Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÁ 1. Cơ sở lý luận Trong quá trình nghiên cứu, luận án quan tâm tiếp cận, vận dụng một số lý thuyết phù hợp như lý thuyết tiếp biến văn hóa, thuyết địa văn hóa - văn hóa vùng, thuyết giải mã biểu tượng. qua các công trình nghiên cứu của một số tác giả: Trần Quốc Vượng [140], [141]; Trần Lâm Biền [16], [19]; Ngô Đức Thịnh [109]; Trần Ngọc Thêm [108]; Đinh Hồng Hải [54];. cùng một số công trình nghiên cứu về sự giao thoa, tiếp biến văn hóa, giải mã biểu tượng của các học giả nước ngoài như Anbrecht [8]; M.
Lý thuyết về tiếp biến văn hóa Là thuyết được vận dụng khá nhiều trong các tài liệu, bài nghiên cứu, sách tham khảo từ tiếng Nga những năm 60 – 70, tài liệu tiếng Anh, Pháp những năm 80 - 90, nhiều nội dung được dịch qua tiếng Việt đã được NCS vận dụng trong nghiên cứu để lý giải những vấn đề có tính cơ bản. Những nét riêng, bản sắc, đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc đá thời Nguyễn có sự tiếp nối, chuyển hóa từ nghệ thuật chạm khắc trang trí đá ở kinh Bắc và dấu ấn nhất định, nổi bật tố chất Champa trong các họa tiết hoa văn bệ thờ chân quỳ, hoa văn sóng dây, hoa văn hoa lá lật, hoa sen và kiểu tạo đường diềm hoa văn trên đá. Đồng thời, với những hình lá lật, hoa văn đan xen đa chiều có phần hơi rối, hoa mỹ là từ phong cách nghệ thuật Rococo rất quen thuộc của phương Tây muộn mà trực tiếp là ảnh hưởng bởi mỹ thuật Pháp thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Lý thuyết tiếp biến văn hóa cũng là cơ sở để NCS tiếp cận, giải hóa một số hình tượng trong chạm khắc đá ở lăng các bà hoàng như hình tượng con chuồn chuồn, con chuột, con voi, ngựa, cây chuối.
vừa mang tinh thần bản địa bình dị vừa liên kết từ sự tiếp biến văn hóa của khu vực vào mỹ thuật thời Nguyễn. Chẳng hạn hình tượng đôi ống sáo, đôi ống bút thuộc bát bửu trên chạm khắc huyền cung lăng Lệ Thiên Anh là một sự tiếp biến của mẫu thức mỹ thuật cổ Trung Hoa và được Việt hóa trong quá trình tiếp nhận, pha trộn đầy chủ định ở mỹ 7 thuật thời Nguyễn. Từ chức năng là những hình tượng gắn với nam nhi quân tử mong muốn sự học hành đỗ đạt và địa vị cao quý thì giờ đây đôi ống bút, đôi ống sáo ở chạm khắc đá lăng Lệ Thiên Anh là sự khiêm nhường, kín đáo, sự thoáng qua mong manh có tố chất “vô vi” của tam giáo hòa trộn, hình ảnh này trở thành sự biểu thị phẩm hạnh, sự tôn trọng, kính phục đức độ, trí tuệ của bà hoàng. Lý thuyết tiếp biến văn hóa giúp cho NCS tiếp cận và có được công cụ giải mã một số hiện tượng thẩm mỹ nghệ thuật độc đáo về nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng của các bà hoàng thời Nguyễn.
Điều này thấy rõ trong việc lý giải hiện tượng trang trí chạm rồng 5 móng tại lăng Hiếu Đông (vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị), lăng của một số bà hoàng khác cũng có dấu hiệu kín đáo về rồng 5 móng được hoa văn hóa. Điều đó thật khác biệt khi trong điển lệ ghi rõ rồng 5 móng chỉ dành cho trang trí, tạo hình các công trình kiến trúc, đồ dùng, vật dụng trực tiếp của vua, nếu dân thường thì đó là sự khi quân với những hình phạt rất nặng, từng được cổ sử ghi chép. Lý thuyết tiếp biến văn hóa có sự gợi mở, định hướng, tính “động” rất linh hoạt vì vậy phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án về nghệ thuật chạm khắc đá ở lăng của các bà hoàng thời Nguyễn. Chính việc nghiên cứu nghệ thuật chạm đá tại lăng các bà hoàng trong không gian, điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam thế kỷ XIX mới hiểu rõ hơn kết quả tất yếu của giao thoa văn hóa, tiếp thu và cải biến các giá trị văn hóa mẫu mực, kinh điển trong mỹ thuật thời Nguyễn.
Những yếu tố, phong cách, thuộc tính thẩm mỹ Trung Hoa, Champa, Đại Việt thời Lý – Trần – Hậu Lê và đến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX tiếp biến từ văn hóa Pháp đã chỉ ra sự xuất hiện tồn tại khách quan, mạnh mẽ, đa dạng và tất yếu của nhiều họa tiết, đề tài, kiểu thức trang trí thời Nguyễn. Thuyết vùng văn hóa - địa văn hóa Luận án vận dụng một phần lý thuyết vùng văn hóa – địa văn hóa trong quá trình nghiên cứu. Lý thuyết vùng văn hóa được trình bày khá cụ thể và hiện lên diện mạo rõ nét, sâu sắc trong nghiên cứu của các tác giả Trần Quốc Vượng [140], Ngô Đức Thịnh [109], Đoàn Thêm [107], Nguyễn Chí Bền [15]. về sự phân bố địa lý 8 với những đặc điểm lịch sử cụ thể và các hiện tượng văn hóa, mỹ thuật cần xác định.
Ngoài ra lý thuyết địa văn hóa còn được vận dụng trong nghiên cứu đặc điểm chất liệu đá từ các vùng miền và tính phù hợp, ưu việt trong những thành phần tạo hình ở lăng các bà hoàng như đá sa thạch ở Đàng Trong phù hợp với cấu trúc hương án, lan can, rồng bậc thềm, đá thanh ở Thanh Hóa nổi bật và thích ứng trong các mảng trang trí, tạo hình ở huyền cung, cổng bửu thành, rồng thành bậc. Tại lăng Thoại Thánh (lăng mẹ vua Gia Long), mặc dù trang trí trên đá không nhiều, nhưng với những trang trí hoa văn kỷ hà cô đọng ở hương án, cách chạm tạo dáng bàn thờ đá chân quỳ với nét hoa văn lật góc tinh nhã đã đem lại một hiệu ứng thị giác mạnh mẽ. Hơn nữa, trong không gian cô tịch của một ngôi lăng giờ là phế tích, cảm giác về sự lắng đọng, ẩn dụ, trường tồn bởi đặc tính từ chất liệu đá toát ra, bởi sự bền chắc của đá lại càng sâu sắc và đầy thuyết phục. Có thể sau này việc phục hồi, tu bổ lăng sẽ được thực hiện nhưng dù là thời điểm nào, thì ở các di vật, tác phẩm trang trí chạm khắc đá cũng luôn thể hiện rõ phong cách trang trí tạo hình của các phường thợ, nhóm thợ, làng nghề chạm cụ thể.
Trên mỗi tấm đá, mặt phẳng trang trí chạm khắc được thể hiện rất rõ các cấu trúc trang trí, tạo hình, bố cục và tính biểu cảm thẩm mỹ, qua đó bộc lộ cách thức chạm khắc đá ở các lăng bà hoàng với những sự biểu hiện khác nhau, có khi rất xa nhau về thời gian nhưng lại rất gần và đồng điệu về bút pháp. Có thể thấy ở lăng Lệ Thiên Anh được xây dựng vào đầu thế kỷ XX so với lăng Thánh Cung được xây vào nữa đầu thế kỷ XX, nhưng ở hai lăng này lại có những nét chạm, phong cách, bút pháp chạm đá, các hoa văn rất gần nhau, đặc biệt là hình chạm chim phụng ở hương án có sự tương đồng về bút pháp. Trong khi so sánh 2 lăng cùng làm vào thời Thiệu Trị là lăng Hiếu Đông và lăng Thuận Thiên Cao hoàng hậu, thì ngoài những mặt tương đồng của phong cách chạm khắc đá thời Thiệu Trị ở đây còn xuất hiện những biểu hiện cá biệt rất “xa” nhau ở sự diễn tả họa tiết hoa lá, mây sóng, tia sóng, độ cong của nhịp chuyển động sóng nước. Hoa lá chạm đá ở lăng Thuận Thiên mảnh mai, hẹp hơn về tiết diện và mật độ bố cục, trang trí sóng, hoa lá ở bình phong lăng Hiếu Đông lại đậm đặc và nhiều góc nhọn, nhiều cung bậc, các nét lật chuyển động sinh động, 9 uyển chuyển và đan xen hơn.
Tuy nhiên trên mỗi trang trí đó, hình tượng rồng của 2 lăng là rất đồng nhất, vì vậy ở góc độ vùng văn hóa, luận án đặt ra giả thiết phải chăng có nhiều phường thợ cùng tham gia trang trí ở mỗi lăng, trong đó có phường thợ được giao cho chủ đạo thực hiện trang trí tổng thể và những phần quan trọng nhất, mà đa phần là được thể hiện trên chất liệu đá. NCS thực hiện các thao tác cần thiết phù hợp với yêu cầu nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng, mà thao tác đầu tiên và luôn hiện hữu là điền dã, khảo sát tìm kiếm, nghiên cứu, đánh giá và so sánh các đặc trưng tạo hình, biểu hiện và giá trị biểu cảm của các mô típ, họa tiết, hoa văn trong sự tương đồng và khác biệt của chúng, tìm ra đặc trưng tạo hình ở các vùng miền khác nhau như sự so sánh hoa văn rồng chạm ở lăng Thuận Thiên Cao hoàng hậu, lăng Hiếu Đông với lăng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (lăng Khôn Nguyên Chí Đức) là thân mẫu của vua Lê Thánh Tông tại Lam Kinh – Thanh Hóa. Dưới triều Lê, xét trên phương diện tổng thể vẫn lấy lăng mộ Lê Thái Tổ (Vĩnh lăng) làm quy chuẩn, nghĩa là quy mô kích thước các lăng mộ ở Lam Kinh không được lớn hơn Vĩnh Lăng, cách bố cục của các lăng mộ ở đây tuân theo một thể thức: mộ hình vuông, có hai hàng tượng quan hầu và các con thú đứng chầu, cách xa phía trước mộ dựng bia khắc chữ đặt trên lưng rùa, điều này không có ở lăng các bà hoàng thời Nguyễn ở Huế. Tuy vậy, về phong cách nghệ thuật tạo hình tại các lăng được xây dựng sau Vĩnh lăng đã có sự thay đổi, chuyển hóa.
Tại lăng bà Ngô Thị Ngọc Dao, nhìn chung các đường nét chạm khắc đi vào thể hiện chi tiết, tại đây hai hàng tượng: voi, lân, tê giác, ngựa đều thắng yên cương chỉnh tề, điều đặc biệt ở bên hàng tượng phía trái tại lăng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao có con ngựa đá tạo hình đường nét có thể đánh giá đẹp nhất trong số tượng ở hai lăng trong thời kỳ này (Chiêu lăng và lăng Khôn Nguyên Chí Đức), tượng cao 0,70m, dài 0,80m, yên cương chạm nổi rõ trên lưng ngựa với các đường cong uyển chuyển, hoa văn ôm phủ trùm kín phần bụng, chân cao thẳng, dáng đứng yên, đầu hướng thẳng phía trước. Trong hệ thống lăng các bà hoàng ở Thanh Hóa, còn có lăng của bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền (1421 – 1505), là vợ của vua Lê Thánh Tông và mẹ của vua Lê Hiến Tông (tức là lăng Trường lạc 10 hoàng), ở làng Đào Xá, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Tại lăng có bia đá dựng vào năm 1525, kích thước bia tương đối lớn, trên bia có chạm 3 con rồng lớn, xung quanh có các rồng con nhỏ hơn, nối tiếp nhau.