Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá Tại Lăng Các Bà Hoàng Thời Nguyễn Ở Huế

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng thời nguyễn ở huế, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề

Trường đại học

Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ nghệ thuật

2019

214
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÁ

1.1. Một số khái niệm liên quan đến nghệ thuật trang trí chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng thời Nguyễn

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu mỹ thuật cung đình thời Nguyễn và về nghệ thuật chạm khắc đá

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CHẤT LIỆU VÀ CÁC HÌNH TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÁ TẠI LĂNG CÁC BÀ HOÀNG THỜI NGUYỄN

2.1. Đặc điểm và vai trò của chất liệu đá trong mỹ thuật thời Nguyễn

2.2. Nghệ thuật chạm khắc đá thời Nguyễn

2.3. Chạm khắc đá tại lăng của các bà hoàng thời Nguyễn

2.4. Một số hình tượng tiêu biểu trong trang trí chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng thời Nguyễn

3. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÁ TẠI LĂNG CÁC BÀ HOÀNG THỜI NGUYỄN

3.1. Giá trị thẩm mỹ truyền thống và tâm linh trong nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng thời Nguyễn

3.2. Yếu tố tam giáo trong nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng của các bà hoàng thời Nguyễn

3.3. Một số đặc trưng ngôn ngữ chủ đạo thể hiện trong chạm khắc đá tại lăng của các bà hoàng thời Nguyễn

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá Tại Lăng Các Bà Hoàng

Nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng thời Nguyễn ở Huế là một phần quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam. Nghệ thuật này không chỉ thể hiện sự tinh xảo trong kỹ thuật mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân đối với các bà hoàng. Các tác phẩm chạm khắc đá tại đây mang đậm dấu ấn văn hóa và lịch sử, góp phần làm phong phú thêm bức tranh nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

1.1. Lịch Sử Hình Thành Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá

Nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng bắt đầu từ thời kỳ đầu của triều Nguyễn. Các nghệ nhân đã sử dụng đá tự nhiên để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, thể hiện sự kết hợp giữa truyền thống và sáng tạo. Những hình ảnh chạm khắc không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa tâm linh.

1.2. Đặc Điểm Kỹ Thuật Chạm Khắc Đá

Kỹ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng được thực hiện bằng tay, đòi hỏi sự tỉ mỉ và khéo léo. Các nghệ nhân đã sử dụng nhiều công cụ khác nhau để tạo ra những chi tiết tinh xảo, từ hoa văn đến hình tượng. Điều này không chỉ thể hiện tài năng mà còn là sự cống hiến cho nghệ thuật truyền thống.

II. Những Thách Thức Trong Bảo Tồn Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá

Bảo tồn nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng đang đối mặt với nhiều thách thức. Thời gian, thiên nhiên và con người đều có thể gây ra những tổn hại cho các tác phẩm nghệ thuật này. Việc bảo tồn không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn cần sự chung tay của cộng đồng.

2.1. Tác Động Của Thời Gian Đến Nghệ Thuật Chạm Khắc

Thời gian là yếu tố chính gây ra sự xuống cấp của các tác phẩm chạm khắc đá. Nhiều tác phẩm đã bị mài mòn, phai màu và mất đi vẻ đẹp ban đầu. Việc bảo trì định kỳ là cần thiết để giữ gìn giá trị nghệ thuật của chúng.

2.2. Ảnh Hưởng Của Môi Trường Đến Di Sản

Môi trường tự nhiên, bao gồm độ ẩm, nhiệt độ và ô nhiễm, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng của đá. Các biện pháp bảo vệ cần được thực hiện để giảm thiểu tác động tiêu cực từ môi trường đến nghệ thuật chạm khắc đá.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá Hiệu Quả

Để bảo tồn nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc kết hợp giữa bảo tồn truyền thống và hiện đại sẽ giúp duy trì giá trị văn hóa lâu dài.

3.1. Sử Dụng Công Nghệ Hiện Đại Trong Bảo Tồn

Công nghệ hiện đại như quét 3D và in 3D có thể được sử dụng để phục hồi các tác phẩm chạm khắc đá. Những công nghệ này giúp tạo ra bản sao chính xác, bảo tồn các chi tiết mà không làm hỏng tác phẩm gốc.

3.2. Tăng Cường Ý Thức Cộng Đồng Về Bảo Tồn

Giáo dục cộng đồng về giá trị của nghệ thuật chạm khắc đá là rất quan trọng. Các chương trình tuyên truyền và hoạt động cộng đồng có thể giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích mọi người tham gia vào công tác bảo tồn.

IV. Ứng Dụng Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá Trong Cuộc Sống Hiện Đại

Nghệ thuật chạm khắc đá không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có thể được ứng dụng trong cuộc sống hiện đại. Các sản phẩm chạm khắc đá có thể được sử dụng trong trang trí nội thất, tạo điểm nhấn cho không gian sống.

4.1. Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá Trong Thiết Kế Nội Thất

Các sản phẩm chạm khắc đá có thể được sử dụng để trang trí nhà ở, tạo ra không gian sống sang trọng và độc đáo. Những tác phẩm này không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với văn hóa truyền thống.

4.2. Tác Động Của Nghệ Thuật Đến Du Lịch

Nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng có thể thu hút khách du lịch đến với Huế. Việc phát triển du lịch văn hóa sẽ góp phần nâng cao giá trị của di sản và tạo ra nguồn thu cho địa phương.

V. Kết Luận Về Giá Trị Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá

Nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng thời Nguyễn không chỉ là một phần của di sản văn hóa mà còn là biểu tượng của sự sáng tạo và tài năng của người Việt. Việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật này là trách nhiệm của toàn xã hội.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Nghệ Thuật Trong Văn Hóa

Nghệ thuật chạm khắc đá không chỉ mang lại giá trị thẩm mỹ mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa sâu sắc. Nó phản ánh tâm tư, tình cảm và lịch sử của dân tộc.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Của Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá

Trong tương lai, cần có những chính sách và biện pháp cụ thể để bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chạm khắc đá. Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của nghệ thuật này.

17/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÁ 1. Cơ sở lý luận Trong quá trình nghiên cứu, luận án quan tâm tiếp cận, vận dụng một số lý thuyết phù hợp như lý thuyết tiếp biến văn hóa, thuyết địa văn hóa - văn hóa vùng, thuyết giải mã biểu tượng. qua các công trình nghiên cứu của một số tác giả: Trần Quốc Vượng [140], [141]; Trần Lâm Biền [16], [19]; Ngô Đức Thịnh [109]; Trần Ngọc Thêm [108]; Đinh Hồng Hải [54];. cùng một số công trình nghiên cứu về sự giao thoa, tiếp biến văn hóa, giải mã biểu tượng của các học giả nước ngoài như Anbrecht [8]; M.

Lý thuyết về tiếp biến văn hóa Là thuyết được vận dụng khá nhiều trong các tài liệu, bài nghiên cứu, sách tham khảo từ tiếng Nga những năm 60 – 70, tài liệu tiếng Anh, Pháp những năm 80 - 90, nhiều nội dung được dịch qua tiếng Việt đã được NCS vận dụng trong nghiên cứu để lý giải những vấn đề có tính cơ bản. Những nét riêng, bản sắc, đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc đá thời Nguyễn có sự tiếp nối, chuyển hóa từ nghệ thuật chạm khắc trang trí đá ở kinh Bắc và dấu ấn nhất định, nổi bật tố chất Champa trong các họa tiết hoa văn bệ thờ chân quỳ, hoa văn sóng dây, hoa văn hoa lá lật, hoa sen và kiểu tạo đường diềm hoa văn trên đá. Đồng thời, với những hình lá lật, hoa văn đan xen đa chiều có phần hơi rối, hoa mỹ là từ phong cách nghệ thuật Rococo rất quen thuộc của phương Tây muộn mà trực tiếp là ảnh hưởng bởi mỹ thuật Pháp thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Lý thuyết tiếp biến văn hóa cũng là cơ sở để NCS tiếp cận, giải hóa một số hình tượng trong chạm khắc đá ở lăng các bà hoàng như hình tượng con chuồn chuồn, con chuột, con voi, ngựa, cây chuối.

vừa mang tinh thần bản địa bình dị vừa liên kết từ sự tiếp biến văn hóa của khu vực vào mỹ thuật thời Nguyễn. Chẳng hạn hình tượng đôi ống sáo, đôi ống bút thuộc bát bửu trên chạm khắc huyền cung lăng Lệ Thiên Anh là một sự tiếp biến của mẫu thức mỹ thuật cổ Trung Hoa và được Việt hóa trong quá trình tiếp nhận, pha trộn đầy chủ định ở mỹ 7 thuật thời Nguyễn. Từ chức năng là những hình tượng gắn với nam nhi quân tử mong muốn sự học hành đỗ đạt và địa vị cao quý thì giờ đây đôi ống bút, đôi ống sáo ở chạm khắc đá lăng Lệ Thiên Anh là sự khiêm nhường, kín đáo, sự thoáng qua mong manh có tố chất “vô vi” của tam giáo hòa trộn, hình ảnh này trở thành sự biểu thị phẩm hạnh, sự tôn trọng, kính phục đức độ, trí tuệ của bà hoàng. Lý thuyết tiếp biến văn hóa giúp cho NCS tiếp cận và có được công cụ giải mã một số hiện tượng thẩm mỹ nghệ thuật độc đáo về nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng của các bà hoàng thời Nguyễn.

Điều này thấy rõ trong việc lý giải hiện tượng trang trí chạm rồng 5 móng tại lăng Hiếu Đông (vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị), lăng của một số bà hoàng khác cũng có dấu hiệu kín đáo về rồng 5 móng được hoa văn hóa. Điều đó thật khác biệt khi trong điển lệ ghi rõ rồng 5 móng chỉ dành cho trang trí, tạo hình các công trình kiến trúc, đồ dùng, vật dụng trực tiếp của vua, nếu dân thường thì đó là sự khi quân với những hình phạt rất nặng, từng được cổ sử ghi chép. Lý thuyết tiếp biến văn hóa có sự gợi mở, định hướng, tính “động” rất linh hoạt vì vậy phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án về nghệ thuật chạm khắc đá ở lăng của các bà hoàng thời Nguyễn. Chính việc nghiên cứu nghệ thuật chạm đá tại lăng các bà hoàng trong không gian, điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam thế kỷ XIX mới hiểu rõ hơn kết quả tất yếu của giao thoa văn hóa, tiếp thu và cải biến các giá trị văn hóa mẫu mực, kinh điển trong mỹ thuật thời Nguyễn.

Những yếu tố, phong cách, thuộc tính thẩm mỹ Trung Hoa, Champa, Đại Việt thời Lý – Trần – Hậu Lê và đến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX tiếp biến từ văn hóa Pháp đã chỉ ra sự xuất hiện tồn tại khách quan, mạnh mẽ, đa dạng và tất yếu của nhiều họa tiết, đề tài, kiểu thức trang trí thời Nguyễn. Thuyết vùng văn hóa - địa văn hóa Luận án vận dụng một phần lý thuyết vùng văn hóa – địa văn hóa trong quá trình nghiên cứu. Lý thuyết vùng văn hóa được trình bày khá cụ thể và hiện lên diện mạo rõ nét, sâu sắc trong nghiên cứu của các tác giả Trần Quốc Vượng [140], Ngô Đức Thịnh [109], Đoàn Thêm [107], Nguyễn Chí Bền [15]. về sự phân bố địa lý 8 với những đặc điểm lịch sử cụ thể và các hiện tượng văn hóa, mỹ thuật cần xác định.

Ngoài ra lý thuyết địa văn hóa còn được vận dụng trong nghiên cứu đặc điểm chất liệu đá từ các vùng miền và tính phù hợp, ưu việt trong những thành phần tạo hình ở lăng các bà hoàng như đá sa thạch ở Đàng Trong phù hợp với cấu trúc hương án, lan can, rồng bậc thềm, đá thanh ở Thanh Hóa nổi bật và thích ứng trong các mảng trang trí, tạo hình ở huyền cung, cổng bửu thành, rồng thành bậc. Tại lăng Thoại Thánh (lăng mẹ vua Gia Long), mặc dù trang trí trên đá không nhiều, nhưng với những trang trí hoa văn kỷ hà cô đọng ở hương án, cách chạm tạo dáng bàn thờ đá chân quỳ với nét hoa văn lật góc tinh nhã đã đem lại một hiệu ứng thị giác mạnh mẽ. Hơn nữa, trong không gian cô tịch của một ngôi lăng giờ là phế tích, cảm giác về sự lắng đọng, ẩn dụ, trường tồn bởi đặc tính từ chất liệu đá toát ra, bởi sự bền chắc của đá lại càng sâu sắc và đầy thuyết phục. Có thể sau này việc phục hồi, tu bổ lăng sẽ được thực hiện nhưng dù là thời điểm nào, thì ở các di vật, tác phẩm trang trí chạm khắc đá cũng luôn thể hiện rõ phong cách trang trí tạo hình của các phường thợ, nhóm thợ, làng nghề chạm cụ thể.

Trên mỗi tấm đá, mặt phẳng trang trí chạm khắc được thể hiện rất rõ các cấu trúc trang trí, tạo hình, bố cục và tính biểu cảm thẩm mỹ, qua đó bộc lộ cách thức chạm khắc đá ở các lăng bà hoàng với những sự biểu hiện khác nhau, có khi rất xa nhau về thời gian nhưng lại rất gần và đồng điệu về bút pháp. Có thể thấy ở lăng Lệ Thiên Anh được xây dựng vào đầu thế kỷ XX so với lăng Thánh Cung được xây vào nữa đầu thế kỷ XX, nhưng ở hai lăng này lại có những nét chạm, phong cách, bút pháp chạm đá, các hoa văn rất gần nhau, đặc biệt là hình chạm chim phụng ở hương án có sự tương đồng về bút pháp. Trong khi so sánh 2 lăng cùng làm vào thời Thiệu Trị là lăng Hiếu Đông và lăng Thuận Thiên Cao hoàng hậu, thì ngoài những mặt tương đồng của phong cách chạm khắc đá thời Thiệu Trị ở đây còn xuất hiện những biểu hiện cá biệt rất “xa” nhau ở sự diễn tả họa tiết hoa lá, mây sóng, tia sóng, độ cong của nhịp chuyển động sóng nước. Hoa lá chạm đá ở lăng Thuận Thiên mảnh mai, hẹp hơn về tiết diện và mật độ bố cục, trang trí sóng, hoa lá ở bình phong lăng Hiếu Đông lại đậm đặc và nhiều góc nhọn, nhiều cung bậc, các nét lật chuyển động sinh động, 9 uyển chuyển và đan xen hơn.

Tuy nhiên trên mỗi trang trí đó, hình tượng rồng của 2 lăng là rất đồng nhất, vì vậy ở góc độ vùng văn hóa, luận án đặt ra giả thiết phải chăng có nhiều phường thợ cùng tham gia trang trí ở mỗi lăng, trong đó có phường thợ được giao cho chủ đạo thực hiện trang trí tổng thể và những phần quan trọng nhất, mà đa phần là được thể hiện trên chất liệu đá. NCS thực hiện các thao tác cần thiết phù hợp với yêu cầu nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng, mà thao tác đầu tiên và luôn hiện hữu là điền dã, khảo sát tìm kiếm, nghiên cứu, đánh giá và so sánh các đặc trưng tạo hình, biểu hiện và giá trị biểu cảm của các mô típ, họa tiết, hoa văn trong sự tương đồng và khác biệt của chúng, tìm ra đặc trưng tạo hình ở các vùng miền khác nhau như sự so sánh hoa văn rồng chạm ở lăng Thuận Thiên Cao hoàng hậu, lăng Hiếu Đông với lăng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (lăng Khôn Nguyên Chí Đức) là thân mẫu của vua Lê Thánh Tông tại Lam Kinh – Thanh Hóa. Dưới triều Lê, xét trên phương diện tổng thể vẫn lấy lăng mộ Lê Thái Tổ (Vĩnh lăng) làm quy chuẩn, nghĩa là quy mô kích thước các lăng mộ ở Lam Kinh không được lớn hơn Vĩnh Lăng, cách bố cục của các lăng mộ ở đây tuân theo một thể thức: mộ hình vuông, có hai hàng tượng quan hầu và các con thú đứng chầu, cách xa phía trước mộ dựng bia khắc chữ đặt trên lưng rùa, điều này không có ở lăng các bà hoàng thời Nguyễn ở Huế. Tuy vậy, về phong cách nghệ thuật tạo hình tại các lăng được xây dựng sau Vĩnh lăng đã có sự thay đổi, chuyển hóa.

Tại lăng bà Ngô Thị Ngọc Dao, nhìn chung các đường nét chạm khắc đi vào thể hiện chi tiết, tại đây hai hàng tượng: voi, lân, tê giác, ngựa đều thắng yên cương chỉnh tề, điều đặc biệt ở bên hàng tượng phía trái tại lăng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao có con ngựa đá tạo hình đường nét có thể đánh giá đẹp nhất trong số tượng ở hai lăng trong thời kỳ này (Chiêu lăng và lăng Khôn Nguyên Chí Đức), tượng cao 0,70m, dài 0,80m, yên cương chạm nổi rõ trên lưng ngựa với các đường cong uyển chuyển, hoa văn ôm phủ trùm kín phần bụng, chân cao thẳng, dáng đứng yên, đầu hướng thẳng phía trước. Trong hệ thống lăng các bà hoàng ở Thanh Hóa, còn có lăng của bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền (1421 – 1505), là vợ của vua Lê Thánh Tông và mẹ của vua Lê Hiến Tông (tức là lăng Trường lạc 10 hoàng), ở làng Đào Xá, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Tại lăng có bia đá dựng vào năm 1525, kích thước bia tương đối lớn, trên bia có chạm 3 con rồng lớn, xung quanh có các rồng con nhỏ hơn, nối tiếp nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghệ Thuật Chạm Khắc Đá Tại Lăng Các Bà Hoàng Thời Nguyễn Ở Huế" khám phá vẻ đẹp và sự tinh xảo của nghệ thuật chạm khắc đá tại các lăng tẩm của các bà hoàng thời Nguyễn. Bài viết không chỉ nêu bật kỹ thuật và phong cách nghệ thuật độc đáo mà còn nhấn mạnh ý nghĩa văn hóa và lịch sử của những tác phẩm này trong bối cảnh di sản văn hóa Việt Nam. Độc giả sẽ được tìm hiểu về các hình ảnh, biểu tượng và câu chuyện ẩn chứa sau từng tác phẩm, từ đó cảm nhận được giá trị nghệ thuật và lịch sử của chúng.

Để mở rộng thêm kiến thức về nghệ thuật truyền thống tại Huế, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí quần thể di tích cố đô huế. Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp trang trí và nghệ thuật truyền thống, góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về di sản văn hóa đặc sắc của vùng đất cố đô.