Nghiên cứu sâu về sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí quần thể di tích cố đô Huế

Khám phá luận án tiến sĩ về sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí quần thể di tích Cố đô Huế, tìm hiểu giá trị văn hóa và lịch sử độc đáo.

Trường đại học

Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

201
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SƠN TRUYỀN THỐNG TRONG NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ

1.1. Khái niệm sơn truyền thống và một số thuật ngữ

1.2. Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí thời Nguyễn

1.3. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ CỦA SƠN TRUYỀN THỐNG TRONG QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ

2.1. Hiệu quả trang trí trong các đề tài mỹ thuật

2.2. Giá trị tạo hình nghệ thuật trang trí trên sơn truyền thống

2.3. Tính biểu đạt của sơn truyền thống

2.4. Giá trị bền vững của chất liệu kết dính

2.5. Hội tụ và lan tỏa của sơn truyền thống trong đời sống văn hóa xã hội

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN VỀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA SƠN TRUYỀN THỐNG CÓ TÍNH KHOA HỌC TRONG NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ

3.1. Cơ sở khoa học chứng minh sơn truyền thống

3.2. Vị trí của sơn truyền thống trong dòng chảy

3.3. Vai trò quan trọng của mỗi loại sơn

3.4. Một vài biện luận về tính mới của luận án

3.5. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về sơn truyền thống

Chương này tập trung vào việc xác định sơn truyền thống và các thuật ngữ liên quan. Sơn truyền thống được hiểu là chất liệu sơn cổ truyền, sử dụng trong nghệ thuật trang trí tại di tích cố đô Huế. Nghiên cứu tổng quan các công trình trước đây về sơn truyền thống, luận án nhấn mạnh sự thiếu hụt nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của sơn trong nghệ thuật trang trí tại cố đô Huế. Các tài liệu tham khảo được hệ thống hóa để làm rõ nguồn gốc, kỹ thuật chế tác và ứng dụng của sơn truyền thống trong thời kỳ nhà Nguyễn.

1.1. Khái niệm sơn truyền thống

Sơn truyền thống là chất liệu được làm từ mủ cây sơn, qua quá trình tinh luyện để tạo thành các loại sơn như sơn son, sơn thếp vàng, sơn phủ hoàng kim. Chất liệu này không chỉ mang tính thẩm mỹ cao mà còn có độ bền vững, phù hợp với nghệ thuật trang trí trong các công trình kiến trúc cung đình. Sơn truyền thống đã trở thành một phần không thể thiếu trong di sản văn hóa của cố đô Huế, thể hiện qua các họa tiết trang trí tinh xảo trên các cấu kiện gỗ, án thờ và đồ tế tự.

1.2. Tổng quan nghiên cứu về sơn truyền thống

Các nghiên cứu trước đây về sơn truyền thống chủ yếu tập trung vào kỹ thuật chế tác và ứng dụng trong các làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, nghiên cứu về vai trò của sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí tại di tích cố đô Huế còn hạn chế. Luận án này bổ sung khoảng trống đó bằng cách hệ thống hóa các tài liệu liên quan và đưa ra cái nhìn toàn diện về giá trị thẩm mỹ và văn hóa của sơn truyền thống trong nghệ thuật truyền thống Việt Nam.

II. Giá trị nghệ thuật trang trí của sơn truyền thống

Chương này phân tích các giá trị tiêu biểu của sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí tại quần thể di tích cố đô Huế. Sơn truyền thống không chỉ tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy cho các công trình kiến trúc mà còn mang ý nghĩa tâm linh, tôn giáo. Các họa tiết trang trí bằng sơn truyền thống như Tứ linh, Tứ thời, và hình tượng rồng được thể hiện tinh tế, phản ánh tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo. Ngoài ra, sơn truyền thống còn có giá trị bền vững, giúp bảo tồn các di tích lịch sử qua thời gian.

2.1. Hiệu quả trang trí trong các đề tài mỹ thuật

Sơn truyền thống được sử dụng để trang trí các đề tài mỹ thuật như Tứ linh, Tứ thời, và hình tượng rồng. Các họa tiết này không chỉ mang tính thẩm mỹ cao mà còn thể hiện sự hài hòa giữa nghệ thuật và tư tưởng văn hóa. Ví dụ, hình tượng rồng trên các hàng cột ở điện Thái Hòa được thể hiện bằng sơn truyền thống, tạo nên vẻ uy nghi và trang trọng.

2.2. Giá trị bền vững của chất liệu sơn

Sơn truyền thống có độ bền cao, giúp bảo tồn các di tích lịch sử qua thời gian. Các lớp sơn son thếp vàng không chỉ tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy mà còn có khả năng chống chịu tốt với các tác động của môi trường. Điều này giúp các công trình kiến trúc tại cố đô Huế duy trì được vẻ đẹp nguyên bản, góp phần vào việc bảo tồn di sản văn hóa.

III. Giá trị khoa học của sơn truyền thống

Chương này bàn luận về các giá trị khoa học của sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí tại quần thể di tích cố đô Huế. Luận án chứng minh rằng sơn truyền thống không chỉ là chất liệu trang trí mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Các kỹ thuật chế tác sơn như thếp vàng, phủ hoàng kim được phân tích chi tiết, làm rõ quy trình và hiệu quả của chúng trong việc tạo nên các tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

3.1. Kỹ thuật chế tác sơn truyền thống

Các kỹ thuật chế tác sơn truyền thống như thếp vàng, phủ hoàng kim được phân tích chi tiết. Quy trình này bao gồm nhiều công đoạn phức tạp, từ việc chuẩn bị nguyên liệu đến việc áp dụng các lớp sơn lên bề mặt gỗ. Kỹ thuật này không chỉ tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy mà còn đảm bảo độ bền vững cho các tác phẩm nghệ thuật.

3.2. Vai trò của sơn truyền thống trong bảo tồn di sản

Sơn truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Các công trình kiến trúc tại cố đô Huế được bảo tồn nhờ vào việc sử dụng sơn truyền thống, giúp duy trì vẻ đẹp nguyên bản và ngăn chặn sự xuống cấp do thời gian và môi trường. Điều này góp phần vào việc quảng bá nghệ thuật truyền thống Việt Nam ra thế giới.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí quần thể di tích cố đô huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho việc nhận diện chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí, bởi những quy trình về kỹ thuật sơn đem lại những thủ thuật, thủ pháp biểu hiện 17 trên các đồ vật, cấu kiện gỗ, ván tường hay cột trụ. tạo thành những đồ sơn có giá trị thẩm mỹ nhất định. Sơn truyền thống khá phức tạp về mặt kỹ thuật, nên những thuật ngữ và khái niệm mang tính nghề nghiệp đặc thù. Chúng có liên quan trực tiếp đến quy trình sơn truyền thống, sơn cổ truyền, son thếp, sơn quang bóng và nền cốt gỗ (vóc), hom bó, sơn son thếp bạc hay vàng, mài phẳng, khắc nét, lớp màu, chồng các lớp hom, lớp thí sơn.

Sơn ta, sơn chín rất cần thiết đối với DTCĐH nên NCS hệ thống một số thuật ngữ thường dùng trong quá trình thao tác của nghề sơn truyền thống ở DTCĐH cụ thể như sau: - Cốt gỗ là nguyên liệu chính trong việc tạo tác thành nền mộc như các kiểu thức trang trí, những cấu kiện, hàng cột, ô hộc, ván tường, cơi trầu, án thờ, khánh thờ và kiệu võng. - Phất vải (phủ vải) trên nền gỗ của các sản phẩm, mục đích tránh sự co giản và tạo nền bám vững chắc cho lớp bó sơn, hom sơn. - Bó sơn là trát lên nền mặt gỗ có phủ vải hoặc không phủ vải một lớp sơn gồm sơn sống trộn với đất phù sa và mạt cưa. - Hom là công đoạn sử dụng sơn sống trộn với đất phù sa để hom lên những đồ sơn như câu đối, án thờ, khánh thờ, kiệu võng, long sàng.

để nơi mát mẻ và tránh ở vị trí khô nóng làm rạn nứt mặt hom. - Lót sơn là lót lên mặt hom nhiều lớp sơn sống làm nền. - Mài sơn là mài các lớp sơn (mài bó, hom, lót sơn, thí sơn) cho phẳng phiu bằng đá mài hoặc giấy ráp (giấy nhám). - Thí sơn cũng như chồng lớp sơn, lớp màu lên trên nền vóc hoặc trên các họa tiết trang trí.

Hòa trộn màu son (đỏ) với sơn chín tô phủ lên bề mặt các kiểu thức, đồ sơn, hàng cột. - Vóc sơn có nghĩa là cốt gỗ được xử lý qua các công đoạn từ bó sơn đến thí son gọi là vóc. 18 - Sơn cầm, tô quét mỏng một lớp sơn cầm trên nền vóc có họa tiết để dát (thếp) vàng hay bạc lá. - Sơn thếp, thếp (dát) vàng bạc chính là sử dụng kim loại quý của nghề kim hoàn được người thợ dát mỏng.

Chúng được thếp lên các họa tiết trang trí hoặc đường viền, đường diềm của họa tiết trong và ngoài ô hộc. - Sơn quang (dầu) là nước sơn được phủ nhiều lần lên các cấu kiện gỗ có hoặc không có kiểu thức trang trí. Chúng tạo sản phẩm có độ bóng như công trình kiến trúc cung Diên Thọ và điện Long An. - Sơn phủ hoàng kim, loại sơn phủ trên bề mặt của vàng, bạc lá và trên nền màu son (đỏ).

- Sơn sống là một loại mủ sơn được chiết xuất từ cây sơn Phú Thọ - Sơn cánh gián (sơn chín) được khuấy chín bởi sơn sống loại tốt (sơn giọi nhất) với nhựa thông để trộn với màu son (đỏ) tô phủ mặt nền và họa tiết trang trí trong QTDTCĐH. - Sơn then được tinh chế từ sơn sống trộn với bột sắt, tô phủ lên mảng tường, cột kèo có các họa tiết trang trí. - Sơn son thếp vàng có nghĩa kết hợp hai công đoạn sơn son nền và dát vàng hoặc bạc lá phủ hoàng kim. - Sơn ta (sơn mỹ nghệ, sơn cổ truyền, sơn truyền thống) chính là sơn sống, những cụm từ đó được sử dụng chung trong nghề sơn.

- Sơn hạt điều, sơn Nhật được tinh luyện theo công nghệ hiện đại, ưu điểm nhanh khô, không bị lở loét da thịt người của thợ sơn; nhược điểm nhanh chóng bong tróc thành từng mảng, vì vậy trong DTCĐH không nên sử dụng hai loại sơn này. - Sơn mật dầu là lớp mật loãng, có màu nâu sẫm, nổi trên mặt sơn, rất khó khô và có khi không khô, công dụng pha chế và che chở các lớp sơn bên dưới như sơn giọi nhất, nhì, thịt. 19 - Dầu đồng là một loại dầu có sắc đỏ, như dầu nhựa thông. - Ngân châu có nghĩa là chất thuốc màu sắc đỏ, lấy lưu hoàng và thủy ngân chế thành, được hiểu như màu son (đỏ) ngày nay.

- Thổ phấn châu, trong Hán Việt dịch thuật chữ thổ có nghĩa là đất (đất thó), còn từ phấn như phàm vật gì tán nhỏ gọi là phấn, châu là sắc đỏ. Được hiểu là đất mịn có màu nâu đỏ (bột chu) để trộn với sơn sống và hom bó. - Phấn châu, Phấn có nghĩa là vật nghiền ra rất nhỏ gọi là phấn và châu là sắc đỏ. - Khắc nét là dùng các loại đục bạt, vũm, tách có nhiều kích cỡ, sử dụng linh hoạt trong khắc chạm nông sâu họa tiết trang trí.

- Vẽ nét chính là sử dụng bút lông có kích cỡ nhỏ, người thợ vẽ nét theo mẫu lên nền sơn son hoặc nền gỗ bằng chất liệu sơn then, sơn cầm; cụ thể từng chi tiết của họa tiết để sơn son thếp vàng, còn đối với vẽ nét chạm khắc sử dụng bút chì để vẽ nét thành họa tiết. Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí thời Nguyễn 1. Khái quát về chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí di tích cố đô Huế Thời Nguyễn tinh tế chọn Huế làm thủ phủ (1802-1945), kế thừa và phát triển mạnh mẽ những tinh hoa của các thời kỳ trước đó, nhất là thời Lý. So sánh với kiến trúc di tích của cả nước thì tuổi đời mỹ thuật cung đình thời Nguyễn còn non trẻ, chỉ có 143 năm hình thành xây dựng kinh thành, nhưng cũng vừa đủ để góp thêm tiếng nói của các chất liệu khác mà trong đó chất liệu sơn truyền thống và nghệ thuật trang trí nổi bật nhất.

Sơn truyền thống đóng vai trò chủ đạo trong kiến trúc DTCĐH, bởi giá trị nhân văn của nó biểu hiện rõ nét trên các kiểu thức trang trí. Chúng vẫn còn gắn bó với các nhân chứng sống đó là “các kiểu thức trang trí” và “chất liệu sơn truyền thống ” được định hình cụ thể trong QTDTCĐH ngày nay. 20 Thuận Hóa (Huế) là nơi hội tụ các bậc tài năng, trí tuệ của cả nước. Cùng với kiến trúc, điêu khắc, sơn cổ truyền hiện hữu khắp nơi, từ cung điện, đền miếu, đền đài lăng tẩm của vua chúa cho đến các đình, chùa, nhà thờ họ đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Các vật dụng sinh hoạt từ trong cung đình cho đến dân gian như các gia đình quyền quý với những đồ sơn quen thuộc như hoành phi, câu đối, đáp, hộp, kiệu võng, án thư, sạp tủ đều được sơn cổ truyền tô điểm trang trọng, uy nghi. Sơn cổ truyền Huế được sinh hoạt theo từng cụm gia đình, họ hàng theo kiểu cha truyền con nối như một số ngành nghề thủ công khác. Có thể nói cái nôi của nghề sơn truyền thống Huế tập trung ở các làng như Địa Linh, Triều Sơn, Tiên Nộn ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong đó làng Tiên Nộn - xã Phú Mậu - huyện Phú Vang cách thành phố Huế khoảng 10 km về hướng Đông - Bắc, được xem là làng nghề sơn cổ truyền tại xứ Huế.

Vào thời vua Khải Định đã trưng dụng cụ Nguyễn Đức Bùi vào cung đình phục chế sơn son thếp vàng. Trong kỹ thuật chế tác từ sơn sống làm ra sơn cánh gián để điều chế ra các màu, các loại sơn thì người thợ sơn đánh sơn rất vất vả, công lao của họ được đền đáp bằng những công trình sơn truyền thống biểu hiện rõ nét trên những kiểu thức trang trí. Ngoài những kiến trúc có sử dụng chất liệu sơn truyền thống như Ngọ Môn, điện Thái Hoà và Thế Miếu… Thời Nguyễn, còn cho xây dựng nhà hát Duyệt Thị Ðường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Ðường, Minh Khiêm Ðường ở Khiêm Lăng, thành lập Thanh Bình Thư được sơn son thếp vàng lộng lẫy và kiểu thức trang trí phù hợp với chức năng diễn xuất của diễn viên tuồng dưới thời vua Minh Mạng. Thành lập Ban Hiệu Thư dưới thời vua Tự Ðức chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng, những cơ sở được tô vẽ trang trí họa tiết bằng sơn truyền thống giàu tính dân tộc và được 21 coi như toàn bộ công trình là một “khối thống nhất sơn” mạnh mẽ, đặc trưng và sánh với các chất liệu khác cùng thời.

Các công trình kiến trúc cung đình dưới thời Nguyễn theo lối dàn trải, không cao theo hướng vút lên bầu trời so với một số kiến trúc ở miền Bắc, nhưng kiến trúc thời Nguyễn có kiểu thức trang trí được phủ lớp sơn truyền thống độc đáo và nổi bật, bắt mắt nên tác giả Phan Thuận An trong bài viết Kiến trúc cố đô Huế khẳng định “…Với vật liệu chính là gỗ, các cung điện làm theo kiểu nhà kép, gọi là trùng lương trùng thiềm. Trang trí nội ngoại thất đều rất phong phú bằng hình ảnh và thư văn chen kẽ nhau theo lối nhất thi nhất họa. Chạm trổ tỉ mỉ, công phu, tinh tế” [2, tr. Cho thấy, thời Nguyễn đã chú tâm đến kiến trúc cung đình bằng nghệ thuật tạo hình độc đáo trong các chất liệu như khảm sành sứ, tranh gương, đúc đồng, đặc biệt chất liệu sơn truyền thống mà nổi trội hình chạm khắc cầu kỳ, chúng tôn vinh vẻ đẹp tạo hình lẫn nhau.

Ở đây mảng sơn truyền thống có mặt hầu hết ở nội và ngoại thất cung điện, xử lý thành thạo các thao tác, công đoạn trong phần kỹ thuật một cách có tính chủ động trong bộ tứ linh, tứ thời độc tôn. Nghệ thuật trang trí với những kiểu thức được biểu hiện bằng sắc đỏ, vàng lộng lẫy, chúng sắc sảo, sinh động về đường nét; phải công nhận sự tìm tòi, sáng tạo tài hoa của các nghệ nhân thời bấy giờ. Những kiểu thức ấy có sự tác động trở lại với đời sống mỹ thuật trong sự tiếp nhận thuộc tính tạo hình ở cung đình mỹ thuật triều Nguyễn. Tác giả Gia Bảo trong bài viết Những ý tưởng sáng tạo trong hội họa đã trình bày “Hiếm thấy một chất liệu tạo hình khác có sự giao hòa giữa cung đình mang đặc trưng như vậy” [6].

Chính yếu tố về các dấu tích của sơn truyền thống trong ở các đình, chùa, làng xã có tính tương đồng. Điều đó phản ánh sự giao thoa giữa nghệ thuật dân gian và cung đình tạo ra một mạch thống nhất mạnh mẽ trong chất liệu sơn truyền thống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí di tích cố đô Huế là một nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật và giá trị nghệ thuật của sơn truyền thống được sử dụng trong việc trang trí các di tích lịch sử tại Huế. Tài liệu này không chỉ làm nổi bật vai trò của sơn truyền thống trong việc bảo tồn di sản văn hóa mà còn cung cấp những hiểu biết sâu sắc về quy trình, nguyên liệu và ý nghĩa văn hóa đằng sau mỗi tác phẩm. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến nghệ thuật truyền thống, bảo tồn di sản và lịch sử văn hóa Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Bản toàn văn luận án, cung cấp chi tiết hơn về phương pháp và kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ sạp thái ở tây bắc xưa và nay cũng là một tài liệu thú vị, khám phá văn hóa và nghệ thuật truyền thống ở một vùng miền khác của Việt Nam. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn bản tính lý tiết yếu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp nghiên cứu văn bản cổ, một kỹ năng quan trọng trong việc phân tích di sản văn hóa. Hãy khám phá những tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề!