mở đầu và triển khai mạnh mẽ cuộc chinh phục vùng châu thổ một cách liên tục trong suốt gần hai thiên niên kỷ (4.000 năm cách ngày nay) [6, tr. Trong một số di tích có niên đại kéo dài đến khoảng trước Công nguyên như Lộc Giang, Gò Cao Su, Rạch Rừng, Cổ Sơn Tự, Lò Gạch, Gò Ô Chùa…, khảo cổ học đã thu thập một số di vật hoặc loại hình di vật có những biểu hiện liên hệ hoặc gần gũi với các sản phẩm thuộc một nền văn hóa muộn hơn nối tiếp sau đó là văn hóa Oùc Eo 18 của đồng bằng Nam Bộ. Những di tích kể trên đã được các nhà khảo cổ gọi tên là những di tích Tiền Oùc Eo [6], [7], [12], [31], [34], trong đó Gò Ô Chùa là một di tích có nội hàm văn hóa rất phong phú và đặc sắc, được tác giả tiếp cận, nghiên cứu để thực hiện luận văn này. Về mặt thuật ngữ, khái niệm “Văn hóa Tiền Óc Eo” được tác giả dùng để chỉ giai đoạn văn hóa thuộc thời đại kim khí trước giai đoạn văn hóa Óc Eo, có thể hiểu rằng thuật ngữ này tương thích với các thuật ngữ “Tiền sử muộn”; “Sơ sử”; “Giai đoạn tiền giai cấp” hay “Giai đoạn tiền nhà nước”- những thuật ngữ biểu thị thời kỳ mà các xã hội người cổ ở Nam Bộ và Đông Nam Á đất liền và hải đảo chuyển mình từ trạng thái “nguyên thủy” qua ngưỡng cửa của thời đại mà F.
Engels gọi là “Văn minh” [31, tr. 19 Chương II DI TÍCH VÀ DI VẬT 2. Di tích: Gò Ô Chùa nằm trên địa phận ấp 2, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng (Long An), có tọa độ 11000’18” vĩ độ bắc- 105046’18” kinh độ đông, cách biên giới Việt Nam- Campuchia khoảng 2 km theo đường chim bay. Đây là một gò đất rộng khoảng 6 ha, có chiều dài 450m theo trục đông bắc- tây nam và rộng khoảng 150m.
Gò có 3 đỉnh nối tiếp nhau, đỉnh giữa cao hơn mặt ruộng xung quanh gần 4m, hai đỉnh còn lại thấp hơn chút ít. Di chỉ Gò Ô Chùa được cán bộ Bảo tàng Long An và Trung tâm Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ phát hiện từ năm 1988 (Bản đồ 2. Từ tháng 4 tới tháng 5, năm 1997, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Long An phối hợp khai quật Gò Ô Chùa lần đầu tiên. Cuộc khai quật này được triển khai ở đỉnh giữa với tổng diện tích là 74,50m2 , phát hiện 8 mộ huyệt đất và 4 mộ vò (chôn trẻ em).
Nhận xét về di tích này, những người khai quật cho rằng: “Gò Ô Chùa vừa là di chỉ cư trú vừa là khu mộ táng,. có tầng văn hóa dày và được bảo tồn rất tốt. Gò Ô Chùa có mối quan hệ giao lưu vừa có mối quan hệ thế thứ với các di tích quanh khu vực Đồng Tháp Mười như Gò Hàng, Vĩnh Châu, Gò Đế và xa hơn nữa là Gò Cao Su, Long Bửu, Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ. Đây là một di tích rất quan trọng cho thấy sự phát triển nội sinh từ giai đoạn Tiền sử sang văn hóa Óc Eo” [8, tr.
Thực hiện chương trình hợp tác giữa Sở Văn hóa- Thông tin Long An, Bảo tàng Long An với Trường ĐHKHXHNV- ĐHQG Hà Nội 20 và Viện Khảo cổ học Chung và So sánh (nay là Viện Khảo cổ học về Các nền văn hóa bên ngoài Châu Aâu thuộc Viện Khảo cổ học quốc gia Cộng hòa Liên bang Đức) về việc nghiên cứu di tích Gò Ô Chùa, từ năm 2003 đến nay, đã có 3 cuộc khai quật tiếp theo, nhằm từng bước làm rõ diện mạo văn hóa của di tích này. Cuộc khai quật Gò Ô Chùa năm 2003 được thực hiện từ ngày 03-5-2003 tới ngày 14-5-2003. Cuộc khai quật triển khai 1 hố 9m2 ở đỉnh giữa, độ sâu khai quật là 2,60m, hố khai quật có 18 lớp khai quật. Đã phát hiện 1 mộ huyệt đất và 3 cụm gốm.
Cuộc khai quật Gò Ô Chùa năm 2005 được thực hiện từ ngày 23-02-2005 tới ngày 04-4-2005. Cuộc khai quật triển khai ở đỉnh phía nam với 7 hố 5x2m và phần mở rộng 11,95m2 (tổng cộng 81,95m2), độ sâu khai quật khoảng 0,9m- 1,75m, các hố khai quật có từ 5 tới 7 lớp văn hóa. Đã phát hiện 31 ngôi mộ huyệt đất. Cuộc khai quật Gò Ô Chùa năm 2006 được triển khai từ ngày 30-12-2005 tới ngày 26-01-2006.
Các hố đào được triển khai lần này gồm có: ở phía bắc 1 hố thám sát 6,5x3m (22,68m2) ở phía nam 4 hố khai quật 5x2m (40,4m2). Ở đỉnh phía bắc, đã phát hiện 13 mộ huyệt đất và 3 mộ vò; ở đỉnh phía nam đã phát hiện 4 mộ huyệt đất. Địa tầng: a) Khu vực đỉnh giữa: Khu vực đỉnh giữa của Gò Ô Chùa được khai quật vào năm 1997, trong thời gian từ tháng 4 tới tháng 5, năm 1997, do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Long An phối hợp, đây là cuộc khai quật lần thứ nhất. Những người khai quật đã mở 1 hố (H1) ở rìa phía bắc và 1 hố (H2) ở sườn phía nam.
Diện tích H1 là 40m2 (5x8m). Diện tích H2 là 27m2 (3x9m). Sau đó H2 được mở rộng thêm 3 m2 do gặp mộ táng. Ngoài ra 21 còn có 2 hố thám sát (TS.B) ở giữa đỉnh gò, diện tích mỗi hố 2,25m2 (1,5x1,5m).
Như vậy tổng diện tích khai quật ở đỉnh giữa của Gò Ô Chùa là 74,50m2. Nhìn chung, kết cấu địa tầng trong các hố khai quật ở Gò Ô Chùa khá giống nhau. Chỉ có một số khác biệt về độ dày của các lớp và mức độ xáo trộn do mộ táng và hoạt động của con người của con người gây ra. Chiều dày trung bình của tầng văn hóa ở đỉnh giữa Gò Ô Chùa khoảng trên dưới 2m, chỗ sâu nhất (ở H1) 2,50m; chỗ nông nhất (ở H2) 1,70m, có thể phân thành những tầng vị chính (hay lớp văn hóa) như sau: - Lớp mặt, dày trung bình 0,20m, là lớp đất canh tác màu nâu, có kết cấu rắn chắc.
Trong lớp này chứa nhiều hiện vật khảo cổ, đặc biệt là mảnh gốm và những đồ vật hiện đại. Ở ô b2 H1 phát hiện được 1 cụm mảnh gốm, 1 bình gốm bị vỡ miệng (BV 2.2(1),9), 3 chiếc chuông nhỏ bằng đồng (BV 2. 12,13), mẫu xương người và 1 răng nanh hổ đã mủn nát. Đây cũng là một trong những bằng chứng cho thấy rằng thực ra lớp mặt cũng chính là tầng văn hóa, nhưng đã bị san ủi một phần.
- Tầng vị 1 (tương đương lớp khai quật 2-3 của H1 và H2): Dày trung bình 0,40- 0,50m, đất màu nâu sẫm, lẫn nhiều mẫu sạn màu đỏ, xám giống như đất nung cháy, tầng này có nhiều chạc gốm, mảnh gốm và hiện vật gốm. - Tầng vị 2 (tương đương lớp khai quật 4-6 của H1; 4-5 của H2): Dày trung bình 0,5- 0,6m gồm những vỉa đất màu đỏ gạch, màu xám chồng lên nhau hoặc xen kẽ nhau thành từng cụm, hiện vật kém phong phú hơn so với tầng vị 1, mộ huyệt đất tập trung ở tầng vị này là chính. 22 - Tầng vị 3 (tương đương lớp khai quật 7-9 của H1; 6-7 của H2): Dày trung bình khoảng 0,30m, đất tơi xốp, có màu xám vàng lẫn nhiều tro than và mật độ mảnh gốm ken dày đặc, mảnh chạc gốm và mảnh gốm có kích thước lớn cùng nhiều xương, sừng, gạc hươu-nai. - Tầng vị 4 (tương đương lớp khai quật 10-12 của H1; 8 của H2): Dày trung bình 0,30m, đất tơi xốp giống tầng vị 3 nhưng không có chạc gốm và mộ huyệt đất mà chỉ có mộ vò chôn trẻ em.
- Sinh thổ thuộc loại sét pha cát dẻo, mềm khi mới đào nhưng khá rắn chắc lúc khô. Phần tiếp giáp với tầng văn hóa dày khoảng 0,20m, sinh thổ có màu xám đen do than tro và chất hữu cơ ngấm từ tầng trên xuống. Ở sâu hơn, sinh thổ có màu trắng ngà. Bề mặt sinh thổ không bằng phẳng, có những ô trũng không có hình dáng ổn định ăn sâu xuống nền sinh thổ bên dưới 0,20m, đặc biệt là ở H2 [28], [29].
Cuộc khai quật lần thứ nhất ở đỉnh giữa đã phát hiện 8 ngôi mộ huyệt đất, 4 mộ vò (chôn trẻ em), trên 57.260 mảnh chạc gốm (trong đó có nhiều mảnh chạc có dấu 2 ngón tay, 4 mảnh chạc hình mỏ neo), 21 viên bi gốm, 548 mảnh gốm ghè tròn, 37 dọi se chỉ, 40 bàn xoa gốm, 1 mảnh khuôn đúc bằng đất nung, 2 bàn mài bằng đá, 38 mũi nhọn bằng xương- sừng (cùng 2 hiện vật khác), 3 chuông nhỏ bằng đồng, 7 mũi tên bằng sắt, 2 mũi lao bằng sắt (cùng 7 hiện vật bằng sắt khác). Cuộc khai quật lần thứ hai tại địa điểm Gò Ô Chùa (tháng 5- 2003), được Bảo tàng Long An, Trường ĐHKHXH & NV Hà Nội phối hợp cùng Viện Khảo cổ học Chung và So sánh (CHLB Đức) tiến hành với một hố thăm dò 8m² (4x2m), sau đó mở rộng thêm 1m² nơi phát hiện mộ táng trên đỉnh Giữa, kết quả như sau: 23 Về địa tầng: dày trung bình 2m (nơi sâu nhất 2,60m), kết cấu không khác mấy so với các hố khai quật năm 1997 (BA 2. Về di tích: phát hiện 1 mộ đất, còn bảo tồn khá nguyên vẹn. Biên mộ xuất hiện khoảng từ lớp khai quật 3 (độ sâu cách mặt đất 50- 60cm), là mộ của giai đoạn hình thành lớp đất tầng vị 1, người chết nằm ở độ sâu 1,34-1,49m, đầu hướng về phía đông nam, cườm tay trái đeo một vòng đá 8 (mặt cắt hình chữ D).
Về di vật, đã phát hiện 6.581 mảnh chạc gốm, 13.109 mảnh gốm cùng 4 đồ gốm phục nguyên, 4 mảnh cà-ràng, 6 viên bi gốm, 1 dọi se chỉ, 1 vòng tay (tùy táng) bằng đá, 1 bàn mài, 1 chày nghiền bằng đá, 16 mũi nhọn bằng xương- sừng và 1 mảnh rỉ đồng (không xác định được hình dạng). Đoàn khai quật Gò Ô Chùa lần thứ II nhận định: tư liệu của cuộc khai quật lần thứ II ở Gò Ô Chùa khẳng định một số nhận xét của người khai quật lần thứ I về tính chất niên đại của di tích cũng như mối liên hệ về đồ gốm với một số di tích đồng đại trong khu vực. Bên cạnh đó những người khai quật lần này còn đặt ra những mối quan tâm xung quanh di tích và di vật, đặc biệt là về chạc gốm và chức năng của chạc gốm [8, tr. Trong tháng 2-3 năm 2005 và tháng 1 năm 2006, Bảo tàng Long An, Trường ĐHKHXH & NV Hà Nội phối hợp cùng Viện Khảo cổ học về các nền văn hoá ngoài châu Âu (CHLB Đức) đã tổ chức khai quật lần thứ ba và lần thứ tư địa điểm Gò Ô Chùa với tổng diện tích 148,62 m2 .