người tham gia thực hiện nghi lễ(10). Như vậy, biểu tượng luôn gắn bó mật thiết với quyền lợi, mục đích, ý nghĩa, phương tiện của con người cho dù những cái này hiện hữu rõ nét hay luận ra từ hành vi quan sát được.
Để xem xét cấu trúc và những thuộc tính của các biểu tượng nghi lễ có thể luận ra từ ba nguồn tài liệu: Hình thái bên ngoài và những tính chất có thể quan sát được; sự giải thích dựa vào những người thực hành nghi lễ và dân cúng; những bối cảnh quan trọng(11). Nhìn chung, biểu tượng nghi lễ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm hiểu về hình tượng Heng mà đề tài hướng đến. Tunner 1964a: Symbols in Ndembu ritual, in M.Gluckman AthroPology, Manchester University Press, London, page 19. Tunner 1968: The drums of symbols, Cornell University Press, Ithaca and London, page 2.
Tunner 1964: Symbols in Ndembu ritual, in M.Gluckman AthroPology, Manchester University Press, London, page 242 – 243). Type và motif Type và motip là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian. Ngoài ra, Type – mô - típ còn xuất hiện ở các loại hình thức khác trong nhiều lĩnh vực nhưng ở đề tài này chúng tôi chú trọng vào tính bền vững của truyện kể trong dân gian. Vì vậy, Type là những cốt kể có thể tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng.
Dù đơn giản hay phức tạp, truyện nào được kể như một cốt kể độc lập đều được xem là một type. Có những truyện dài chứa hàng tá mô - típ, lại có những truyện kể ngắn như mẫu kể trong các chùm truyện về súc vật có thể chỉ có một mô - típ đơn lẻ(12). Thuật ngữ motif (mô-típ) dùng để chỉ những yếu tố đơn giản nhất nhưng có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện của tác phẩm nghệ thuật (còn được gọi là mẫu đề). Mô – típ là một sự khái quát nghệ thuật nguyên sơ, phản ánh những ấn tượng quan trọng nhất và có tính lặp lại mà con người tiếp nhận được trong quá trình quan sát, nhận thức cuộc sống.
“Lĩnh vực mà mô – típ nghiên cứu nhiều nhất và phân tích cẩn thận nhất là truyện kể dân gian như các loại truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, ballad”. Trong truyện kể dân gian, mô – típ được xem là công thức để triển khai cốt truyện hay còn được xem là yếu tố hợp thành cốt truyện.