Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ngọc Điệp thực hiện tại Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Minh, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật (mã số: 9210101), bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo thống kê trong văn bản, tỉnh Bình Dương có 125 ngôi đình làng, trong đó có ba ngôi đình được xếp hạng Di tích đình làng kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, mười ngôi đình là Di tích đình làng lịch sử - văn hóa cấp Tỉnh và một ngôi đình là Di tích đình làng lịch sử cách mạng cấp Tỉnh. Các dạng thức tín ngưỡng và mô hình làng xã của người Việt tại Bình Dương có nguồn gốc kế thừa từ mô hình làng xã vùng Trung Bộ và Bắc Bộ do các dòng dân di cư mang vào vùng đất mới từ thế kỷ XVII. Dù quy mô các ngôi đình có sự khác biệt, các yếu tố tạo hình và phương thức trang trí lại thể hiện tính tương đồng cao, hình thành nên phong cách tạo hình mang dấu ấn địa phương.

Trước đây, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa học và dân tộc học đã tiếp cận đình làng Bình Dương chủ yếu ở góc độ thiết chế văn hóa, tín ngưỡng dân gian và giá trị lịch sử qua các bài khảo cứu, sách chuyên khảo hoặc đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, cấp tỉnh. Do đó, tồn tại một khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu dưới góc nhìn Mỹ thuật học nhằm nhận diện, phân tích các yếu tố tạo hình (đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục, không gian), quy luật biểu hiện của ngôn ngữ biểu tượng, điêu khắc, hội họa cũng như tác động của địa văn hóa và văn hóa vùng đến sự hình thành nghệ thuật trang trí đình làng nơi đây.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu những biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tại Bình Dương, làm sáng tỏ đặc trưng nghệ thuật trang trí truyền thống địa phương và nâng cao giá trị nghệ thuật trang trí đình làng tại địa bàn nghiên cứu.

Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:

  1. Xác định cơ sở lý luận về nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương.
  2. Nhận diện các biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương.
  3. Xác định đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương.
  4. Cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ bảo tồn nguyên gốc các yếu tố tạo hình và đề xuất các giải pháp phát huy giá trị nghệ thuật trang trí đình làng ứng dụng vào kiến trúc hiện đại, thiết kế đồ họa vector và phát triển du lịch văn hóa theo định hướng phát triển kinh tế giai đoạn 2020 - 2025 của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ XVI.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu 1: Văn hóa, lịch sử của vùng đất Bình Dương tác động như thế nào đến quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương?
  • Câu 2: Những biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương được thể hiện như thế nào thông qua ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ điêu khắc và ngôn ngữ hội họa?
  • Câu 3: Nhận diện đặc trưng của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương là gì? Vai trò của chúng như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đình làng trong giai đoạn hội nhập hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết 1: Đặc trưng văn hóa vùng đất Bình Dương có sự kế thừa, tiếp biến văn hóa Bắc Bộ và giao thoa với văn hóa dân tộc Hoa góp phần hình thành đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương.
  • Giả thuyết 2: Đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương được biểu hiện rõ nét thông qua biểu tượng, hình thức và ngôn ngữ tạo hình (điêu khắc và hội họa), mang tính dân gian với bố cục đối xứng, màu sắc tươi sáng nhưng trầm ấm, giảm thiểu biểu tượng Tứ linh và gia tăng biểu tượng hoa quả, chim muông bản địa.
  • Giả thuyết 3: Đặc trưng nổi bật của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương mang giá trị truyền thống Việt, chứa đựng nghệ thuật địa phương tinh tế thông qua việc phá vỡ bố cục cặp đôi cổ điển để hướng tới hình tượng đời thường, đóng vai trò nền tảng cho việc bảo tồn nguyên gốc và ứng dụng thực tiễn đương đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những nét đặc trưng nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ điêu khắc, ngôn ngữ hội họa với các yếu tố tạo hình (đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục, không gian) trên các nguyên tắc trang trí cổ điển.
  • Khách thể nghiên cứu: Các đồ thờ, đồ án trang trí, hoành phi liễn đối, phù điêu chạm nổi, bức bình phong tại đình làng.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát cụ thể tại 11 ngôi đình làng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Bình Dương, gồm: đình Phú Long, đình Tân An, đình Dĩ An, đình Vĩnh Phước, đình Bình Nhâm, đình Nhựt Thạnh, đình Tân Hội, đình Dinh ông Ngãi Thắng, đình An Sơn, đình Dầu Tiếng, và đình Phú Cường (Bà Lụa).
  • Phạm vi thời gian: Tiến trình từ khi khai phá, thành lập thôn xã ở vùng đất Bình Dương từ cuối thế kỷ XVII cho đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Hệ thống tài liệu liên quan đến đề tài từ năm 1973 đến nay được tác giả phân chia thành các nhóm nghiên cứu chính:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Các hướng nghiên cứu trước đây

Nhóm nghiên cứu mỹ thuật truyền thống và chạm khắc cổ:

  • Tác giả Trần Lâm Biền với hàng loạt công trình như Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt (Vùng châu thổ sông Hồng) (2017), Đồ thờ trong di tích đình làng của người Việt, Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa, Đình làng Việt (châu thổ Bắc Bộ), Đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ. Các công trình phân tích lịch sử đình làng từ thời Trần, thời Mạc thế kỷ XVI, đặc điểm kiến trúc gỗ mái cong, kỹ thuật chạm lộng, chạm bong kênh, biểu tượng Tứ linh, Tứ thời, Bát bửu và không gian đồng hiện ở Bắc Bộ.
  • Tác giả Hoàng Đạo Cương với bộ sách ba tập Kiến trúc đình làng Việt qua tư liệu bảo tồn di tích đình làng, khảo sát 39 ngôi đình cổ Bắc Bộ, cung cấp tư liệu đối chiếu về kỹ thuật chạm khắc và màu gỗ tự nhiên.
  • Tác giả Ưng Tiếu với công trình Hoa văn cung đình Huế, giải mã các biểu tượng thời Nguyễn (Tứ linh, Tứ thời, Tứ hựu, biểu tượng Phát sáng) và văn tự Hán Nôm trên các cấu kiện, làm cơ sở so sánh với các đình Tân An, Dĩ An, Nhựt Thạnh.
  • Nhà nghiên cứu Huỳnh Lứa trong Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, phân tích nghệ thuật chạm khắc gỗ Nam Bộ với các thể loại tượng tròn, chạm lộng (phong cách tế kiểu và phong cách mảng khối), chạm nổi và việc tiếp nhận luật phối cảnh phương Tây đầu thế kỷ XX, chỉ ra xu hướng phá vỡ biểu tượng cặp đôi cổ điển.
  • Viện Nghệ thuật với công trình Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (giai đoạn thế kỷ XVII) và Viện Mỹ thuật với Bản rập họa tiết cổ Việt Nam, ghi nhận tính chất ước lệ hóa và sự chuyển dịch đưa hình ảnh người lao động, chim muông vào nghệ thuật dân gian.
  • Các nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Cung (1975) về Điêu khắc dân gian Việt Nam thế kỷ XVI - XVII - XVIII, Nguyễn Quân về Điêu khắc cổ điển Việt Nam, Chu Quang Trứ và Vũ Tam Lang với Kiến trúc cổ Việt Nam.

Nhóm lý luận nghệ thuật học, mỹ học và triết học:

  • M. Cagan với Hình thái học của nghệ thuật (Phan Ngọc dịch), luận giải sự phân chia nghệ thuật "cao" và "thấp" mang tính ước lệ lịch sử; Đỗ Văn Khang với Nghệ thuật học và các luận điểm mỹ học Mác - Lênin về quy luật hài hòa, tính ước lệ; Hêghen với Mỹ học tập 1, 2 bàn về bản chất cái đẹp, lý tưởng cổ điển trong điêu khắc và hư cấu hội họa; Diderot với tác phẩm Mỹ học; các nhận định của Mịch Quang và Nguyễn Đức Nùng về phương pháp tạo hình nghệ thuật dân gian dân tộc.

Nhóm lịch sử, văn hóa đình làng Nam Bộ và Bình Dương:

  • Ngô Đức Thịnh trong Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, làm rõ đặc trưng làng mạc dọc sông rạch, không gian văn hóa mở; Huỳnh Quốc Thắng với Lễ hội dân gian ở Nam Bộ, phân tích sự cộng cư giữa người Việt, Hoa, Khmer, Chăm; Sơn Nam với chuỗi tác phẩm Đình Miếu và Lễ hội dân gian miền Nam, Lịch sử khẩn hoang Miền Nam; Hà Văn Tấn với Đình Việt Nam (khái quát kiến trúc nhà vuông tứ trụ, nhà Võ ca); Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường với các khảo cứu về tín ngưỡng đình làng Nam Bộ; Huỳnh Ngọc Trảng với chuyên khảo Gốm Lái Thiêu; Hồ Văn Tường với Đình ở Thành phố Hồ Chí Minh; Huỳnh Ngọc Đáng với công trình Tìm hiểu liễn đối Hán - Nôm trong các Đình, Chùa, Miếu (khảo sát 37 ngôi đình tại Bình Dương); Nguyễn Hiếu Học với Làng nghề Bình Dương, Dấu xưa đất Thủ, Những ngôi đình làng tiêu biểu ở Bình Dương; Trương Phi Đức trong Địa chí Bình Dương tập 04; Nguyễn Văn Quốc với kỷ yếu hội thảo Đình Thần Bình Dương - giá trị lịch sử và văn hóa (2018).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù hệ thống tài liệu về đình làng Nam Bộ và đình làng Bình Dương khá đa dạng, đa phần các công trình tập trung vào góc độ lịch sử khai hoang, thiết chế hành chính, tín ngưỡng thờ Thần Thành Hoàng hoặc khảo sát kiến trúc ở mức độ mô tả sơ lược. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên biệt dưới góc độ Mỹ thuật học về hệ thống đồ án trang trí, kỹ thuật chạm lộng mảng khối, ngôn ngữ hội họa và các biểu hiện tạo hình mang tính tiếp biến văn hóa Việt - Hoa ở 11 ngôi đình tiêu biểu tại Bình Dương. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc phân tích hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ tạo hình và xác định đặc trưng bản địa làm cơ sở cho bảo tồn và ứng dụng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án xác lập khung lý thuyết dựa trên sự tích hợp các quan điểm mỹ học, nghệ thuật học, văn hóa học và ký hiệu học:

  • Lý thuyết hình thái học nghệ thuật của M. Cagan: Tiếp cận nghệ thuật trang trí như một hình thái nghệ thuật gắn liền với đời sống thực tiễn và thủ công truyền thống, trong đó ranh giới phân định đẳng cấp nghệ thuật chỉ mang tính lịch sử và ước lệ.
  • Lý thuyết mỹ học Hêghen và mỹ học Mác - Lênin: Phân tích nghệ thuật trang trí đình làng dựa trên quy luật hài hòa, mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức, đặc tính ước lệ hóa và phương pháp sáng tác huyền thoại - dân gian nhằm điển hình hóa các hiện tượng đời sống.
  • Lý thuyết vùng văn hóa của Ngô Đức Thịnh và tiếp biến văn hóa của Huỳnh Quốc Thắng: Nhận diện văn hóa Bình Dương trong tính chất mở của vùng đất Nam Bộ, phản ánh điều kiện cư trú dọc kênh rạch, trục lộ và quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa giữa người Việt với người Hoa, người Chăm, người Khmer.
  • Lý thuyết ký hiệu học biểu tượng: Phân loại và giải mã hệ thống biểu tượng truyền thống (theo nghiên cứu của Trần Lâm Biền, Ưng Tiếu, Đinh Hồng Hải, Triệu Thế Hùng) gồm biểu tượng ánh sáng/phát sáng (Mặt Trời, sóng nước, vân xoắn), linh vật (Tứ linh, Hổ phù), biểu tượng thực vật thảo mộc (Tứ thời, hoa sen, lá đề, hoa dây), biểu tượng hoa quả (bầu, bí, đào, lựu, na, nho), văn tự Hán Nôm và biểu tượng Tam Đa.
  • Hệ thống khái niệm chuyên ngành: Luận án định nghĩa và khu biệt rõ các thuật ngữ: Nghệ thuật, Trang trí, Nghệ thuật trang trí, Thẩm mỹ, Mỹ thuật, Hội họa, Ngôn ngữ, Tạo hình, Chạm khắc, Chạm nổi (phù điêu).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, hoàn toàn không sử dụng các mô hình đo lường thống kê định lượng hay kiểm định giả thuyết dạng p-value:

  • Phương pháp nghiên cứu Mỹ thuật: Phương pháp nòng cốt nhằm phân tích các nguyên lý, thủ pháp tạo hình (đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục đối xứng, phối cảnh) trên từng hiện vật và cấu kiện kiến trúc.
  • Hướng tiếp cận liên ngành: Kết hợp Mỹ thuật học với Sử học, Văn hóa học, Dân tộc học nghệ thuật, Xã hội học văn hóa nghệ thuật, Ký hiệu học văn hóa, Triết học và Mỹ học.
  • Phương pháp điền dã: Quan sát trực tiếp, đo đạc, ghi chép thực địa, chụp ảnh tư liệu tại 11 di tích đình làng khảo sát.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh đồng đại và lịch đại giữa nghệ thuật trang trí đình làng Bình Dương với đình làng vùng đồng bằng Bắc Bộ và các tỉnh khác ở Nam Bộ dựa trên các tiêu chí: chất liệu, đề tài, hình thức thể hiện và ngôn ngữ tạo hình.
  • Phương pháp phân loại, thống kê mô tả: Lập danh mục, bảng phân loại hệ thống biểu tượng, cấu kiện trang trí, hoành phi, liễn đối và sắc phong phục vụ việc so sánh đối chiếu.
  • Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Phỏng vấn sâu các thành viên trong Ban quý tế tại các đình làng, các chuyên gia nghiên cứu văn hóa đình làng và nghệ nhân điêu khắc gỗ dân gian.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa các nguồn tư liệu thành văn để xây dựng luận cứ khoa học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm:

  1. Dữ liệu khảo sát điền dã thực tế tại 11 ngôi đình tiêu biểu ở Bình Dương (chụp ảnh, ghi chép hiện vật đồ thờ, nhang án, bao lam, hoành phi, liễn đối, bình phong, tượng gốm nóc mái).
  2. Hệ thống văn tự Hán Nôm trên sắc phong (đặc biệt là 39 đạo sắc thần thời Nguyễn, tập trung vào năm Tự Đức ngũ niên 1852), hoành phi, câu đối tại các di tích.
  3. Hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và kiến trúc nghệ thuật của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương.
  4. Bản vẽ đồ án vector hóa các mẫu hoa văn cổ thu thập tại thực địa (trình bày trong Phụ lục 6).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 (dày 39 trang) xác lập hệ thống cơ sở lý luận, phương pháp luận và bối cảnh lịch sử - thực tiễn của đề tài:

  • Hệ thống hóa các nghiên cứu về mỹ thuật cổ, điêu khắc đình làng và văn hóa Nam Bộ từ năm 1973 đến năm 2022.
  • Làm rõ bối cảnh lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam Bộ qua các giai đoạn chính: 1620 - 1698 (giai đoạn tạo lập ban đầu); 1698 - 1776 (chúa Nguyễn lập dinh Phiên Trấn, Trấn Biên); giai đoạn Tây Sơn và chúa Nguyễn tranh chấp; giai đoạn triều Nguyễn độc lập (1802 - 1858, thời kỳ kiến trúc đình phát triển mạnh gắn với sắc phong Thành Hoàng); giai đoạn Pháp thuộc (1858 - 1954); giai đoạn 1954 - 1975 và giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay.
  • Khái quát biến chuyển địa giới hành chính của Bình Dương qua các thời kỳ (từ tổng Bình An, huyện Bình An, hạt Thủ Dầu Một, tỉnh Thủ Dầu Một, tỉnh Sông Bé đến tỉnh Bình Dương tái lập năm 1997).
  • Phân tích cơ cấu thiết chế tín ngưỡng đình làng Nam Bộ gồm ba nhóm đối tượng thờ cúng: Nhóm 1 - Thần linh chính thống (Thành Hoàng Bổn Cảnh); Nhóm 2 - Tiền hiền, Hậu hiền và các bậc tiền bối hữu công; Nhóm 3 - Tín ngưỡng dân gian phối thờ (Thần Nông, Thổ Địa, Thần Hổ, Bạch Mã thái giám...).
  • Khảo sát đặc điểm kiến trúc đình làng Nam Bộ: Cấu trúc không gian mở dạng nhà vuông có bốn cột cái (tứ trụ hay tứ trượng), mở rộng bốn phía bằng bộ kèo đấm và kèo quyết; mặt bằng tổng thể dạng chữ Nhất, chữ Nhì, chữ Tam, chữ Đinh, chữ Công hoặc chữ Khẩu; có sự hiện diện của nhà Võ ca phục vụ hát bội cúng Thần trong dịp lễ hội Kỳ Yên.
Tiêu chí Đình làng Bắc Bộ Đình làng Nam Bộ / Bình Dương
Mặt bằng kiến trúc Thường dạng chữ Nhất, chữ Đinh, chữ Công; không gian khép kín Quần thể nhiều nhà vuông ghép nối (dạng stupa), không gian mở, có nhà Võ ca
Bộ khung chịu lực Cột quân, cột cái liên kết vì kèo truyền thống Cấu trúc tứ trụ (bốn cột cái trung tâm), vươn rộng bằng kèo đấm, kèo quyết
Đối tượng trang trí Chạm khắc dày đặc trên vì kèo, cốn, bẩy, xà Tập trung ở nội thất (bao lam, khám thờ, nhang án) và nóc mái
Đề tài biểu tượng Đậm nét Tứ linh, cảnh sinh hoạt dân gian (đấu vật, múa, trai gái đùa vui) Giảm Tứ linh, không có cảnh sinh hoạt phồn thực; tăng hoa quả, chim muông

Chương 2: Những biểu hiện nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương

Chương 2 (dày 56 trang) đi sâu vào phân tích thực chứng các tác phẩm nghệ thuật tại 11 ngôi đình khảo sát theo ba ngôn ngữ tạo hình:

2.1. Ngôn ngữ biểu tượng

  • Biểu tượng Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) vẫn giữ vị trí trang nghiêm tại các vị trí thờ tự cốt lõi nhưng mật độ xuất hiện giảm bớt so với đình Bắc Bộ.
  • Gia tăng các biểu tượng thảo mộc, hoa quả và chim muông gắn liền với đời sống nông nghiệp Nam Bộ: Quả Bầu, Quả Lựu, Quả Na, Trái Đào, Chùm Nho, Hoa Mai, Hoa Cúc, Hoa Hồng, cùng hình ảnh Sóc, Chuột, Vịt, Bướm. Các biểu tượng này phản ánh ước vọng về sự sinh sôi, sung túc và hồi sinh của cư dân khai hoang.
  • Biểu tượng văn tự Hán Nôm xuất hiện phổ biến trên hoành phi, liễn đối, chấn phong, bao lam mang ý nghĩa giáo dục luân lý và ca ngợi công đức tiền nhân.
  • Biểu tượng Tam Tinh (Phúc - Lộc - Thọ) được biểu hiện rõ nét trên các bức phù điêu cảnh trí.

2.2. Ngôn ngữ điêu khắc

  • Nghệ thuật chạm khắc gỗ thể hiện rõ nét ở các cấu kiện bao lam, khám thờ, rìa nhang án.
  • Về kỹ thuật chạm lộng: Tác giả chỉ ra sự chiếm ưu thế của phong cách mảng khối (nét chạm vạm vỡ, khỏe khoắn, dứt khoát, phô bày chi tiết trên mặt phẳng với các khoảng trống thoáng đãng), bên cạnh phong cách tế kiểu (chạm tỉ mỉ, nhiều lớp đan xen thanh mảnh như que tăm).
  • Sự phát triển của nghệ thuật chạm nổi và đắp nổi phù điêu: Đầu thế kỷ XX xuất hiện kỹ thuật đắp nổi bằng chất liệu bê tông, vữa xi măng sơn màu tại bình phong, vách tiền đình với các đề tài sơn thủy, nhân vật điển tích chịu ảnh hưởng từ luật phối cảnh của mỹ thuật phương Tây.

2.3. Ngôn ngữ hội họa

  • Màu sắc trang trí trong nội thất đình làng tại Bình Dương chuộng sắc độ tươi sáng nhưng vẫn trầm ấm, chủ đạo là nghệ thuật sơn son thếp vàng kết hợp thếp bạc trên nền gỗ sẫm màu.
  • Tranh vẽ màu trên tường, tranh kiếng (tranh kính) và đồ án vẽ màu trên nhang án diễn tả các điển tích lịch sử, phong cảnh làng quê.
  • Không gian tạo hình kết hợp giữa ước lệ, đồng hiện truyền thống với việc vận dụng luật xa gần ở các công trình phụ và nhang án.

Chương 3: Nhận định đặc trưng và định hướng bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương

Chương 3 (dày 43 trang) tổng kết các nhận định khoa học mang tính so sánh và định hướng ứng dụng:

3.1. Sự tương đồng và khác biệt trong liên hệ so sánh

  • Tương đồng: Kế thừa hệ thống biểu tượng thiêng truyền thống Việt (Tứ linh, Tứ thời, văn tự Hán Nôm); sử dụng thủ pháp ước lệ hóa và tính chất dân gian trong tạo hình; tuân thủ nguyên lý cân bằng đối xứng ở các cấu kiện thờ tự.
  • Khác biệt: Đình Bình Dương không xuất hiện các mảng chạm khắc cảnh sinh hoạt đời thường thế tục (như tắm đầm, đánh cờ, trai gái đùa ghẹo nhau, vũ nữ thiên thần) vốn rất thịnh hành ở đình làng Bắc Bộ thế kỷ XVII - XVIII; không gian trang trí thoáng đãng hơn; tiếp biến nghệ thuật gốm Lái Thiêu (với sắc men ngọc đặc trưng) thông qua các tổ hợp tượng gốm trang trí trên nóc mái (quần thể tượng Lưỡng long tranh châu, Bát Tiên, Cá hóa long) chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật của người Hoa tại địa phương (tiêu biểu tại đình Phú Long, đình Bình Nhâm, đình Bà Lụa).

3.2. Đặc trưng nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương

  • Xu hướng phá vỡ quy chuẩn bố cục cặp đôi cổ điển nghiêm ngặt để đưa vào tác phẩm các hình ảnh thảo mộc, muông thú dân dã, tạo nên bố cục cân đối tự nhiên.
  • Phong cách chạm khắc mang tính mảng khối, đường nét dứt khoát, mộc mạc nhưng khúc chiết.
  • Bảng màu dung hòa giữa ánh kim lộng lẫy của kỹ thuật thếp vàng và gam màu trầm ấm của chất liệu tự nhiên, tạo thị cảm tôn nghiêm nhưng ấm cúng.

3.3. Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị

  • Đề xuất nguyên tắc bảo tồn nguyên gốc các yếu tố tạo hình, hoa văn chạm khắc gỗ cổ; ngăn ngừa các biến dạng trong quá trình tu bổ di tích.
  • Ứng dụng hoa văn truyền thống: Khai thác bộ 134 trang phụ lục đồ án vector hoa văn cổ của luận án để phục vụ giảng dạy chuyên ngành Mỹ thuật (môn Hoa văn vốn cổ, Đồ họa vector), ứng dụng vào thiết kế đồ họa, nội thất công trình kiến trúc hiện đại.
  • Kết hợp bảo tồn di tích đình làng với phát triển du lịch trải nghiệm di sản văn hóa, liên kết các làng nghề thủ công (gốm sứ Lái Thiêu, sơn mài Tương Bình Hiệp) nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận hệ thống đình làng tại Bình Dương một cách toàn diện và chuyên sâu dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật.
  • Xác định và luận giải rõ nét quy luật kế thừa mỹ thuật truyền thống Bắc Bộ kết hợp với tiếp biến văn hóa bản địa Nam Bộ và giao lưu với văn hóa người Hoa trong nghệ thuật tạo hình trang trí đình làng.
  • Phân tích và làm rõ hai phong cách chạm lộng (mảng khối và tế kiểu), chứng minh sự tồn tại của xu hướng phá vỡ cấu trúc biểu tượng cặp đôi truyền thống để tích hợp đề tài hoa trái, muông thú địa phương vào nghệ thuật điêu khắc gỗ đình làng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xây dựng hệ thống tư liệu khoa học chi tiết gồm danh mục 125 ngôi đình làng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, 39 sắc thần và hệ thống hình ảnh khảo cứu tại 11 ngôi đình tiêu biểu.
  • Cung cấp tập đồ án số hóa vector các mô típ hoa văn tiêu biểu (bao lam, diềm mái, nhang án, hoành phi liễn đối) tại Phụ lục 6, làm nguồn học liệu trực tiếp cho đào tạo mỹ thuật ứng dụng và thiết kế công nghiệp.
  • Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý, trùng tu, bảo tồn di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương, tránh tình trạng làm sai lệch nguyên gốc mỹ thuật cổ.
  • Đề xuất mô hình gắn kết di sản kiến trúc đình làng với du lịch văn hóa trải nghiệm làng nghề tại Bình Dương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Do giới hạn về thời gian và dung lượng của một luận án tiến sĩ, tác giả chỉ tập trung khảo sát điền dã chuyên sâu tại 11 ngôi đình tiêu biểu trên tổng số 125 ngôi đình hiện diện tại Bình Dương.
  • Phạm vi tư liệu mỹ thuật tập trung vào các hiện vật còn tồn tại từ cuối thế kỷ XVII đến nay; nhiều cấu kiện gỗ nguyên gốc đã bị thay đổi qua các lần trùng tu bằng vật liệu bê tông trong thế kỷ XX, gây khó khăn nhất định cho việc truy nguyên toàn vẹn phong cách thời kỳ khởi lập.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng diện khảo sát điền dã và số hóa đồ án trang trí mỹ thuật ở toàn bộ 114 ngôi đình còn lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  • Nghiên cứu so sánh đối chiếu sâu hơn về kỹ thuật sản xuất và phong cách thẩm mỹ của tổ hợp tượng gốm trang trí nóc mái đình làng Bình Dương với sản phẩm của các lò gốm Lái Thiêu, Cây Mai (Sài Gòn) và Biên Hòa (Đồng Nai).
  • Khảo cứu sự biến đổi của văn tự Hán Nôm và nghệ thuật sơn mài trong trang trí hoành phi, liễn đối tại các thiết chế tín ngưỡng Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu mỹ thuật: Cung cấp nguồn tư liệu chuyên khảo chuẩn xác về lịch sử mỹ thuật truyền thống Nam Bộ nói chung và mỹ thuật Bình Dương nói riêng; ứng dụng trực tiếp tập bản vẽ vector hoa văn cổ vào giảng dạy các học phần Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Hoa văn vốn cổ và Thiết kế đồ họa.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và bảo tồn di tích: Là tài liệu tham chiếu khoa học giúp các cơ quan quản lý (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng tỉnh Bình Dương) thẩm định tính nguyên gốc trong các dự án tu bổ, tôn tạo di tích đình làng, hạn chế việc đưa các yếu tố tạo hình xa lạ vào di tích.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử địa phương: Cung cấp các dữ liệu về văn tự Hán Nôm, sắc phong triều Nguyễn và sự phân bố làng xã cổ tại Bình Dương.
  • Lĩnh vực thiết kế ứng dụng và du lịch: Cung cấp tư liệu cho các kiến trúc sư, họa sĩ thiết kế nội thất muốn khai thác bản sắc bản địa vào công trình đương đại, đồng thời gợi mở lộ trình xây dựng tour du lịch di sản văn hóa kết nối các ngôi đình cổ với các làng nghề truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chuyên sâu tại những ngôi đình cụ thể nào ở Bình Dương?

Tác giả tiến hành khảo sát thực địa chuyên sâu tại 11 ngôi đình tiêu biểu đại diện cho các địa bàn của tỉnh Bình Dương, bao gồm:

  1. Đình Phú Long
  2. Đình Tân An
  3. Đình Dĩ An
  4. Đình Vĩnh Phước
  5. Đình Bình Nhâm
  6. Đình Nhựt Thạnh
  7. Đình Tân Hội
  8. Đình Dinh ông Ngãi Thắng
  9. Đình An Sơn
  10. Đình Dầu Tiếng
  11. Đình Phú Cường (còn gọi là đình Bà Lụa)

2. Hiện trạng số lượng đình làng và sắc phong tại Bình Dương được thống kê ra sao?

Theo số liệu thống kê trong luận án, Bình Dương hiện có 125 ngôi đình làng phân bố ở các huyện thị, lưu giữ 39 đạo sắc phong của triều Nguyễn (nhiều nhất là các sắc thần ban tặng vào năm Tự Đức ngũ niên - 1852). Về xếp hạng di tích, tỉnh có ba ngôi đình là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, mười ngôi đình là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Tỉnh và một ngôi đình là Di tích lịch sử cách mạng cấp Tỉnh.

3. Nghệ thuật chạm lộng gỗ tại đình làng Bình Dương có đặc điểm kỹ thuật gì nổi bật?

Nghệ thuật chạm lộng gỗ tại đình làng Bình Dương tồn tại hai phong cách: phong cách tế kiểu và phong cách mảng khối. Trong đó, phong cách mảng khối thể hiện nét đặc trưng rõ rệt của địa phương với các nét chạm vạm vỡ, dứt khoát, chắc khỏe, thường chỉ chạm một hoặc rất ít lớp, các chi tiết được phô diễn trên mặt phẳng với nét đục tự do, phóng khoáng, bố cục tạo nhiều khoảng trống thoáng đãng thay vì xếp chồng lớp dày đặc như chạm khắc cổ miền Bắc.

4. Vì sao các đồ án trang trí tại đình làng Bình Dương lại giảm bớt Tứ linh và tăng cường hoa quả, chim muông?

Do chịu sự tác động sâu sắc của điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái Nam Bộ và tâm thức của người dân khai hoang vùng đất mới, nghệ nhân dân gian đã phá vỡ thế độc tôn của biểu tượng cặp đôi cổ điển và giảm bớt tính trang nghiêm của Tứ linh. Thay vào đó, họ đưa vào các hình tượng hoa quả, muông thú đời thường gần gũi như Lựu, Na, Đào, Nho, Bầu, Bí, Sóc, Chuột, Vịt, Cây Trúc, Hoa Hồng nhằm biểu đạt ước vọng thực tế về sự phồn thực, sung túc, ấm no và tinh thần lạc quan, phóng khoáng của con người vùng đất mới.

5. Dấu ấn giao lưu văn hóa với người Hoa trong trang trí đình làng Bình Dương được thể hiện ở đâu?

Dấu ấn này thể hiện rõ nét nhất ở các tổ hợp tượng gốm men nhiều màu (đặc biệt là men ngọc Lái Thiêu) gắn trên nóc mái chánh điện tại các ngôi đình như đình Phú Long, đình Bình Nhâm, đình Bà Lụa (đình Phú Cường). Các đề tài thể hiện bao gồm Lưỡng long tranh châu, Bát Tiên, Cá hóa long và các nhân vật trong tích truyện cổ Trung Hoa, phản ánh rõ quá trình cộng cư lâu đời và đóng góp nghề nghiệp của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại các trung tâm gốm sứ truyền thống ven sông Sài Gòn.


Kết luận

Luận án "Nghệ thuật trang trí ở một số đình làng tiêu biểu tại Bình Dương" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ngọc Điệp là công trình khoa học khảo cứu hệ thống và toàn diện các giá trị tạo hình của di sản đình làng địa phương dưới góc nhìn chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật. Tác phẩm đã phân tích rõ nét cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử, sự tiếp biến văn hóa vùng miền và các đặc trưng ngôn ngữ biểu tượng, điêu khắc, hội họa thể hiện trên 11 di tích tiêu biểu. Bên cạnh việc làm rõ phong cách chạm lộng mảng khối và xu hướng dân dã hóa biểu tượng tạo hình, luận án còn cung cấp hệ thống dữ liệu số hóa vector hoa văn có giá trị thực tiễn cao cho công tác bảo tồn di tích, đào tạo mỹ thuật và ứng dụng thiết kế hiện đại.