Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí Quần thể di tích cố đô Huế", chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật (mã số 9210101), được nghiên cứu sinh Đỗ Xuân Phú thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Quốc Hùng tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2018).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng triều Nguyễn (1802-1945) đã để lại một khối di sản kiến trúc đồ sộ có sử dụng chất liệu sơn cổ truyền trong các đồ dùng sinh hoạt, đồ tế tự son thếp và các cấu kiện kiến trúc. Tuy nhiên, các tư liệu thư tịch triều Nguyễn cũng như các công trình nghiên cứu hiện đại phần lớn chỉ ghi chép khái lược về lịch sử, niên biểu, giá cả thu mua hoặc mô tả sơ lược bề mặt di tích mà thiếu vắng các công trình đi sâu vào bản chất kỹ thuật chế tác, cấu tạo lý tính, quy trình sơn thếp và giá trị tạo hình của sơn truyền thống trên các họa tiết trang trí cung đình Huế. Nhiều công trình kiến trúc gỗ đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, bong tróc do tác động của khí hậu khắc nghiệt và việc sử dụng vật liệu thay thế thiếu chuẩn mực (như sơn công nghiệp, sơn hạt điều, việc pha dầu hỏa vào sơn sống), đặt ra yêu cầu cấp bách phải xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn để phục vụ công tác bảo tồn, trùng tu di tích.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được chia thành hai cấp độ:

  1. Mục đích tổng quát: Chứng minh và khẳng định sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí ở Quần thể di tích cố đô Huế tồn tại liên tục từ thế kỷ XIX cho đến ngày nay; xác lập những căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ giá trị thẩm mỹ kiến trúc, hiện vật và các kiểu thức trang trí trong di tích cố đô Huế.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa tài liệu liên quan đến sơn truyền thống thời Nguyễn; tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ và kỹ thuật chế tác sơn tại Huế trong tiến trình lịch sử; nhận diện mối quan hệ giữa các tác phẩm sơn truyền thống với các chất liệu trang trí khác (đồng, khảm sành sứ, pháp lam, tranh kính); xác định giá trị thẩm mỹ của các kiểu thức tạo hình dân gian (Tứ linh, Tứ thời, Bát bửu, án thờ, hình tượng rồng); đánh giá thực trạng hư hại và thành tựu của công tác sơn thếp; đề xuất luận cứ khoa học cho công tác bảo tồn và kế thừa di sản mỹ thuật cung đình Nguyễn.

Các câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra bao gồm: Vì sao sơn truyền thống được ưa chuộng trong trang trí kiến trúc ở nước ta? Có bao nhiêu loại sơn truyền thống trong trang trí mỹ thuật cung đình Huế? Sơn truyền thống được sử dụng cho mục đích trang trí ngoài ra còn mục đích gì khác? Chất liệu của nó có bền chặt hay không và vật liệu gì phù hợp để gắn kết? Tác phẩm mỹ thuật sử dụng sơn truyền thống ở Huế có điểm gì khác biệt so với các địa phương khác? Tỷ lệ kiến trúc, hiện vật được trang trí bằng sơn truyền thống so với các thể loại và chất liệu khác ở Huế là bao nhiêu? Đội ngũ nghệ nhân thực hiện các sản phẩm thô (thợ mộc) và nghệ nhân sơn son thếp vàng được tổ chức ra sao? Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng sơn bị uốn cong, bong tróc từng mảng hoặc lớp phủ dát bạc bị phai nhạt để lộ các mảng vàng và bạc lốm đốm? Tại sao có sự lựa chọn giữa thếp vàng lá và thếp bạc lá, và tại sao phải trộn bột đá với đất phù sa trong các lớp hom?

Giả thuyết khoa học của luận án xác định: Trong tiến trình xây dựng mỹ thuật thời Nguyễn, nếu không có chất liệu sơn truyền thống thì không có chất liệu nào thay thế được để vừa tạo nên vẻ đẹp trang trọng, lộng lẫy vừa bảo vệ cốt gỗ bền vững trước thời tiết khắc nghiệt. Mủ sơn tự nhiên trải qua quá trình tinh luyện thành sơn chín, sơn cánh gián, sơn quang, sơn then, sơn phủ hoàng kim là yếu tố quyết định tạo nên sự bền vững và thẩm mỹ đặc trưng cho các công trình cố đô Huế. Dù có nền tảng kỹ thuật chung, nhưng quy trình chế tác giữa các di tích và các nhóm thợ vẫn có sự khác biệt do tay nghề và kinh nghiệm của từng phường thợ.

Đối tượng nghiên cứu là chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí di tích cố đô Huế, tập trung vào kỹ thuật chế tác, thao tác khắc chạm họa tiết, kỹ thuật dát vàng lá, dát bạc lá và các loại sơn (sơn sống, sơn chín, sơn cánh gián, sơn then, sơn quang, sơn phủ hoàng kim) trên các kiểu thức trang trí, cấu kiện gỗ, hàng cột, án thờ, ô hộc, đồ ngự dụng và tế tự.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Không gian: Trọng tâm là các công trình kiến trúc gỗ tiêu biểu trong Quần thể di tích cố đô Huế gồm điện Thái Hòa, Thế Miếu, Hưng Miếu, Hiển Lâm Các, lăng Tự Đức, Phước Thọ Am, điện Long An; đồng thời mở rộng khảo sát so sánh với các công trình cùng thời tại Thừa Thiên Huế và di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám tại Hà Nội.
  • Thời gian: Giai đoạn triều Nguyễn từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX (1802-1945), gắn liền với các mốc biến đổi của việc trang trí kiến trúc cung đình cho đến thực trạng bảo tồn hiện nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các hướng nghiên cứu trước đây liên quan đến lịch sử nghề sơn, khảo cổ học, thư tịch triều Nguyễn và các công trình nghiên cứu mỹ thuật:

Về dấu tích khảo cổ và lịch sử nghề sơn truyền thống, tác giả dẫn chứng các phát hiện khảo cổ học quan trọng: Đinh Văn Kiên và Lê Xuân Diệm (Viện Khảo cổ học) khai quật mộ cổ Đường Dù (Đông Sơn, Thủy Nguyên, Hải Phòng) có niên đại thế kỷ I sau Công nguyên, tìm thấy 14 loại dụng cụ nghề sơn có dính vết sơn; cuộc khai quật ngày 19/4/1961 tại Việt Khê (Hải Phòng) phát hiện quan tài thân cây khoét rỗng niên đại thế kỷ III-IV trước Công nguyên chứa hơn 100 hiện vật, trong đó có các cán nạo móc sơn then, cán đục sơn bóng, cán dáo mác dài 2,39m trang trí ngấn tròn, mái chèo quét sơn then bên trong và sơn vàng bên ngoài; các di vật tại La Đôi (Hải Hưng) gồm mảnh gỗ sơn hai màu đỏ đen và tráp gỗ hai lớp sơn then điểm hoa văn cánh gián; di chỉ xã Vinh Quang (Hoài Đức, Hà Đông) khai quật tháng 9/1969 tìm thấy đoạn gỗ sơn đỏ sẫm và sơn then thế kỷ IV-V trước Công nguyên. Về tổ nghề, tác giả điểm lại ghi chép của Vũ Ngọc Khánh (Lược truyện thần tổ các ngành nghề) về Trần Ứng Long (thế kỷ X) dùng nhựa sơn trộn bột trát thuyền thúng vượt sông; cụ Trần Lư (Trần Thượng Công, 1443-1460, thời Lê Nhân Tông) học kỹ thuật sơn son thếp vàng truyền dạy cho làng Bình Vọng; văn bia Thủy tạo đình bi (1686) tại đình Thổ Hà ghi nhận chi phí sơn son thếp vàng tòa Long môn lên tới 200 quan tiền.

Về thư tịch triều Nguyễn, luận án khai thác các bộ chính sử: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐĐNHĐSL) của Nội các triều Nguyễn (tập V, tập XV) ghi nhận quy chế trả lương cho thợ sơn, thợ vẽ, quy định lệ mua nộp sơn sống năm Minh Mạng thứ 10 (1829), năm Minh Mạng thứ 15 (1834), lệ làm đồ sơn năm Minh Mạng thứ 13 (1832) và lệ thếp phủ vàng bạc năm Thiệu Trị thứ 4 (1844); Đại Nam thực lục chính biên (Quốc sử quán triều Nguyễn, tập VII) ghi nhận chính sách trưng tập thợ thủ công của Bộ Công và việc miễn thuế thân.

Về các công trình nghiên cứu thời kỳ cận - hiện đại, tác giả tổng thuật các tư liệu trong tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế (B.A.V.H) và tác phẩm L'Art à Hué của Léopold Cadière cùng các bản vẽ họa tiết của Tôn Thất Sa; các nghiên cứu mỹ thuật học của Chu Quang Trứ (Văn hóa mỹ thuật Huế), Trần Lâm Biền (Huế, Mỹ thuật Nguyễn, Những cái riêng; Một con đường tiếp cận lịch sử; Vài cảm nhận qua một lần tới Huế), Phan Huy Lê (Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam), Nguyễn Sĩ Giác, Đặng Quý Khoa, Trương Quốc Bình, Vĩnh Phối (Những kiểu thức trang trí Huế), Phan Thuận An (Kiến trúc cố đô Huế), Gia Bảo, Phạm Văn Kính, Phạm Đức Cường (Kỹ thuật Sơn mài), Lê Cường (Nghề sơn trong tâm thức người Việt), Đào Duy Anh (Hán - Việt từ điển); các khảo cứu về làng nghề của Nguyễn Văn Chuốt, Vũ Từ Trang, Phạm Côn Sơn, Nguyễn Văn Minh, Lê Xuân Chiểu, Nguyễn Lan Hương, Phan Thanh Bình, và ghi nhận về nghệ nhân Đinh Văn Thành (tham dự Đấu xảo Paris năm 1937); các tài liệu sinh học - thực vật học của H. Lecomte (1908-1923), Pierre Domart (1929), Crévost Charles (1905) và nhận định của kiến trúc sư Lisa Surprenant.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các tài liệu lịch sử triều Nguyễn chỉ ghi chép định mức, số lượng vật tư, chi phí mà không miêu tả chi tiết kỹ thuật thao tác nghề nghiệp. Trong khi đó, các nghiên cứu mỹ thuật hiện đại chủ yếu tiếp cận theo hướng lịch sử mỹ thuật thuần túy hoặc mỹ nghệ đại cương, chưa phân tích có hệ thống cấu trúc kỹ thuật đa tầng của sơn truyền thống trong kiến trúc cung đình Huế, chưa đối chiếu sự khác biệt cụ thể giữa kỹ thuật thếp vàng lá với thếp bạc lá phủ hoàng kim, và chưa làm rõ tính tương quan giữa sơn truyền thống với các chất liệu tạo hình khác trong một công trình di tích.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên hệ thống khái niệm chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật và thuật ngữ nghề sơn cổ truyền:

  • Khái niệm "Sơn truyền thống" (còn gọi là sơn ta, sơn cổ truyền, sơn mỹ nghệ): Là chất liệu chế tác từ mủ cây sơn tự nhiên khai thác tại Phú Thọ, tinh chế bằng phương pháp thủ công cổ truyền để tạo thành các loại sơn chuyên dụng trong trang trí và bảo vệ kiến trúc gỗ, đồ tế tự.
  • Hệ thống thuật ngữ thao tác nghề nghiệp: Cốt gỗ (nền mộc ban đầu); phất vải (dán vải mùng lên mặt gỗ chống co ngót nứt nẻ); bó sơn (trát hỗn hợp sơn sống, đất phù sa, mạt cưa lên cốt gỗ); hom (dùng sơn sống trộn đất phù sa miết kín các khe hở); lót sơn (quét các lớp sơn sống làm phẳng nền); mài sơn (dùng đá mài hoặc giấy ráp mài phẳng bề mặt trong nước); thí sơn (chồng các lớp sơn màu chín lên vóc); vóc sơn (tấm cốt gỗ đã hoàn thiện các công đoạn xử lý nền); sơn cầm (lớp sơn dính mỏng dùng để bắt vàng, bạc lá); sơn thếp (thao tác dát lá vàng, lá bạc mỏng lên bề mặt họa tiết); sơn then (sơn sống đánh với bột sắt tạo màu đen sâu); sơn cánh gián (sơn chín điều chế từ sơn sống loại tốt khuấy với nhựa thông/dầu đồng); sơn quang dầu (sơn phủ tạo bóng bề mặt); sơn phủ hoàng kim (sơn chín pha màu phủ lên lớp bạc lá để tạo sắc vàng ngả đỏ hoặc vàng tươi); ngân châu (khoáng chất màu đỏ chế từ lưu hoàng và thủy ngân); phấn châu (bột mịn màu đỏ); thổ phấn châu (bột đất đỏ mịn dùng hom lót).
  • Hệ thống tổ chức quan xưởng triều Nguyễn: Khái niệm "tượng cục" và "ty" gồm Tất tượng cục (cục thợ sơn), Tất họa tượng cục (cục thợ vẽ sơn), Họa tượng ty (ty thợ vẽ), Kim tượng ty (ty thợ thếp vàng), Ngân tượng ty (ty thợ thếp bạc), Mộc tượng ty (ty thợ mộc), Nề tượng cục, Long tú tượng ty, Pháp lam tượng cục.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp các góc nhìn của Mỹ thuật học, Lịch sử mỹ thuật, Văn hóa học, Sử học, Mỹ học và Dân tộc học nhằm khai thác đối tượng từ kỹ thuật thủ công đến bối cảnh văn hóa xã hội.
  • Phương pháp hệ thống hóa: Thống kê định lượng các hiện vật, đồ sơn, cấu kiện gỗ và phân loại các đơn nguyên họa tiết trang trí trên các công trình di tích.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối sánh kỹ thuật và màu sắc lớp sơn thếp giữa Hưng Miếu với Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội); đối chiếu kỹ thuật dát vàng lá nguyên chất tại bửu tán điện Thái Hòa với kỹ thuật dát bạc lá phủ hoàng kim tại Hưng Miếu và Tử Cấm Thành.
  • Phương pháp điền dã, thu thập và xử lý thông tin: Khảo sát thực địa, ghi chép hiện trạng bề mặt sơn tại các công trình Quần thể di tích cố đô Huế; phỏng vấn thợ sơn, nghệ nhân làng nghề (như làng Tiên Nộn) và các cán bộ quản lý thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn bản thư tịch: Các bộ chính sử thời Nguyễn (KĐĐNHĐSL, Đại Nam thực lục), địa chí (Dư địa chí), văn bia (Thủy tạo đình bi), tài liệu nghiên cứu của học giả Pháp và Việt Nam.
  • Dữ liệu hiện vật khảo sát thực địa: Các đồ án trang trí và hiện vật đồ sơn nội - ngoại thất tại điện Thái Hòa, Thế Miếu, Hưng Miếu, Hiển Lâm Các, Phước Thọ Am, điện Long An.
  • Dữ liệu thực vật học: Các nghiên cứu phân loại loài cây sơn Rhus succedanea L. (sơn Phú Thọ), Melanorhoea laccifera Pierre (sơn miền Nam, Campuchia) và Rhus vernicifera D. (sơn Nhật Bản).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận, tổng quan tình hình nghiên cứu về sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí QTDTCĐH

Chương 1 dày 41 trang, tập trung làm rõ nguồn gốc lịch sử, hệ thống thuật ngữ, tổ chức quan xưởng và các cứ liệu lịch sử triều Nguyễn về quản lý nghề sơn:

Về quy chuẩn kỹ thuật trong thư tịch cổ, tác giả dẫn chứng ghi chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tập XV, quyển 244-262) chứng minh triều Nguyễn đã ban hành quy định pha chế vật liệu sơn hết sức cụ thể:

  • Quy định năm Minh Mạng thứ 13 (1832) về lệ làm đồ sơn: Sơn son phủ ngoài dùng 1 lạng ngân châu pha với sơn sống, dầu đồng mỗi thứ 4 đồng cân 8 phân và sơn mặt dầu 2 đồng cân 4 phân; nếu phủ ngoài bằng sơn sống trộn phấn châu quét 2 lượt thì dùng 3 lạng 2 đồng cân sơn sống. Đối với sơn đỏ phủ ngoài, cứ 4 lạng ngân châu thì pha 3 lạng sơn sống, 8 lạng sơn mặt dầu và 2 lạng dầu thông; lót trong bằng sơn sống trộn thổ phấn châu quét 2 lượt thì pha 2 cân 4 lạng 8 đồng cân sơn sống. Sơn then phủ ngoài quy định cứ 2 lạng sơn sống pha 8 lạng sơn mặt dầu và 2 lạng dầu thông. Chỗ khuyết tật, hà hố thì dùng sơn sống trộn mạt cưa để trét.
  • Về nguyên liệu và giá cả: Năm Minh Mạng thứ 10 (1829), Bắc Thành mua nộp sơn sống với giá 1 quan mỗi bát đồng công, dầu phủ mặt 4 quan mỗi bát, sơn sống loại khác 1 quan 6 tiền mỗi bát. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), Gia Định mua nộp sơn sống giá 1 quan 2 tiền mỗi cân. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), quy định chặt chẽ việc kiểm kê lá vàng, lá bạc, thiếc tại công sở Vũ khố và Nội tạo.
  • Về tổ chức nhân công và đãi ngộ: Triều đình thực hiện chính sách thợ kén, thợ giản. Năm 1791 có 62 tượng cục; đến năm 1823 thời Minh Mạng lập thêm cục thợ vẽ. Quy định năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) xác định lương thợ sơn từ tháng giêng đến tháng 6 nhận mỗi tháng 1 quan tiền và 1 phương gạo; từ tháng 7 đến cuối năm nhận 5 tiền và 1 phương gạo. Thợ vẽ nhận việc cả năm với mức đãi ngộ: thợ giỏi nhận 1 quan 5 tiền và 1 phương gạo; thợ bậc vừa nhận 1 quan và 1 phương gạo; thợ bậc kém nhận 5 tiền và 1 phương gạo.

Chương này cũng tổng hợp số liệu khảo sát hiện vật trên các công trình kiến trúc qua hai bảng thống kê cụ thể:

Tên các họa tiết trang trí Điện Thái Hòa Hưng Miếu Thế Miếu
1. Long, Long hóa x x x
2. Lân, Lân hóa x x
3. Quy, Quy hóa x x
4. Phượng, Phượng hóa x x
5. Tứ thời (trên các ô hộc) x x x

Bảng 1: Thống kê các họa tiết trang trí bằng sơn truyền thống tại ba di tích chính.

Bên cạnh đó, tác giả lập bảng thống kê số lượng hiện vật và đồ sơn được trang trí bằng chất liệu sơn truyền thống tại các di tích:

Danh mục hiện vật đồ sơn Thế Miếu Hưng Miếu Hiển Lâm Các Phước Thọ Am Điện Long An
I. Nội thất
Án thờ 10 3
Khánh thờ 10 1 8
Bài vị 20 2
Cơi trầu 2 2
Kiệu, võng 1
Tủ 2
Giường 1
Bàn ghế 1
Ngai vàng 1
Bình phong 1
Sập 10 2 2
Kệ 10 3
Bàn 30
Tợ 10 2
Đôn 12
Đặc trống 1
Bộ Biên chung 1
Tượng Ban Hội đồng 3
Tượng Phật 3
Tượng Quan Công 2
Thập điện Minh Vương 10
Tượng Thánh Mẫu 1
Tượng Tổ nghề hát bội 2
Tượng Ngựa 2
II. Ngoại thất
Đặc khánh 1
Đặc chung (chuông) 1 1 5
Chum bảo vệ kỳ lân 2
Lầu chuông 1
Lầu trống 1

Bảng 2: Thống kê số lượng hiện vật đồ sơn nội ngoại thất theo khảo sát của tác giả.

Kết quả khảo sát tổng thể cho thấy trong số 52 công trình của Quần thể di tích cố đô Huế, có hơn 29 công trình kiến trúc cung đình sử dụng sơn truyền thống trong trang trí nội ngoại thất.

Chương 2. Những giá trị tiêu biểu nghệ thuật trang trí của sơn truyền thống trong QTDTCĐH

Chương 2 dày 49 trang, đi sâu phân tích giá trị tạo hình, biểu cảm thẩm mỹ và tính bền vững của sơn truyền thống qua các công trình cụ thể:

  • Hiệu quả trang trí và đề tài mỹ thuật: Các đề tài chủ đạo gồm Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phượng), Tứ thời (mai, lan, cúc, trúc), Bát bửu và các đồ án hoa lá cách điệu, chữ Thọ, dơi ngậm kim tiền. Tại điện Thái Hòa, họa tiết rồng uốn lượn chiếm vị trí độc tôn trên các hàng cột sơn son thếp vàng, bửu tán và ngai vàng. Tại Thế Miếu và Hưng Miếu, các đề tài mở rộng sang lân, quy, phượng và các hình thức hóa thân (rồng hóa cúc, sen hóa rồng). Đặc biệt, tại điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh), sơn truyền thống thể hiện thành công 24 đồ bản minh họa tích "Nhị thập tứ hiếu" bằng kỹ thuật sơn khắc trên gỗ.
  • Bố cục và hình thức biểu đạt: Các công trình cung đình Huế ứng dụng phổ biến lối kiến trúc "trùng lương trùng thiềm" với hình thức trang trí "nhất thi nhất họa" trên hệ thống liên ba, đố bản, ô hộc. Sơn truyền thống đóng vai trò tạo phông nền và phân định không gian trang trí:
    • Ngọ Môn (xây dựng năm 1833): Gồm 100 cột, trong đó 48 cột dài chạy suốt hai tầng lên lầu Ngũ Phượng; hệ thống vì kèo và cấu kiện gỗ được trang trí hoa văn rồng hóa cúc kết hợp sơn son thếp vàng.
    • Điện Thái Hòa (xây dựng năm 1805): Ngai vàng và bửu tán chạm lộng rồng chầu mặt hổ phù kết hợp dải tua; toàn bộ bửu tán được dát vàng lá nguyên chất không phủ hoàng kim và không tô son, tương phản với sắc đỏ thắm của các hàng cột gỗ được xử lý phẳng bóng và vẽ rồng mây cuộn sóng.
    • Thế Miếu (xây dựng năm 1821-1822): Hệ thống liên ba đố bản chạm nổi bát bửu đan xen ô hộc thơ văn; các hương án thờ vua có 11 ô hộc chạm lộng rồng, phượng, long mã, hoa sen được thếp vàng lộng lẫy.
    • Hiển Lâm Các (xây dựng năm 1821-1822): Kiến trúc 3 tầng cao 16m, rộng 12,8m, dài 21m với 24 cột tầng 1; ngoại thất sơn son nhưng toàn bộ nội thất và các cấu kiện chạm trổ hoa văn rồng, hoa lá lại được phủ sơn then (màu đen tuyền), tạo nên sự đối lập màu sắc trang trọng.
    • Phước Thọ Am (xây dựng năm 1831 thời Minh Mạng): Lưu giữ hệ thống tượng tròn sơn truyền thống gồm tượng Phật, tượng Quan Công, 10 vị Thập điện Minh Vương, tượng Thánh Mẫu Thiên Y A Na (áo ngoài màu lục đậm khắc chìm hoa văn mây phượng, yếm trong màu đỏ), tượng 3 bà thuộc Ban Hội đồng (áo màu đỏ, lục đậm, vàng) và 2 tượng Tổ nghề hát bội.
  • Giá trị liên kết và độ bền vững: Sơn truyền thống hoạt động như một lớp màng bảo vệ cơ học và hóa học cho chất liệu gỗ. Quy trình xử lý gồm nhiều lớp (cốt gỗ -> phất vải -> bó sơn -> hom -> lót -> mài -> thí sơn -> sơn cầm -> thếp vàng/bạc -> phủ hoàng kim/sơn quang) giúp triệt tiêu hiện tượng co ngót của gỗ trước độ ẩm cao của vùng đất Huế.

Chương 3. Bàn luận về những giá trị của sơn truyền thống có tính khoa học trong nghệ thuật trang trí QTDTCĐH

Chương 3 dày 39 trang, tập trung thảo luận các vấn đề khoa học chất liệu, so sánh kỹ thuật và lý giải các hiện tượng hư hại thực tế:

  • Cơ sở khoa học của chất liệu mủ sơn: Tác giả đối chiếu các nghiên cứu thực vật học để khẳng định mủ cây sơn Phú Thọ (Rhus succedanea L.) có hàm lượng hợp chất hóa học và độ dẻo dai thích hợp cho việc tinh chế sơn cánh gián và sơn chín dùng trong cung đình, khác với loài cây sơn miền Nam (Melanorhoea laccifera Pierre) hay sơn Nhật Bản (Rhus vernicifera D.). Sơn chín khi được khuấy luyện kỹ với dầu đồng hoặc nhựa thông sẽ tạo độ bóng sâu, độ bền liên kết cao và khả năng chống thấm nước tuyệt đối.
  • So sánh đối sánh kỹ thuật thếp giữa các di tích:
    • Tại Thế Miếu và điện Thái Hòa: Ứng dụng kỹ thuật dát vàng lá nguyên chất trực tiếp lên lớp sơn cầm, không phủ hoàng kim (như ở bửu tán điện Thái Hòa), giữ được sắc vàng kim loại sáng óng tự nhiên.
    • Tại Hưng Miếu: Áp dụng kỹ thuật dát bạc lá rồi phủ một lớp sơn hoàng kim màu vàng ngả đỏ. Công trình này do nhóm thợ và nghệ nhân phục chế từ miền Bắc thực hiện, có quy trình và hòa sắc tương đồng với kỹ thuật son thếp tại di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).
    • Tại Tử Cấm Thành: Đợt trùng tu năm 2013 do thợ sơn địa phương xứ Huế đảm nhiệm sử dụng kỹ thuật dát bạc lá, sau đó phủ lớp sơn hoàng kim pha chế bằng sơn chín trộn với phẩm vàng, tạo ra lớp bề mặt có sắc vàng tươi, khác biệt rõ rệt với sắc vàng ngả đỏ tại Hưng Miếu.
  • Phân tích nguyên nhân hư hại và biện luận khoa học: Luận án chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng màng sơn bị bong tróc, nứt nẻ hoặc bạc lá bị loang lổ:
    1. Do thợ thi công pha thêm dầu hỏa vào sơn sống nhằm mục đích làm sơn nhanh khô hoặc dễ quét, dẫn đến phá vỡ liên kết phân tử tự nhiên của mủ sơn, làm màng sơn giòn và dễ nứt vỡ theo thời gian.
    2. Sử dụng sơn hạt điều hoặc sơn công nghiệp thay thế cho sơn ta. Mặc dù các loại sơn này có ưu điểm nhanh khô, giá rẻ và không gây dị ứng da (sơn ăn) cho người thợ, nhưng độ bền kết dính kém, nhanh chóng bị bong tróc từng mảng lớn dưới khí hậu ẩm nóng của Huế.
    3. Hiện tượng bề mặt thếp bạc phủ hoàng kim bị loang lổ mảng vàng mảng trắng là do lớp sơn phủ hoàng kim bên ngoài bị bào mòn bởi thời tiết, khiến lớp bạc lá bên dưới tiếp xúc với không khí và bị oxy hóa, hoặc do tỷ lệ pha trộn phẩm màu trong sơn chín không đồng đều.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp về lý luận:
    • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về sơn truyền thống thời Nguyễn thông qua việc đối chiếu các văn bản lịch sử gốc (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam thực lục) với hiện vật thực tế, bổ sung khoảng trống lý thuyết cho chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật.
    • Xác lập hệ thống thuật ngữ kỹ thuật nghề sơn triều Nguyễn và giải mã nghĩa thực tiễn của các khái niệm cổ: "ngân châu", "phấn châu", "thổ phấn châu", "sơn mặt dầu", "dầu đồng".
    • Nhận diện sự giao thoa văn hóa giữa mỹ thuật cung đình triều Nguyễn và nghệ thuật dân gian thể hiện qua bảng màu son - thếp và hệ thống đề tài trang trí (Tứ linh, Tứ thời, Bát bửu).
  • Đóng góp về thực tiễn:
    • Khảo sát, phân loại và lập biểu bảng thống kê chi tiết số lượng hiện vật đồ sơn nội ngoại thất (án thờ, khánh thờ, sập thờ, bài vị, hệ thống tượng) và họa tiết trang trí tại các di tích trọng điểm (Thế Miếu, Hưng Miếu, Hiển Lâm Các, Phước Thọ Am, điện Long An).
    • Phân tích và chỉ rõ sự khác biệt kỹ thuật thếp vàng/bạc phủ hoàng kim giữa các nhóm thợ miền Bắc (tại Hưng Miếu, Văn Miếu) và thợ Huế (tại Tử Cấm Thành, Thế Miếu).
    • Chỉ ra nguyên nhân khoa học dẫn đến sự xuống cấp của các màng sơn trong di tích cố đô Huế (việc dùng dầu hỏa, sử dụng sơn hạt điều, sơn công nghiệp).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Kiên quyết sử dụng chất liệu sơn ta truyền thống (mủ sơn Rhus succedanea L.) trong công tác trùng tu di tích gỗ tại Quần thể di tích cố đô Huế; tuyệt đối không sử dụng sơn hạt điều hay sơn công nghiệp thay thế trên các cấu kiện di sản.
  • Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật cổ truyền (đủ các bước bó, hom, lót, mài với nước, thí sơn và sơn cầm thếp lá vàng/bạc); chấm dứt việc pha dầu hỏa vào sơn sống.
  • Khôi phục và tạo cơ chế liên kết, hỗ trợ các làng nghề sơn cổ truyền tại Thừa Thiên Huế (làng Tiên Nộn, Địa Linh, Triều Sơn) nhằm đào tạo đội ngũ thợ sơn kế cận có tay nghề cao phục vụ công tác bảo tồn lâu dài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án ghi nhận:

  • Nguồn tư liệu thành văn của triều Nguyễn (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ) chỉ ghi chép ngắn gọn về định mức chi phí, số lượng và giá cả vật tư thu mua, không mô tả chi tiết thao tác khuấy luyện sơn, kỹ thuật cầm sơn hay độ nông sâu của các nhát đục chạm khắc họa tiết, gây khó khăn cho việc phục dựng toàn diện thao tác cổ.
  • Nhiều công trình kiến trúc trong Quần thể di tích cố đô Huế đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa ở các thời kỳ khác nhau (nhiều lớp sơn mới đè lên lớp sơn cũ), làm hạn chế khả năng nhận diện và kiểm chứng lớp sơn nguyên gốc thời kỳ đầu nhà Nguyễn.
  • Luận án mới chỉ tập trung thống kê chi tiết trên hệ thống hiện vật, đồ tế tự và các ô hộc trang trí tiêu biểu; hệ thống cấu kiện kiến trúc có sơn phủ dày đặc trên toàn bộ 52 công trình chưa thể kiểm đếm và thống kê toàn diện trong phạm vi dung lượng của một luận án.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:

  • Mở rộng phạm vi thống kê và khảo sát kỹ thuật sơn truyền thống trên toàn bộ các cấu kiện chịu lực (cột, kèo, xà, xuyên, trếch) tại các công trình kiến trúc cung đình còn lại trong quần thể di tích.
  • Ứng dụng các phương pháp phân tích hóa nghiệm và vật lý hiện đại để kiểm tra thành phần hóa học chính xác của các lớp màng sơn cổ qua từng triều vua.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật ứng dụng, Hội họa sơn mài và Bảo tồn di sản văn hóa: Cung cấp khung lý thuyết, lịch sử kỹ thuật và hệ thống thuật ngữ nghề sơn truyền thống Việt Nam.
  • Cán bộ quản lý di sản, kiến trúc sư, chuyên viên bảo tồn tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và các cơ quan quản lý di tích trên cả nước: Cung cấp cơ sở khoa học, tiêu chuẩn vật liệu và quy trình kiểm soát chất lượng màng sơn trong các dự án tu bổ, phục hồi di tích kiến trúc gỗ.
  • Nghệ nhân, thợ phục chế tại các làng nghề truyền thống: Cung cấp tư liệu lịch sử và kỹ thuật pha chế sơn son, sơn then, sơn phủ hoàng kim theo thư tịch triều Nguyễn.

Phần đáng tham khảo nhất của công trình là chương 1 (hệ thống thuật ngữ, các trích lục quy định từ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và các bảng thống kê số lượng hiện vật) và chương 3 (các biện luận khoa học phân biệt kỹ thuật thếp giữa các vùng miền và phân tích nguyên nhân hư hại chất liệu sơn).

Câu hỏi thường gặp

1. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ quy định công thức pha chế sơn son phủ ngoài như thế nào vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832)? Theo văn bản tập XV của Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, triều Nguyễn quy định: Sơn son phủ ngoài cứ mỗi 1 lạng ngân châu pha với sơn sống và dầu đồng mỗi thứ 4 đồng cân 8 phân, cùng sơn mặt dầu 2 đồng cân 4 phân. Nếu phủ ngoài bằng sơn sống trộn phấn châu quét xong 2 lượt thì pha bằng 3 lạng 2 đồng cân sơn sống.

2. Điểm khác biệt về kỹ thuật thếp giữa bửu tán điện Thái Hòa, án thờ Hưng Miếu và Tử Cấm Thành là gì? Tại bửu tán điện Thái Hòa, nghệ nhân sử dụng kỹ thuật dát vàng lá nguyên chất trực tiếp lên lớp sơn cầm, không phủ hoàng kim và không sơn son nền; tại Hưng Miếu (do thợ miền Bắc thi công), nghệ nhân dát bạc lá rồi phủ lớp hoàng kim tạo sắc vàng ngả đỏ; còn tại Tử Cấm Thành (trùng tu năm 2013 do thợ Huế thi công), nghệ nhân dát bạc lá rồi phủ sơn chín pha phẩm vàng tạo ra sắc vàng tươi.

3. Chế độ chi trả lương cho thợ sơn và thợ vẽ được triều đình vua Thiệu Trị quy định cụ thể ra sao vào năm 1842? Theo quy định năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, thợ sơn làm việc từ tháng giêng đến tháng 6 nhận mỗi tháng 1 quan tiền và 1 phương gạo; từ tháng 7 đến hết năm nhận 5 tiền và 1 phương gạo. Thợ vẽ làm việc cả năm: thợ giỏi nhận 1 quan 5 tiền và 1 phương gạo mỗi tháng; thợ bậc vừa nhận 1 quan và 1 phương gạo; thợ kém nhận 5 tiền và 1 phương gạo.

4. Cây sơn truyền thống dùng trong cung đình Huế thuộc loài thực vật nào và có nguồn gốc từ đâu? Cây sơn truyền thống được triều Nguyễn sử dụng là giống sơn ta khai thác từ Phú Thọ, có tên khoa học là Rhus succedanea L. Loài này khác hoàn toàn với loài sơn mọc ở miền Nam và Campuchia (Melanorhoea laccifera Pierre) và loài cây sơn của Nhật Bản (Rhus vernicifera D.).

5. Công trình kiến trúc nào tại di tích Cố đô Huế lưu giữ các tác phẩm sơn khắc vẽ về điển tích "Nhị thập tứ hiếu"? Điện Ngưng Hy (thuộc lăng Đồng Khánh) là công trình lưu giữ 24 đồ bản vẽ về điển tích "Nhị thập tứ hiếu" được thực hiện hoàn toàn bằng kỹ thuật sơn khắc trên gỗ bằng chất liệu sơn truyền thống.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đỗ Xuân Phú là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí tại Quần thể di tích cố đô Huế dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật. Tác giả đã kết hợp tư liệu thư tịch triều Nguyễn (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam thực lục) với kết quả khảo sát điền dã thực tế trên hơn 29 công trình kiến trúc cung đình để làm sáng tỏ quy trình kỹ thuật, công thức pha chế và giá trị biểu đạt của sơn thếp. Luận án khẳng định vai trò cốt lõi của mủ sơn tự nhiên trong việc tạo nên thẩm mỹ vàng son lộng lẫy và bảo vệ kiến trúc gỗ, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn di sản cố đô Huế.