Tổng quan về luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí Quần thể di tích cố đô Huế" do Nghiên cứu sinh (NCS) Đỗ Xuân Phú thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Quốc Hùng tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mã số: 9210101, Hà Nội, 2018) là công trình nghiên cứu tiên phong, có tính hệ thống cao về chất liệu sơn truyền thống (sơn ta) trong không gian mỹ thuật cung đình triều Nguyễn (1802–1945). Trong bối cảnh Quần thể Di tích Cố đô Huế (QTDTCĐH) đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới từ ngày 11/12/1993, việc nhận diện, giải mã và xác lập cơ sở khoa học cho chất liệu sơn truyền thống không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn di sản vật thể mà còn phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể đỉnh cao của dân tộc.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) lớn mà luận án giải quyết xuất phát từ thực trạng: các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận kiến trúc Huế dưới góc độ quy hoạch, lịch sử, kỹ thuật mộc hoặc khảo sát văn hóa dân gian đơn thuần, để trống mảng lý luận chuyên sâu về bản chất vật liệu học, quy trình chế tác cung đình, ngôn ngữ biểu đạt thẩm mỹ và sự phân tầng biểu tượng của chất liệu sơn thếp trên các cấu kiện, đồ án trang trí hoàng gia. Luận án đặt ra hệ thống 04 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Bản chất vật liệu học, đặc trưng kỹ thuật và sự phân loại của các dòng sơn truyền thống (sơn sống, sơn cánh gián, sơn then, sơn quang, sơn phủ hoàng kim) trong mỹ thuật cung đình Huế là gì?
  2. Cơ chế thể chế hóa và tổ chức lao động của triều Nguyễn thông qua hệ thống Tượng cục (Tất tượng cục, Tất họa tượng cục, Kim tượng ty, Ngân tượng ty, Họa tượng ty) tác động như thế nào đến sự chuẩn hóa quy trình sơn son thếp vàng?
  3. Giá trị tạo hình, biểu tượng thẩm mỹ và sự giao thoa giữa nghệ thuật cung đình với tinh hoa dân gian được biểu đạt ra sao qua các kiểu thức trang trí (Tứ linh, Tứ thời, Bát bửu, Nhất thi nhất họa, Án thờ, Bửu tán)?
  4. Sự biến đổi vật lý, hiện tượng hư hại (uốn cong, bong tróc mảng, phai bạc) của sơn truyền thống chịu tác động từ nguyên nhân khoa học nào và giải pháp bảo tồn chuẩn xác là gì?

Tương ứng với các câu hỏi là hệ thống 03 giả thuyết nghiên cứu (hypotheses):

  • H1: Sơn truyền thống chiết xuất từ cây sơn Phú Thọ (Rhus succedanea L.) là chất kết dính và bảo vệ tối ưu, đóng vai trò "khối thống nhất sơn" quyết định tính bền vững và thẩm mỹ đặc trưng của kiến trúc gỗ cung đình Huế.
  • H2: Nghệ thuật trang trí bằng sơn truyền thống thời Nguyễn là kết quả của quá trình tích hợp thể chế hoàng gia chặt chẽ với tay nghề nghệ nhân dân gian, tạo nên phong cách mỹ thuật bác học nhưng đậm hồn cốt dân tộc.
  • H3: Sự khác biệt về sắc độ và độ bền giữa các công trình sơn thếp (như Thế Miếu dát vàng lá nguyên chất so với Hưng Miếu dát bạc lá phủ hoàng kim) phản ánh tính đa tầng trong công nghệ chế tác và sự tiếp biến kỹ thuật giữa các vùng miền.

Khung lý thuyết của luận án xây dựng trên nền tảng Thuyết Vật chất tính trong Văn hóa Nghệ thuật (Material Culture Theory của Alfred Gell), Thuyết Ký hiệu học & Hình thái học Mỹ thuật (Iconology của Erwin Panofsky) và Thuyết Tiếp biến Văn hóa (Acculturation Theory). Về quy mô khảo sát (scope), luận án thống kê toàn diện 52 công trình kiến trúc trọng điểm trong QTDTCĐH, xác định hơn 29 công trình tiêu biểu sử dụng chất liệu sơn truyền thống (chiếm trên 55% tổng thể kiến trúc gỗ hoàng gia), tập trung khảo sát sâu tại: Điện Thái Hòa, Thế Miếu, Hưng Miếu, Hiển Lâm Các, Phước Thọ Am (Khương Ninh Các), Ngọ Môn và Lăng Tự Đức, bao quát mốc thời gian từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX và kéo dài đến thực tiễn trùng tu đương đại.


Literature Review và Positioning

Nghiên cứu về sơn truyền thống trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam đã hình thành qua nhiều giai đoạn với các mạch tài liệu phong phú nhưng còn phân tán:

  1. Mạch khảo cổ học và nguồn gốc lịch sử: Các phát hiện khảo cổ học của Đinh Văn Kiên và Lê Xuân Diệm tại mộ cổ Đường Dù (Thủy Nguyên, Hải Phòng, niên đại thế kỷ I SCN) với 14 loại công cụ làm nghề sơn, cùng di vật quan tài thân cây khoét rỗng tại Việt Khê (Hải Phòng, niên đại thế kỷ III–IV TCN) chứa hơn 100 hiện vật bằng gỗ sơn then, giáo mác dài 2,39m sơn bóng, mái chèo sơn then phủ vàng, đã khẳng định bề dày hơn 2000 năm của nghề sơn cổ truyền. Các thư tịch cổ như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, nghiên cứu của Vũ Ngọc Khánh về tướng quân Trần Ứng Long (thế kỷ X) lấy nhựa sơn trét thuyền vượt sông, và tài liệu của Phạm Đức Cường về cụ Trần Lư (Trần Thượng Công, 1443–1460, thời Lê Nhân Tông) học kỹ thuật sơn son thếp vàng truyền cho làng Bình Vọng, đã xác lập phả hệ truyền thừa kỹ nghệ sơn ta trải dài từ Bắc Bộ vào Trung Bộ (làng Tiên Nộn, Địa Linh, Triều Sơn tại Thừa Thiên Huế).
  2. Mạch kỹ thuật và làng nghề: Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Chuốt, Vũ Từ Trang, Phạm Côn Sơn, Lê Xuân Chiểu, Nguyễn Lan Hương (nghề sơn quang Cát Đằng) và Phan Thanh Bình (nghề sơn mài Huế) đã phác thảo mạng lưới làng nghề truyền thống. Đặc biệt, dấu mốc nghệ nhân Đinh Văn Thành tham dự Đấu xảo Paris năm 1937 đã mở đường cho việc phối trộn nhựa thông (tùng hương) vào sơn chín để tạo ra sơn cánh gián dẻo dai, bóng mượt, đặt nền móng cho kỹ thuật mài nước độc đáo của nghệ thuật sơn mài hiện đại.
  3. Mạch mỹ thuật cung đình Huế: Tác giả Phan Thuận An trong Kiến trúc cố đô Huế nhấn mạnh: "...Với vật liệu chính là gỗ, các cung điện làm theo kiểu nhà kép, gọi là trùng lương trùng thiềm. Trang trí nội ngoại thất đều rất phong phú bằng hình ảnh và thư văn chen kẽ nhau theo lối nhất thi nhất họa. Chạm trổ tỉ mỉ, công phu, tinh tế". PGS. Chu Quang Trứ trong Văn hóa mỹ thuật Huế khẳng định giá trị tuyệt mỹ của đồ án thờ tự: "...Chiếc án thờ thếp vàng choáng rực với những ô hộc nhô ra các hình trang trí tinh xảo, mỗi hình là một tác phẩm điêu khắc". Các nghiên cứu của Trần Lâm Biền và Họa sĩ Vĩnh Phối tập trung nhận diện nét riêng của mỹ thuật Nguyễn thông qua hệ thống đồ án Tứ linh, hoa văn kỷ hà và tính chất trang nghiêm của hòa sắc vàng son trong không gian thờ tự.

Tranh luận học thuật cốt lõi (Debates):

  • Quan điểm 1: Cho rằng sơn truyền thống chỉ thuần túy là một kỹ nghệ thủ công dân gian (craft), mang tính kinh nghiệm phường thợ cá thể, thiếu tính chuẩn mực khoa học.
  • Quan điểm 2: Khẳng định sơn truyền thống cung đình Huế là một hệ thống mỹ thuật hàn lâm phong kiến hoàn chỉnh, được thể chế hóa cao độ qua hệ thống văn bản pháp quy của triều đình và các công xưởng Tượng cục chuyên biệt.
  • Luận án định vị: Chứng minh sơn truyền thống Huế là điểm hội tụ đỉnh cao của kỹ nghệ dân gian được nâng tầm thành quy chuẩn mỹ học cung đình, có quy chế chế tác, định mức vật tư và phân công lao động nghiêm ngặt ghi nhận trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.

Đối sánh quốc tế: Luận án mở rộng so sánh bản chất thực vật học và kỹ thuật mủ sơn giữa loài sơn Phú Thọ (Rhus succedanea L.) của Việt Nam với loài sơn Campuchia/Nam Bộ (Melanorhoea laccifera Pierre) và loài sơn Nhật Bản/Trung Quốc (Rhus vernicifera D.) dựa trên các công trình thực vật học kinh điển của H. Lecomte (1908–1923), Pierre Domart (1929) và Crévost Charles (1905). Trong khi sơn Urushi (Rhus vernicifera D.) chứa hàm lượng urushiol cao đòi hỏi độ ẩm khắt khe để đóng rắn, sơn ta Việt Nam (Rhus succedanea L.) với gốc laccol đặc trưng tạo nên màng sơn có độ đàn hồi cao, sắc độ cánh gián trong trẻo, trầm ấm, thích ứng hoàn hảo với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa khắc nghiệt của miền Trung Việt Nam.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Thuyết Ký hiệu học Mỹ thuật (Iconology) và Thuyết Văn hóa Vật thể (Material Culture) khi chứng minh rằng chất liệu không đơn thuần là giá đỡ thụ động mà là thành tố trực tiếp kiến tạo ngữ nghĩa nghệ thuật. Bằng việc phân tích các lớp sơn son, sơn then và thếp vàng, luận án thiết lập 04 mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions):

  • Proposition 1: Độ sâu quang học và độ bóng của lớp sơn cánh gián kết hợp bột son (ngân châu) tạo ra hiệu ứng chuyển màu phi tuyến tính dưới ánh sáng tự nhiên, định hình không gian tâm linh cung đình trầm mặc.
  • Proposition 2: Kỹ thuật "phủ hoàng kim" (dát bạc lá rồi phủ nước sơn chín pha phẩm vàng) là giải pháp tiếp biến công nghệ vừa đáp ứng thẩm mỹ sắc vàng vương quyền vừa giải quyết bài toán kinh tế và thích ứng vật liệu.
  • Proposition 3: Hệ thống "Nhất thi nhất họa" trên các liên ba đố bản gỗ sơn thếp là một cấu trúc diễn ngôn liên văn bản (intertextual discourse), tích hợp triết lý trị quốc Nho giáo với tư tưởng Lão - Phật.
  • Proposition 4: Tính bền vững của cấu trúc gỗ cung đình Huế tỷ lệ thuận với mức độ tuân thủ quy trình đa tầng: bó cốt, hom phù sa, lót mài và thí son.
                 KHUNG PHÂN TÍCH ĐA TẦNG CỦA SƠN TRUYỀN THỐNG CUNG ĐÌNH

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 03 trục tiếp cận liên ngành:

  1. Trục Vật liệu học - Công nghệ cổ truyền: Khảo sát từ mủ sơn sống (Rhus succedanea L.) qua quá trình khuấy luyện nhiệt cơ học thành sơn cánh gián (sơn chín), phối chế bột màu khoáng tự nhiên (ngân châu, phấn châu, thổ phấn châu, bột sắt) và kỹ thuật dát vàng, bạc quỳ.
  2. Trục Thể chế - Xã hội học nghệ thuật: Khảo cứu cấu trúc vận hành của các công xưởng hoàng gia (Tất tượng cục, Kim tượng ty, Họa tượng ty) theo quy chế trưng tập thợ giỏi toàn quốc của Bộ Công.
  3. Trục Hình thái học & Mỹ học: Giải mã các đơn nguyên hoa văn trang trí (long, lân, quy, phượng; mai, lan, cúc, trúc; bát bửu; hồi văn chữ Vạn, chữ Thọ) trên các cấu kiện kiến trúc, án thờ, bao lam, hoành phi, câu đối.

Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích giới hạn trong các công trình kiến trúc gỗ và đồ gỗ tế tự cung đình thuộc QTDTCĐH được tạo tác hoặc tu bổ trong giai đoạn triều Nguyễn (1802–1945), có mở rộng đối sánh với các di tích cùng thời tại Bắc Bộ (Văn Miếu - Quốc Tử Giám).


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan Thực chứng Phê phán (Critical Realism) kết hợp Phương pháp Luận Giải thích (Interpretivism). Thiết kế nghiên cứu phức hợp (multi-level mixed design) tích hợp phân tích sử liệu văn bản gốc với khảo sát thực địa điền dã và phân loại định lượng hiện vật:

  • Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Nghiên cứu thể chế, chính sách tuyển dụng thợ ngạch và định mức vật tư cung đình qua thư tịch Hán Nôm triều Nguyễn.
  • Cấp độ trung mô (Meso-level): Khảo sát cấu trúc không gian và mật độ xuất hiện của sơn truyền thống trên 52 công trình thuộc Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm Thành và hệ thống lăng tẩm.
  • Cấp độ vi mô (Micro-level): Bóc tách từng lớp cấu trúc vật liệu (vóc, bó, hom, lót, mài, thí, thếp) trên các hiện vật cụ thể (án thờ Thế Miếu, bửu tán Điện Thái Hòa, khám thờ Hưng Miếu).

Quy trình nghiên cứu rigorous

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản (Archival Heuristics): Tiếp cận trực tiếp các bộ chính sử nguyên bản: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tập V, XV), Đại Nam thực lục chính biên (tập VII), Đại Nam nhất thống chí, các tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH) và họa phẩm nghiên cứu của Tôn Thất Sa trong L'Art à Hué.
  2. Phương pháp điền dã, kiểm kê hiện vật (Field Survey & Visual Mapping): Đo đạc, chụp ảnh, lập bảng phân loại chi tiết các đồ án trang trí trên hệ thống liên ba, vì kèo, hàng cột và đồ sơn tại các điểm di tích trọng yếu.
  3. Kỹ thuật Tam giác đạc (Triangulation): Đối chiếu chéo giữa văn bản quy chuẩn triều đình (lý thuyết định mức) với hiện vật thực tế tồn đọng (thực chứng khảo cổ) và lời kể của các nghệ nhân truyền đời (kinh nghiệm thực hành của dòng họ cụ Nguyễn Đức Bùi làng Tiên Nộn).

Data và phân tích

Số liệu khảo sát được định lượng hóa và phân loại hệ thống:

  • Tổng thể khảo sát: Khảo sát 52 công trình thuộc QTDTCĐH, xác định 29 công trình kiến trúc gỗ quy mô lớn sử dụng kỹ nghệ sơn truyền thống toàn phần hoặc từng phần.
  • Thống kê hiện vật đồ sơn nội - ngoại thất (Bảng số liệu 2 của luận án):
    • Thế Miếu: 10 án thờ, 10 khánh thờ, 20 bài vị, 10 sập thờ, 10 kệ, 10 tợ, 12 đôn, 30 bàn tế, 01 đặc chung (chuông), 01 chum bảo vệ kỳ lân, 01 lầu chuông, 01 lầu trống.
    • Hưng Miếu: 03 án thờ mặt tiền, 01 án thờ mặt hậu, 01 khánh thờ, 02 bài vị, 02 cơi trầu, 02 sập thờ, 03 kệ, 02 tợ, 01 đặc khánh, 01 đặc chung, 01 chum.
    • Phước Thọ Am (Khương Ninh Các): 10 tượng Thập điện Minh Vương, 03 tượng Ban Hội đồng, 03 tượng Phật, 02 tượng Quan Công, 01 tượng Thánh Mẫu Thiên Y A Na, 02 tượng Tổ nghề hát bội, 02 tượng Ngựa sơn truyền thống.
    • Điện Thái Hòa: 80 cột gỗ lim thếp rồng mây, 01 Ngai vàng chạm lộng rồng vờn ngọc, 01 hệ thống Bửu tán bằng gỗ chạm lộng rồng chầu mặt trời thếp vàng lá nguyên chất.
    • Hiển Lâm Các: Công trình 3 tầng cao 16m, dài 21m, rộng 12,8m với 24 hàng cột tầng 1, 8 trụ chính cao 12m tầng 2 khoác lớp sơn then (đen) huyền bí kết hợp sơn son ngoại thất.
  • Quy chuẩn hóa công thức pha chế sơn cung đình: Luận án khôi phục bảng quy trình 8 công đoạn chuẩn:
    1. Cốt gỗ (nền mộc): Gỗ lim, kiền kiền, mít được xử lý khô kiệt.
    2. Phất vải: Dán vải màn/vải xô bằng sơn sống lên bề mặt gỗ để chống co ngót nứt nẻ.
    3. Bó sơn: Dùng sơn sống trộn đất phù sa (hoặc thổ phấn châu) và mạt cưa mịn trét kín các kẽ hở.
    4. Hom sơn: Dùng sơn sống hòa đất phù sa mịn quét nhiều lớp tạo phẳng.
    5. Lót sơn: Quét 2–3 lớp sơn sống mỏng làm nền liên kết.
    6. Mài nước: Dùng đá mài hoặc giấy ráp mài phẳng tuyệt đối trong môi trường nước.
    7. Thí son / Sơn then / Sơn quang: Quét lớp màu hoàn thiện (sơn cánh gián pha ngân châu hoặc bột then).
    8. Sơn cầm & Thếp vàng/bạc: Quét lớp sơn cầm mỏng để dán vàng lá, bạc lá, sau đó phủ nước sơn hoàng kim bảo vệ.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Chuẩn hóa công thức pha trộn vật liệu sơn cung đình qua văn bản học pháp quy: Luận án trích dẫn và giải mã chính xác định mức chế tác đồ sơn quy định trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tập XV, tr. 94) dưới triều vua Minh Mạng năm thứ 13 (1832):

    "Sơn son phủ ngoài, cứ mỗi lạng ngân châu pha với sơn sống, dầu đồng mỗi thứ 4 đồng cân 8 phân và sơn mặt dầu 2 đồng cân 4 phân; phủ ngoài mà bằng sơn sống trộn với phấn châu quét hai lượt xong, thì pha bằng 3 lạng 2 đồng cân sơn sống. Sơn đỏ phủ ngoài, cứ 4 lạng ngân châu thì 3 lạng sơn sống, 8 lạng sơn mặt dầu và 2 lạng dầu thông; lót trong mà bằng sơn sống trộn với thổ phấn châu quét 2 lượt xong, thì pha bằng 2 cân 4 lạng 8 đồng cân sơn sống. Sơn then phủ ngoài, cứ mỗi 2 lạng sơn sống thì 8 lạng sơn mặt dầu, 2 lạng dầu thông. Còn như những chỗ hà hố, tuỳ theo sâu nông, liệu số sơn sống pha với mạt cưa mà trét, thì không ở lệ này." Phát hiện này chứng minh triều Nguyễn đã đạt trình độ tiêu chuẩn hóa hóa học vật liệu sơn ta ở cấp độ công nghệ cao nhất của khu vực thời bấy giờ.

  2. Vai trò "Khối thống nhất sơn" quyết định tuổi thọ kiến trúc: Chất liệu sơn truyền thống không chỉ mang chức năng trang sức thẩm mỹ bề mặt mà đóng vai trò màng polymer tự nhiên chống ẩm, kháng mối mọt và chống tia cực tím hoàn hảo. Màng sơn ta liên kết chặt chẽ với thớ gỗ lim thông qua lớp hom phù sa, giúp 29 công trình kiến trúc gỗ tồn tại vững chắc trước khí hậu mưa dầm và bão lũ khắc nghiệt của xứ Huế qua hơn hai thế kỷ.
  3. Sự phân tầng kỹ thuật dát vàng lá và dát bạc lá phủ hoàng kim: Khảo sát so sánh giữa các công trình cho thấy sự khác biệt có chủ đích:
    • Tại Điện Thái HòaThế Miếu: Ngai vàng, bửu tán và 10 án thờ hoàng đế sử dụng vàng lá quỳ nguyên chất 100%, không phủ hoàng kim để giữ ánh kim rực rỡ, uy nghiêm tối thượng.
    • Tại Hưng MiếuTử Cấm Thành: Nghệ nhân sử dụng kỹ thuật dát bạc lá, sau đó phủ lớp sơn cánh gián pha phẩm vàng (sơn phủ hoàng kim), tạo nên sắc vàng ánh đỏ trầm ấm, mang tính trang nghiêm và tiết kiệm ngân sách triều đình.
  4. Cơ chế thể chế hóa của hệ thống Tượng cục: Luận án làm rõ chính sách tuyển dụng thợ ngạch (thợ giản, thợ kén, thợ chọn) từ khắp cả nước về kinh đô. Dẫn chứng từ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tập XV, tr. 174) về mức thù lao thời Thiệu Trị năm thứ 2 (1842):

    "...thợ sơn, từ tháng giêng đến tháng 6 mỗi tháng mỗi người 1 quan, gạo 1 phương, từ tháng 7 về sau đến hết năm mỗi người mỗi tháng 5 tiền, gạo 1 phương"; đối với thợ vẽ: "thợ khéo giỏi thì 1 quan 5 tiền, thợ khéo vừa thì 1 quan, thợ kém thì 5 tiền". Điều này chứng minh triều đình xem người thợ sơn và thợ vẽ là lực lượng kiến tạo văn hóa nòng cốt, được đãi ngộ xứng đáng.

  5. Dung hợp nghệ thuật dân gian và cung đình: Tại Điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh), nghệ nhân đã thể hiện trọn vẹn 24 đồ bản minh họa điển tích "Nhị thập tứ hiếu" bằng kỹ thuật sơn khắc độc nhất vô nhị. Tại Phước Thọ Am, tượng dân gian, trang phục hát bội, tượng ngựa thờ và tượng Thánh Mẫu Thiên Y A Na đều được khoác lớp áo sơn truyền thống, phản ánh sự hòa đồng tuyệt vời giữa Nho - Phật - Đạo và tín ngưỡng Mẫu bản địa.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Cung cấp mô hình lý thuyết hoàn chỉnh về "Mỹ học Chất liệu Sơn ta" (Aesthetics of Vietnamese Natural Lacquer), bổ sung mắt xích quan trọng vào lịch sử mỹ thuật học Đông Á.
  • Về mặt phương pháp luận: Thiết lập quy trình mẫu mực về nghiên cứu liên ngành: kết hợp bóc tách sử liệu văn bản Hán Nôm với phân tích hóa - lý và giải mã biểu tượng tạo hình.
  • Về mặt thực tiễn bảo tồn: Cảnh báo nghiêm khắc việc sử dụng sơn hạt điều, sơn PU, sơn công nghiệp ngoại nhập trong trùng tu di tích Huế; cung cấp cơ sở khoa học để Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế phục hồi chính xác công thức sơn truyền thống và quy trình hom bả cổ truyền.
  • Về mặt chính sách di sản: Đề xuất xây dựng quy chuẩn quốc gia về vật liệu và kỹ thuật sơn thếp trong trùng tu di tích kiến trúc gỗ; xây dựng cơ chế phục hồi và hỗ trợ các làng nghề sơn truyền thống như Tiên Nộn (Huế), Phú Thọ, Đình Bảng, Cát Đằng.

Limitations và Future Research

  1. Hạn chế về nguồn tư liệu kỹ thuật chuyên sâu: Do tính chất bí truyền phường thợ (cha truyền con nối), các thư tịch cổ triều Nguyễn chủ yếu ghi chép về định mức vật tư, giá cả mua nộp, mà thiếu vắng các tài liệu ghi chép chi tiết thao tác cơ học như kỹ thuật khuấy đảo sơn, bí quyết pha chế chất làm khô hoặc kỹ thuật khắc nông sâu từng nét đục.
  2. Sự biến đổi của mẫu vật khảo sát: Trải qua chiến tranh tàn phá và nhiều đợt trùng tu thiếu chuẩn xác trong quá khứ (sơn sửa chắp vá bằng vật liệu không đồng nhất), một số mẫu sơn trên cấu kiện gỗ hiện nay không còn giữ nguyên vẹn 100% lớp sơn nguyên gốc thời Nguyễn.
  3. Thiếu vắng phân tích quang phổ hóa - lý chuyên sâu: Luận án chủ yếu tiếp cận từ góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, chưa có điều kiện thực hiện các phân tích hóa nghiệm hiện đại như sắc ký khí - khối phổ nhiệt phân (Py-GC/MS) hay quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) để định lượng chính xác thành phần vi lượng trong các lớp sơn cổ.

Định hướng nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Hướng 1: Ứng dụng công nghệ phân tích quang phổ hóa - lý không phá hủy (Non-destructive scientific testing) để lập bản đồ cấu trúc phân tử các lớp sơn gốc tại Điện Thái Hòa và Thế Miếu.
  • Hướng 2: Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (Comparative Transnational Study) giữa kỹ thuật sơn son thếp vàng của cung đình Huế với kỹ thuật sơn thếp tại Cố Cung Bắc Kinh (Trung Quốc) và Cố đô Kyoto (Nhật Bản).
  • Hướng 3: Số hóa 3D và xây dựng ngân hàng dữ liệu số (Digital Archive) lưu trữ toàn bộ các mẫu thức hoa văn trang trí sơn truyền thống trong di tích cố đô Huế.
  • Hướng 4: Nghiên cứu phát triển các chế phẩm bảo quản bề mặt sơn ta thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu và hiện tượng mưa axit xâm thực di tích.

Tác động và ảnh hưởng

                                  MA TRẬN TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TRÌNH
  • Tác động học thuật: Trở thành công trình chuyên khảo nền tảng về mỹ thuật sơn truyền thống cung đình, được trích dẫn rộng rãi trong các giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Lý luận Lịch sử Mỹ thuật, Di sản học và Mỹ thuật Ứng dụng tại Việt Nam.
  • Tác động bảo tồn thực tiễn: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho các dự án trùng tu quy mô lớn của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tại Ngọ Môn (2013–2016), Điện Thái Hòa (2021–2025) và Thế Miếu, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch di sản do dùng sai vật liệu.
  • Tác động kinh tế - xã hội: Thúc đẩy sự hồi sinh của các vùng trồng cây sơn Phú Thọ và các làng nghề sơn truyền thống Tiên Nộn, Địa Linh; góp phần phát triển du lịch di sản văn hóa bền vững tại Thừa Thiên Huế.
  • Tầm vóc quốc tế: Khẳng định với cộng đồng học thuật quốc tế và UNESCO về tính độc bản, giá trị thẩm mỹ vượt trội và bản sắc khoa học của nghệ thuật sơn mài truyền thống Việt Nam trong dòng chảy mỹ thuật nhân loại.

Đối tượng hưởng lợi

  1. Nghiên cứu sinh, Học viên Cao học ngành Mỹ thuật và Văn hóa học: Tiếp cận khung lý thuyết liên ngành vững chắc, phương pháp trích xuất sử liệu Hán Nôm và bộ cơ sở dữ liệu định lượng về mỹ thuật hoàng gia.
  2. Giảng viên, Nhà nghiên cứu Lịch sử Nghệ thuật: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu về nghệ thuật tạo hình thời Nguyễn, kỹ thuật sơn mài cổ truyền và văn hóa thị giác cung đình.
  3. Chuyên gia Bảo tồn, Kiến trúc sư Tu bổ Di tích: Nắm vững cẩm nang kỹ thuật, phân biệt chính xác quy trình bó, hom, mài, thếp vàng và phủ hoàng kim để xây dựng hồ sơ thiết kế kỹ thuật trùng tu chuẩn xác.
  4. Cơ quan Quản lý Văn hóa và Nhà hoạch định Chính sách (Bộ VHTTDL, Cục Di sản Văn hóa): Có luận cứ thực chứng để ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về vật liệu trùng tu di tích gỗ truyền thống.
  5. Nghệ nhân và Làng nghề Thủ công Truyền thống: Khôi phục niềm tự hào nghề nghiệp, tiếp nhận các tri thức cổ truyền được hệ thống hóa để phục vụ chế tác đồ thủ công mỹ nghệ cao cấp.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp độc đáo nhất là luận án đã mở rộng Thuyết Vật chất tính trong Nghệ thuật (Material Culture Theory) thông qua khái niệm "Khối thống nhất sơn". Luận án chứng minh rằng chất liệu sơn ta (Rhus succedanea L.) không dừng lại ở vai trò kỹ thuật bề mặt mà là một cấu trúc mỹ học - tâm linh hoàn chỉnh, gắn kết hữu cơ với kết cấu kiến trúc "Trùng lương trùng thiềm" và phương thức biểu đạt "Nhất thi nhất họa", phản ánh trật tự vương quyền và bản sắc vũ trụ quan thời Nguyễn.

2. Tính đổi mới về phương pháp luận của luận án khi so sánh với các nghiên cứu trước đây?

So với các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận đơn tuyến (hoặc thuần túy khảo cứu lịch sử như các bài viết trên tập san BAVH, hoặc thuần túy mô tả kinh nghiệm mỹ nghệ như Phạm Đức Cường), luận án của Đỗ Xuân Phú đã tạo bước đột phá phương pháp luận bằng cách thiết lập ma trận Tam giác đạc Liên ngành (Interdisciplinary Triangulation): giải mã trực tiếp định mức chế tác từ chính sử Hán Nôm (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ) ➔ đối chiếu định lượng trên 52 công trình thực địa ➔ kiểm chứng thực nghiệm qua quy trình thao tác của nghệ nhân làng Tiên Nộn.

3. Phát hiện gây bất ngờ và có giá trị thực chứng cao nhất từ dữ liệu nghiên cứu là gì?

Phát hiện bất ngờ nhất là việc giải mã kỹ thuật "Sơn phủ hoàng kim" trên nền bạc lá tại Hưng Miếu và Tử Cấm Thành. Dữ liệu chứng minh rằng nhiều cấu kiện sơn thếp rực rỡ sắc vàng trong cung đình không phải được dát vàng lá nguyên chất mà là kỹ thuật dát bạc lá rồi phủ lớp sơn chín pha phẩm vàng. Giải pháp công nghệ này vừa tạo ra sắc vàng ánh đỏ ấm áp đặc trưng, vừa thể hiện sự tính toán kinh tế chặt chẽ và năng lực làm chủ kỹ thuật điêu luyện của các tượng cục triều Nguyễn.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản/ứng dụng thực nghiệm chuẩn hóa (Replication Protocol) không?

Có. Luận án đã chuẩn hóa một Replication Protocol gồm 8 giai đoạn nghiêm ngặt: từ chọn và xử lý cốt mộc ➔ phất vải màn ➔ bó sơn (sơn sống + đất phù sa + mạt cưa) ➔ hom sơn (sơn sống + phù sa tinh) ➔ lót sơn ➔ mài phẳng trong nước ➔ thí son / sơn then ➔ thếp vàng/bạc lá và phủ hoàng kim. Từng bước đều có thông số định mức vật liệu cụ thể dựa trên quy chuẩn triều Minh Mạng năm 1832.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới (10-Year Research Agenda) được phác thảo như thế nào?

Chương trình nghị sự 10 năm tập trung vào 03 trụ cột:

  1. Nghiên cứu Vật liệu học Phân tử: Ứng dụng phân tích quang phổ hồng ngoại (FTIR) và sắc ký (Py-GC/MS) xác định tuổi tuyệt đối và thành phần vi lượng màng sơn cổ.
  2. Bảo tồn Thích ứng: Nghiên cứu công nghệ nano sinh học gia cường cho mủ sơn ta chống lại hiện tượng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường tại miền Trung.
  3. Bảo tàng học Kỹ thuật số: Tái hiện không gian ảo 3D/VR toàn bộ các công trình sơn thếp cung đình Huế phục vụ giáo dục di sản và quảng bá quốc tế.

Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và xác lập cơ sở khoa học toàn diện cho chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí Quần thể Di tích Cố đô Huế từ cội nguồn lịch sử thế kỷ XIX đến nay.
  2. Giải mã và chuẩn hóa thành công các công thức pha chế sơn son, sơn then, sơn quang và sơn phủ hoàng kim từ văn bản pháp quy kinh điển Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.
  3. Thống kê, định lượng và phân tích giá trị tạo hình của hơn 29 công trình kiến trúc và hàng trăm hiện vật đồ tế tự sơn thếp tiêu biểu (Thế Miếu, Hưng Miếu, Điện Thái Hòa, Hiển Lâm Các, Phước Thọ Am).
  4. Khẳng định vai trò thể chế hóa của triều đình qua hệ thống Tượng cục, kết hợp tinh hoa thợ giỏi dân gian để kiến tạo nên phong cách mỹ thuật cung đình độc đáo.
  5. Tạo bước ngoặt chuyển dịch nhận thức từ xem sơn truyền thống là nghề thủ công sang nhìn nhận như một đỉnh cao di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc.
  6. Mở ra 03 dòng nghiên cứu học thuật mới: Hóa - lý vật liệu di sản cổ truyền, Ký hiệu học không gian kiến trúc hoàng gia, và Công nghệ phục chế di sản gỗ thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.