Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nghệ thuật học với đề tài "Hội họa Hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986" (tên trên bìa luận án: "Hội họa Hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1954 - 1986)") do nghiên cứu sinh Phạm Trung thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, mã số 9210101, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Bá Dũng và PGS.TS Nguyễn Văn Cương.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thuật ngữ Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa (HTXHCN) xuất hiện lần đầu trong văn học Nga Xô viết vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX và được khẳng định là phương pháp sáng tác văn học nghệ thuật chính thức tại Đại hội các nhà văn toàn Liên Xô lần thứ nhất năm 1934. Tại Việt Nam, phương pháp HTXHCN từng giữ vai trò chủ đạo, quán xuyến phần lớn các hoạt động sáng tác mỹ thuật cách mạng trong nhiều thập kỷ, để lại khối lượng tác phẩm lớn phản ánh công cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, mỹ thuật Việt Nam trải qua bước ngoặt căn bản về thế giới quan và phương pháp sáng tác: chuyển dịch từ phong cách Hiện thực - Ấn tượng chịu ảnh hưởng của mỹ thuật Pháp thời kỳ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (với quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật) sang phương pháp HTXHCN (theo quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh, phục vụ nhiệm vụ cách mạng và giai cấp công - nông - binh). Sau năm 1986, cùng với công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế, trào lưu này lùi dần vào lịch sử, trở thành một di sản mỹ thuật gắn với hai cuộc kháng chiến.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có nhiều bài báo, sách chuyên khảo, giáo trình và hội thảo khoa học đề cập đến từng khía cạnh của phương pháp HTXHCN, song cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có tính tổng kết khoa học về những đặc trưng và giá trị của hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 từ góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật. Việc khảo cứu có hệ thống giai đoạn này nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm học thuật và phục vụ công tác bảo tồn di sản mỹ thuật của dân tộc.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án nghiên cứu hội họa HTXHCN từ góc độ mỹ thuật học, từ đó làm rõ các đặc trưng và khẳng định giá trị nghệ thuật của hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 trong diễn trình của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986.
- Nghiên cứu, phân tích nội dung và hình thức nghệ thuật của hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986.
- Luận bàn về đặc trưng và giá trị nghệ thuật của hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986.
Câu hỏi nghiên cứu
- Hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 có những biểu hiện về nội dung và hình thức nghệ thuật như thế nào?
- Quá trình giao lưu, tiếp biến HTXHCN đã ảnh hưởng tới hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 như thế nào?
- Đặc trưng và giá trị nghệ thuật của hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 được biểu hiện như thế nào trong mỹ thuật Việt Nam hiện đại?
Giả thuyết khoa học
- Giả thuyết 1: Hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 được biểu hiện đa dạng thông qua các thể loại, đề tài, nội dung, chất liệu bằng việc vận dụng linh hoạt các kiến thức tạo hình phương Tây và yếu tố kế thừa mỹ thuật truyền thống, mang đặc tính dân tộc rõ nét trong sự phong phú bố cục và hình thức tạo hình.
- Giả thuyết 2: Hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 có mối liên hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, có giá trị thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện được nội dung tư tưởng, tinh thần xã hội trong ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình hiện đại, đóng góp đặc trưng riêng vào sự phong phú của mỹ thuật Việt Nam.
- Giả thuyết 3: Hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 có đặc trưng riêng biệt, đặc sắc và giá trị nghệ thuật quan trọng trong sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại, là hệ thống “tư liệu” lịch sử bằng hình ảnh về một giai đoạn lịch sử hào hùng của Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và hình thức của các tác phẩm hội họa tiêu biểu trong mỹ thuật Việt Nam hiện đại từ năm 1954 đến năm 1986, sáng tác theo phương pháp HTXHCN trên các chất liệu sơn dầu, sơn mài, lụa, bột màu, thuốc nước gắn liền với phong cách hiện thực.
- Phạm vi không gian: Khảo sát các tác phẩm hội họa tiêu biểu trong sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, các tác phẩm đạt giải thưởng trong các triển lãm mỹ thuật toàn quốc, và tác phẩm của các tác giả được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn 1954 - 1986. Năm 1954 là mốc hòa bình lập lại sau Hiệp định Genève, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và khởi đầu áp dụng phương pháp HTXHCN trên diện rộng trong văn hóa nghệ thuật. Năm 1986 là mốc thực hiện đường lối Đổi mới, mở rộng giao lưu quốc tế, khi phương pháp HTXHCN khép lại vai trò phương pháp sáng tác chủ đạo duy nhất.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước trong và ngoài nước
Tác giả phân loại nguồn tài liệu nghiên cứu thành hai nhóm chính: tài liệu lý luận về HTXHCN trong văn học nghệ thuật và tài liệu nghiên cứu HTXHCN trong mỹ thuật.
- Nghiên cứu lý luận văn học nghệ thuật và đường lối văn nghệ:
- Các văn bản lý luận kinh điển Mác - Lênin được dịch và xuất bản tại Việt Nam: V. Lênin (1960), Các Mác và F. Ăngghen (1962), Andre Jdanov (1962), M. Gorki (1970).
- Các chuyên khảo lý thuyết của tác giả nước ngoài: Alexis Tolstoi (1951), Tcherbina Fadeiev và Jean Freville (1958), V. Vanxlốp (1960), PS. Rôdentan (1963), A. Optsarenco (1981).
- Các công trình diễn giải nguyên lý của tác giả Việt Nam: Nguyễn Lương Ngọc (1961), Lê Đình Kỵ (1962), Hồng Chương (1962); cùng các công trình nghiên cứu liên ngành của các nhà mỹ học và lý luận văn học: Đỗ Huy, Đỗ Văn Khang, Hoài Lam, Phong Lê, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, La Khắc Hòa, Phương Lựu, Lộc Phương Thủy, Cao Thị Hồng, Trần Thị Phương Phương.
- Các tuyển tập văn kiện chỉ đạo đường lối văn nghệ của lãnh tụ Đảng và Nhà nước: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh (1972); Tố Hữu (1973); Hồ Chí Minh (1977).
- Nghiên cứu về phương pháp HTXHCN trong mỹ thuật:
- Trong nước: Nguyễn Phi Hoanh (1970) trong Lược sử mỹ thuật Việt Nam đề cập đến mỹ thuật đầu Cách mạng tháng Tám và tranh cổ động; Viện Mỹ thuật (1982) với kỷ yếu hội thảo Phương pháp HTXHCN trong nghệ thuật tạo hình tập hợp các tham luận của Trịnh Phòng, Thái Bá Vân, Sĩ Ngọc, Lê Thanh Đức, Nguyễn Quân, Trang Phượng, Thọ Vân, Nguyễn Phúc, Trường Lưu và kết luận của Hà Xuân Trường; Viện Mỹ thuật và Hội Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam (1985) với Những vấn đề nghệ thuật tạo hình 1985; Viện Mỹ thuật và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (1992) với kỷ yếu Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh; Quang Phòng và Trần Tuy (1996) với Mỹ thuật Hiện đại Việt Nam; Quang Phòng và Quang Việt (2000) với Mỹ thuật Thủ đô Hà Nội thế kỷ 20; Hội Mỹ thuật Việt Nam (1997) với 8 Nghệ sĩ được giải thưởng Hồ Chí Minh; Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Viện Mỹ thuật (1999) với Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20; Ngô Mạnh Lân (2004) với Dưới mái trường Mỹ thuật thời kháng chiến; Nguyễn Lương Tiểu Bạch chủ biên (2005) với Mỹ thuật Việt Nam hiện đại; Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Viện Mỹ thuật (2007) với kỷ yếu 20 năm mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới; Hội Mỹ thuật Việt Nam (2008) với Hình tượng Bác Hồ trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam; Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội và Hội Mỹ thuật Hà Nội (2010) với Một thời Hà Nội; Nguyễn Hải Yến (2010) với Hội họa Hà Nội những ký ức còn lại; Nguyễn Quân (2010) với Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20; Trương Quốc Bình (2015) với Các tác phẩm hội họa Việt Nam lưu giữ và bảo tồn; Phan Cẩm Thượng (2015) với Hội họa Việt Nam một diện mạo khác; Đào Mai Trang (2017) với Họa sĩ khóa kháng chiến (1950 - 1954); Hội Mỹ thuật Việt Nam (2017) với 70 năm Mỹ thuật Việt Nam (1945 - 2015) qua bài tổng quan của Nguyễn Hải Yến; Nguyễn Văn Cường (2019) với Hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 nhìn từ góc độ văn hóa.
- Ngoài nước: Corinne de Ménonville (2003) với La peinture Vietnamienne, une aventure entre tradition et modernité; Bảo tàng Mỹ thuật Singapore (2009) với Post Doimoi; Essays on: Modern and contemporary Vietnamese art với bài viết của Joyce Fan; Huỳnh Bội Trân (2005) với luận án tiến sĩ Vietnamese Aesthetics from 1925 onwards; Phoebe Scott (2012) với luận án tiến sĩ Forming and Reforming The artist, Modernity, Agency and the Discourse of Art in North Vietnam, 1925 - 1954.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đã công bố phần lớn phác họa diện mạo chung của lịch sử mỹ thuật thế kỷ XX, phân tích mỹ thuật thời kỳ Đông Dương (1925 - 1945), nghiên cứu mỹ thuật thời kỳ Đổi mới, hoặc dừng lại ở việc khảo sát tác giả, chuyên đề kỹ thuật chất liệu riêng lẻ. Chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về hội họa HTXHCN Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 nhằm làm rõ quá trình tiếp biến văn hóa, phân loại các nhóm chủ thể sáng tạo, phân tích mối quan hệ giữa nội dung tư tưởng và hình thức tạo hình, cũng như xác định các đặc trưng và hệ giá trị lịch sử - nghệ thuật của giai đoạn mỹ thuật này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản
Luận án vận dụng Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation) làm khung lý thuyết chủ đạo. Lý thuyết này được khởi xướng bởi các nhà nhân học người Đức - Áo (tiêu biểu là F. Schmidt) từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nghiên cứu sự biến đổi cấu trúc văn hóa khi các nhóm văn hóa tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau. Tác giả tham chiếu Từ điển Bách khoa Văn hóa học của A. Radugin với ba tiến trình cấu thành: tiếp nhận văn hóa, tiếp xúc văn hóa và tiếp thụ văn hóa. Áp dụng vào đề tài, luận án làm rõ sự tương tác giữa nền tảng mỹ thuật truyền thống bản địa với kỹ thuật tạo hình hàn lâm phương Tây (tiếp biến từ Pháp giai đoạn 1925 - 1945) và tư tưởng nghệ thuật vô sản từ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (tiếp biến từ Liên Xô và Trung Quốc giai đoạn 1954 - 1986).
Hệ thống các khái niệm cơ bản được xác định trong luận án gồm:
- Hội họa: Bộ môn trong nghệ thuật tạo hình, tác phẩm được sáng tạo trên mặt phẳng bằng các chất màu, đường nét, hình mảng, không gian và ánh sáng.
- Hội họa HTXHCN: Phương pháp sáng tác nghệ thuật phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình phát triển cách mạng, phục vụ mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới và hướng tới quần chúng lao động.
- Nội dung và hình thức nghệ thuật: Mối quan hệ biện chứng trong tác phẩm mỹ thuật, trong đó nội dung đóng vai trò quy định hình thức, còn hình thức là phương thức biểu đạt vật chất và tổ chức bên trong của nội dung.
- Chủ thể sáng tạo: Người tạo ra các giá trị tư tưởng thẩm mỹ thông qua tác phẩm mỹ thuật, bao gồm cả nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên.
- Hình tượng nghệ thuật: Phương thức phản ánh hiện thực mang tính thẩm mỹ và điển hình hóa bằng ngôn ngữ tạo hình thông qua lăng kính sáng tạo của nghệ sĩ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành (Nhân học văn hóa, Văn học, Sử học, Nghệ thuật học, Xã hội học) và lý thuyết tạo hình cơ bản (bố cục, màu sắc, đường nét, ánh sáng, khối, mảng, không gian, chất liệu). Các phương pháp cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa nguồn tư liệu sách báo, tạp chí, nghị quyết, văn kiện và các công trình nghiên cứu đã công bố.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Khảo sát, phân tích so sánh các tác giả, tác phẩm tiêu biểu theo từng thời kỳ, từng chất liệu; so sánh đối chiếu giữa hội họa giai đoạn 1925 - 1945 và giai đoạn 1954 - 1986.
- Phương pháp quan sát thực địa: Trực tiếp điền dã khảo sát, đo đạc, ghi chép và chụp ảnh các tác phẩm tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý và họa sĩ có uy tín nghề nghiệp: họa sĩ Dương Ánh (nguyên Phó Giám đốc Xưởng tranh Cổ động Trung Ương), PGS. họa sĩ Huy Oánh (nguyên Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam), họa sĩ Lê Huy Tiếp (nguyên Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Hội Mỹ thuật Việt Nam), họa sĩ Trần Nguyên Đán (nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam), và nhà phê bình mỹ thuật Bùi Như Hương (Viện Mỹ thuật).
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu bao gồm các tác phẩm hội họa hiện vật lưu trữ tại các bảo tàng mỹ thuật công lập, các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về văn hóa văn nghệ từ năm 1943 đến năm 1986, các vựng tập triển lãm mỹ thuật toàn quốc, cùng tài liệu ghi chép điền dã và dữ liệu phỏng vấn chuyên gia.
Nội dung chính theo từng chương
Bảng tổng hợp cấu trúc nội dung các chương trong luận án:
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Dung lượng |
Trọng tâm nội dung |
| Chương 1 |
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ HỘI HỌA HTXHCN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1986 |
39 trang |
Cơ sở lý luận tiếp biến văn hóa, bối cảnh lịch sử, thể chế hóa đường lối văn nghệ và ba mẫu hình chủ thể sáng tạo |
| Chương 2 |
NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA HỘI HỌA HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1986 |
58 trang |
Đề tài, bốn hình tượng trung tâm, kỹ thuật xử lý chất liệu (sơn mài, sơn dầu, lụa) và các thủ pháp tạo hình |
| Chương 3 |
ĐẶC TRƯNG, GIÁ TRỊ VÀ BÀN LUẬN VỀ HỘI HỌA HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1986 |
44 trang |
Năm đặc trưng thẩm mỹ, giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, so sánh tiến trình 1925 - 1945 và chuyển biến sau 1986 |
Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ HỘI HỌA HTXHCN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1986
Chương này tập trung trình bày tổng quan tư liệu, khung khái niệm, lý thuyết tiếp biến văn hóa, bối cảnh lịch sử - xã hội và quá trình hình thành hội họa HTXHCN tại Việt Nam.
Tác giả phân tích tiến trình du nhập và thể chế hóa phương pháp HTXHCN vào Việt Nam từ các mốc lịch sử quan trọng: bài viết của Hải Triều năm 1936 trên báo Hồn Trẻ giới thiệu thuật ngữ "Chủ nghĩa tả thực xã hội"; bản Đề cương về cách mạng văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương xác định phương pháp sáng tác "tả thực xã hội" cùng ba nguyên tắc "Dân tộc, khoa học, đại chúng"; cuốn Văn học khái luận năm 1944 của Đặng Thai Mai; báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của Trường Chinh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 1948 khẳng định HTXHCN là gốc của sáng tác văn nghệ; thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các họa sĩ tại Triển lãm Hội họa năm 1951 khẳng định "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"; và các báo cáo chỉ đạo tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ II (1957) và lần thứ III (1962).
Về bối cảnh và sự hình thành nền hội họa cách mạng: Triển lãm Mỹ thuật tháng 8 năm 1946 tại Hà Nội đánh dấu sự chuyển dịch đề tài sang phản ánh đời sống nhân dân lao động và người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, cuộc tranh luận về hội họa ngày 27 tháng 9 năm 1949 tại Việt Bắc bàn thảo về khả năng tả thực của tranh sơn mài. Cùng với sự ra đời của Trường Mỹ thuật Kháng chiến do Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, các thế hệ nghệ sĩ đã từng bước chuyển dịch quan niệm thẩm mỹ. Năm 1954, sau hòa bình lập lại, vựng tập Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1955 lần đầu tiên ghi nhận bằng văn bản con đường của nghệ thuật HTXHCN. Tiếp đó, Hội Mỹ thuật Việt Nam được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1957, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam khánh thành năm 1966, Xưởng tranh Cổ động Trung ương thành lập năm 1967, và Xưởng Mỹ thuật Quân đội ra đời năm 1974.
Tác giả hệ thống hóa ba mẫu hình chủ thể sáng tạo cơ bản:
- Người Họa sĩ - chiến sĩ: Những nghệ sĩ trực tiếp chiến đấu tại các chiến trường ác liệt, phục vụ tuyên huấn quân đội, thực hiện phong trào "bộ đội vẽ, vẽ bộ đội". Hai gương mặt tiêu biểu là đại tá, họa sĩ Nguyễn Quang Thọ (với các tác phẩm ký họa đảo Cồn Cỏ, tác phẩm sơn dầu "Nắng xuân năm 1975" thể hiện bút pháp hiện thực kết hợp yếu tố ấn tượng và trừu tượng) và đại tá, họa sĩ Lê Huy Toàn (với các tác phẩm truyện tranh Điện Biên Phủ và loạt tranh hoành tráng "Việt Nam bản anh hùng ca").
- Người Họa sĩ - cán bộ văn hóa: Những nghệ sĩ giữ trọng trách quản lý trong các thiết chế văn nghệ nhà nước, vừa thực thi đường lối vừa sáng tác. Tiêu biểu là họa sĩ Trần Văn Cẩn (với các tác phẩm "Nữ dân quân miền biển", "Tát nước đồng chiêm", "Mùa đông đang đến", "Thằng cu đất mỏ") và họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung (với các nghiên cứu mỹ thuật cổ và tác phẩm hội họa hiện thực như "Du kích La Hai", "Công nhân cơ khí", "Học hỏi lẫn nhau", "Tan ca mời chị em ra họp để chọn thi thợ giỏi").
- Người Họa sĩ - công dân: Chiếm số lượng đông đảo, bao gồm các cán bộ, công nhân, nông dân, bộ đội phục viên tham gia sáng tác phong trào tại các địa phương, nhà máy, xí nghiệp; tiêu biểu trong đội ngũ nghệ sĩ tạo hình giai đoạn này có sự đóng góp của Nguyễn Sáng và Trọng Kiệm.
Chương 2: NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA HỘI HỌA HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1986
Chương này đi sâu phân tích hai thành tố cấu thành tác phẩm hội họa: nội dung biểu đạt và hình thức ngôn ngữ tạo hình.
Về nội dung nghệ thuật và hệ thống hình tượng: Luận án phân tích các đề tài trọng tâm gồm chiến tranh cách mạng, lao động sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, xây dựng quan hệ sản xuất mới ở miền Bắc, và hình ảnh sinh hoạt đời thường. Bốn hình tượng trung tâm ngự trị trong hội họa HTXHCN Việt Nam được tác giả khảo cứu chi tiết là: hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hình tượng người chiến sĩ quân đội, hình tượng người nông dân tập thể, và hình tượng người công nhân công nghiệp. Bên cạnh đó, hình tượng người phụ nữ mới trong sản xuất và chiến đấu ("ba đảm đang", "giỏi việc nước, đảm việc nhà") cũng được thể hiện rõ nét qua các tác phẩm chân dung nữ dân quân, nữ công nhân cơ khí.
Về hình thức nghệ thuật:
- Chất liệu và kỹ thuật:
- Sơn dầu: Kế thừa kỹ thuật vẽ hàn lâm phương Tây nhưng biến đổi bảng màu để thích ứng với ánh sáng nhiệt đới, giảm bớt sự tương phản gắt gao của vần luật kinh viện châu Âu.
- Sơn mài: Bước chuyển đổi có tính bản lề từ kỹ nghệ trang trí thủ công truyền thống sang ngôn ngữ hội họa tạo hình hiện đại; các họa sĩ đã tìm tòi kỹ thuật mài, ủ, dát vàng bạc để thể hiện không gian, khối tích, ánh sáng và diễn tả hiện thực cách mạng.
- Lụa: Kế thừa kỹ thuật nhuộm rửa truyền thống từ thời Nguyễn Phan Chánh, song chuyển dần từ gam màu nâu trầm cổ điển sang bảng màu tươi sáng, trong trẻo hơn để phản ánh không khí xã hội mới.
- Bột màu và thuốc nước: Chất liệu cơ động, tiện lợi trong điều kiện thời chiến, được sử dụng rộng rãi trong trực họa, ký họa chiến trường và ghi chép thực tế tại các công trường, hầm mỏ.
- Thủ pháp tạo hình:
- Bố cục: Ưa chuộng dạng bố cục tập trung nhiều nhân vật, bố cục hoành tráng, và thủ pháp đồng hiện (lồng ghép nhiều không gian, thời gian khác nhau trong một khung tranh) nhằm gia tăng tính chất sử thi của sự kiện lịch sử.
- Đường nét và hình khối: Sử dụng các đường viền đậm chắc, khúc chiết, các mảng phẳng no màu, hạn chế bóng đổ sâu kiểu châu Âu nhằm gìn giữ phẩm chất trang trí và cốt cách tạo hình của mỹ thuật dân gian truyền thống.
- Màu sắc: Khai thác các gam màu tươi sáng, ấm áp, thể hiện không khí vui tươi, lạc quan cách mạng của con người mới.
Chương 3: ĐẶC TRƯNG, GIÁ TRỊ VÀ BÀN LUẬN VỀ HỘI HỌA HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1986
Chương này đúc kết các đặc trưng thẩm mỹ, thẩm định hệ giá trị và đặt hội họa HTXHCN vào tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX.
Năm đặc trưng cơ bản của hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986:
- Tính tạo hình hàn lâm kết hợp phẩm chất nghệ thuật dân gian: Kỹ thuật hình họa, giải phẫu, luật xa gần của phương Tây được kết hợp nhuần nhuyễn với tính ước lệ, mảng phẳng và đường nét viền của mỹ thuật dân gian Việt Nam.
- Tính lãng mạn cách mạng: Niềm tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và tương lai tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, thể hiện qua ánh mắt, nụ cười và tinh thần lạc quan của các nhân vật trong tranh.
- Tính giai cấp: Nghệ thuật phục vụ trực tiếp quyền lợi của giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động, quán triệt lập trường cách mạng vô sản theo định hướng của Đảng.
- Tính dân tộc: Nội dung xã hội chủ nghĩa được chuyên chở bằng hình thức mang bản sắc dân tộc, đặc biệt thông qua việc khai thác các chất liệu truyền thống như sơn mài và lụa.
- Tính phong trào: Mỹ thuật không giới hạn ở các nghệ sĩ chuyên nghiệp mà mở rộng thành phong trào quần chúng rộng rãi với sự tham gia của các lớp vẽ nghiệp dư của công nhân, nông dân và chiến sĩ.
Hệ thống giá trị của hội họa HTXHCN:
- Giá trị lịch sử: Luận án khẳng định các tác phẩm là hệ thống tư liệu lịch sử bằng hình ảnh xác thực, phản ánh sinh động cuộc sống lao động, chiến đấu và tinh thần xã hội của nhân dân Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử nhiều biến động.
- Giá trị nghệ thuật: Xác lập những thành tựu trong việc tìm tòi chất liệu hội họa bản địa (sơn mài, lụa) để diễn đạt các đề tài hiện đại, đóng góp những tác phẩm hội họa có ngôn ngữ biểu đạt đặc thù vào kho tàng mỹ thuật dân tộc.
Nội dung bàn luận lịch sử mỹ thuật:
- Tương đồng và khác biệt giữa hội họa 1925 - 1945 và 1954 - 1986: Cả hai giai đoạn đều dựa trên nền tảng kỹ thuật tạo hình tiếp thu từ phương Tây; tuy nhiên, giai đoạn 1925 - 1945 mang đậm dấu ấn cá nhân và quan niệm "nghệ thuật vị nghệ thuật", trong khi giai đoạn 1954 - 1986 đặt trọng tâm vào trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ và quan niệm "nghệ thuật vị nhân sinh".
- Quá trình vận động tư tưởng: Từ tinh thần yêu nước truyền thống của giới trí thức, văn nghệ sĩ phát triển thành ý thức gắn bó với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Sự chuyển biến của hội họa sau năm 1986: Khi bước sang thời kỳ Đổi mới, hội họa HTXHCN khép lại sứ mệnh lịch sử của một phương pháp sáng tác độc tôn, mở đường cho sự đa dạng hóa về khuynh hướng thẩm mỹ, phong cách cá nhân và các hình thức biểu đạt thị giác mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống từ góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật về hội họa HTXHCN ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986, cung cấp tài liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật và khoa học xã hội nhân văn.
- Làm rõ tiến trình lịch sử hình thành, phát triển và những quy luật tiếp biến văn hóa của phương pháp HTXHCN tại Việt Nam; đánh giá khách quan các ưu điểm cần kế thừa cùng những hạn chế mang tính lịch sử (như sự giản đơn, minh họa cơ học ở một bộ phận tranh phong trào) trong quá trình xây dựng nền mỹ thuật cách mạng.
- Chứng minh và xác lập hệ thống 5 đặc trưng cơ bản (tính tạo hình hàn lâm kết hợp dân gian, tính lãng mạn cách mạng, tính giai cấp, tính dân tộc, tính phong trào) cùng hai giá trị cốt lõi (giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật) của hội họa HTXHCN Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn cứ liệu khoa học và tư liệu tác phẩm xác thực cho các bảo tàng mỹ thuật (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng) và các cơ quan quản lý văn hóa trong công tác giám định, sưu tầm, bảo quản và tổ chức trưng bày tác phẩm mỹ thuật hiện đại.
- Bổ sung tư liệu chuyên ngành cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các hội chuyên ngành thông qua các báo cáo thực địa, ảnh tư liệu tác phẩm và tư liệu phỏng vấn nhân chứng lịch sử.
- Bổ khuyết những khoảng trống tư liệu, đưa ra góc nhìn khoa học và điềm tĩnh về một di sản mỹ thuật quan trọng của Việt Nam thế kỷ XX.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đẩy mạnh công tác kiểm kê, số hóa và lập hồ sơ khoa học cho các tác phẩm hội họa sáng tác giai đoạn 1954 - 1986 đang phân tán tại các bảo tàng địa phương và sưu tập tư nhân.
- Xây dựng phương án bảo quản đặc biệt đối với các chất liệu dễ biến đổi theo thời gian như tranh lụa, bột màu và giấy ký họa chiến trường.
- Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá các tác phẩm hội họa thời kỳ kháng chiến dưới góc độ di sản văn hóa nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống thẩm mỹ cho thế hệ trẻ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực địa chủ yếu tại các bảo tàng lớn (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng) và các tác phẩm đoạt giải thưởng nhà nước, triển lãm toàn quốc; do đó, chưa thể bao quát hết toàn bộ khối lượng tranh phong trào đồ sộ tại các địa phương vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, đề tài tập trung vào loại hình hội họa (sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu), chưa khảo cứu sâu sang các thể loại mỹ thuật khác như đồ họa ấn loát, tranh cổ động hay điêu khắc cùng thời kỳ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát các bộ sưu tập mỹ thuật quân đội, mỹ thuật địa phương và sưu tập tư nhân trong và ngoài nước; tiếp tục nghiên cứu sâu sự chuyển biến phong cách nghệ thuật của từng tác giả tiêu biểu từ sau mốc Đổi mới năm 1986 trong bối cảnh giao lưu nghệ thuật đương đại quốc tế.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên các ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, Mỹ thuật học, Hội họa, Sư phạm mỹ thuật, Văn hóa học và Lịch sử văn hóa Việt Nam.
- Giảng viên giảng dạy các môn học Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, Mỹ học Mác - Lênin, Đường lối văn hóa nghệ thuật của Đảng tại các trường đại học, học viện.
- Cán bộ quản lý văn hóa, giám tuyển bảo tàng, chuyên gia giám định nghệ thuật tại các cơ quan quản lý văn hóa và bảo tàng mỹ thuật công lập.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Phần cơ sở lý luận ở Chương 1 về sự vận dụng lý thuyết Tiếp biến văn hóa và mô hình phân loại ba nhóm chủ thể sáng tạo (Họa sĩ - chiến sĩ, Họa sĩ - cán bộ văn hóa, Họa sĩ - công dân).
- Phần phân tích kỹ thuật chất liệu ở Chương 2, đặc biệt là quá trình cải biên sơn ta truyền thống thành chất liệu sơn mài hội họa hiện đại.
- Khung phân tích 5 đặc trưng và bảng đối sánh lịch sử giữa mỹ thuật 1925 - 1945 và 1954 - 1986 ở Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
-
Căn cứ lịch sử và mỹ thuật nào giúp luận án xác định giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 1954 đến năm 1986?
Năm 1954 là thời điểm Hiệp định Genève được ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc, mở ra thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chính thức áp dụng phương pháp HTXHCN trên diện rộng trong sáng tác văn học nghệ thuật (được khẳng định bằng văn bản tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1955). Năm 1986 đánh dấu bước ngoặt của công cuộc Đổi mới, khi đất nước bước vào giai đoạn mở cửa giao lưu quốc tế và phương pháp HTXHCN khép lại vai trò phương pháp sáng tác chủ đạo duy nhất.
-
Luận án phân loại chủ thể sáng tạo của hội họa HTXHCN ở Việt Nam thành những nhóm nào và gương mặt tiêu biểu là ai?
Tác giả phân chia thành ba nhóm chủ thể sáng tạo:
- Nhóm Họa sĩ - chiến sĩ: Tiêu biểu là Nguyễn Quang Thọ và Lê Huy Toàn.
- Nhóm Họa sĩ - cán bộ văn hóa: Tiêu biểu là Trần Văn Cẩn và Nguyễn Đỗ Cung.
- Nhóm Họa sĩ - công dân: Lực lượng đông đảo từ phong trào quần chúng, với những đóng góp nghệ thuật nổi bật của Nguyễn Sáng và Trọng Kiệm.
-
Lý thuyết Tiếp biến văn hóa được tác giả vận dụng nhằm lý giải vấn đề gì trong luận án?
Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation) được sử dụng để làm sáng tỏ quá trình hội họa Việt Nam tiếp nhận kỹ thuật tạo hình hàn lâm phương Tây (từ Pháp giai đoạn 1925 - 1945) và tư tưởng mỹ thuật vô sản từ hệ thống xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc giai đoạn 1954 - 1986), đồng thời dung hợp với nền tảng mỹ thuật truyền thống nội sinh để hình thành nền hội họa HTXHCN mang bản sắc dân tộc.
-
Năm đặc trưng cơ bản của hội họa HTXHCN Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986 được luận án đúc kết là gì?
Năm đặc trưng gồm có: (1) Tính tạo hình hàn lâm kết hợp phẩm chất nghệ thuật dân gian; (2) Tính lãng mạn cách mạng; (3) Tính giai cấp; (4) Tính dân tộc; (5) Tính phong trào.
-
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia trong luận án được tiến hành với những ai?
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 5 chuyên gia, họa sĩ và nhà phê bình mỹ thuật: Họa sĩ Dương Ánh (nguyên Phó Giám đốc Xưởng tranh Cổ động Trung Ương), PGS. Họa sĩ Huy Oánh (nguyên Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam), Họa sĩ Lê Huy Tiếp (nguyên Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Hội Mỹ thuật Việt Nam), Họa sĩ Trần Nguyên Đán (nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam), và Nhà phê bình mỹ thuật Bùi Như Hương (Viện Mỹ thuật).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Hội họa Hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1986" của nghiên cứu sinh Phạm Trung là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng kết có hệ thống một giai đoạn lịch sử quan trọng của mỹ thuật Việt Nam hiện đại dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật. Bằng việc kết hợp cách tiếp cận liên ngành với lý thuyết tiếp biến văn hóa, luận án đã làm rõ bối cảnh hình thành, hệ thống chủ thể sáng tạo, nội dung đề tài và các thủ pháp tạo hình đặc thù của trào lưu này. Công trình xác lập hệ thống 5 đặc trưng cơ bản, khẳng định giá trị lịch sử và nghệ thuật của hội họa cách mạng, đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu khoa học tin cậy cho công tác đào tạo, nghiên cứu và bảo tồn di sản mỹ thuật Việt Nam.