đặt vấn đề tính Đảng, yêu cầu văn nghệ sĩ trung thành với lý tưởng cộng sản, và nhắc lại “Nhưng chúng ta khuyên văn nghệ sĩ nên chọn chủ nghĩa HTXHCN, một phương pháp sáng tác tốt nhất đã từng được thể nghiệm, và nhất là đừng sa vào những trường phái của nghệ thuật suy đồi, trừu tượng” [78, tr. Nhận thức thế giới quan Mác - Lênin, lập trường lý luận HTXHCN còn được các nhà lãnh đạo như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng… nhiều lần huấn thị trong các ý kiến phát biểu với các cán bộ hoạt động văn hoá văn nghệ. Trong bài viết “Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ” thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có ý kiến: “Những tác phẩm chúng ta mong muốn cần phải có giá trị tư tưởng đầy đủ và phải có giá trị nghệ thuật đầy đủ… mặt nào cũng phải có nội dung XHCN đầy đủ và tính chất dân tộc đầy đủ” [78, tr. Phạm Văn Đồng cho rằng sáng tác phải có quan điểm nhân đạo cộng sản, quan điểm giai cấp, và đề cao cái mới XHCN ở miền Bắc.
Tổng bí thư Lê Duẩn khẳng định mối liên kết chặt chẽ giữa chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế và vai trò của văn nghệ trong cải tạo tư tưởng gắn liền 13 thực hiện các nhiệm vụ cách mạng [78, tr. Báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần 3, Đảng Lao động Việt Nam tháng 9 - 1960 do Lê Duẩn đọc, nhấn mạnh: “Chúng ta phải xây dựng một nền văn nghệ mới có tính chất dân tộc và nội dung XHCN phong phú. Văn nghệ phải có tính Đảng và tính nhân dân rõ rệt, phải thật sự đi vào cuộc sống và gắn chặt với cuộc sống” [37, tr. Tình hình nghiên cứu về HTXHCN trong mỹ thuật Các công trình liên quan đến hội họa HTXHCN ở Việt Nam có thể tạm chia thành hai nhóm tài liệu chính.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước Mỹ thuật Việt Nam hiện đại và hội họa HTXHCN cho đến nay đã được trình bày trong một số công trình như: Nguyễn Phi Hoanh (1970), Lược sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, [49]. Chủ yếu đề cập đến mỹ thuật Việt Nam từ thời nguyên thủy cho tới thời kỳ hòa bình lập lại năm 1954 ở miền Bắc. Chương 7: Thời Dân chủ Cộng hòa: Buổi đầu Cách mạng có đề cập đến hình thức tranh cổ động cách mạng trong giai đoạn Cách mạng tháng Tám và triển lãm mỹ thuật toàn quốc đầu tiên năm 1946, cũng như điểm qua một số hoạt động mỹ thuật thời kỳ đầu Cách mạng tháng 8 và thành tựu của mỹ thuật cách mạng miền Bắc Việt Nam. Viện Mỹ thuật (1982), Phương pháp HTXHCN trong nghệ thuật tạo hình, [121].
Đây là cuốn kỷ yếu tập hợp các tham luận qua hai cuộc hội thảo về phương pháp HTXHCN diễn ra tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, đề cập đến Mỹ thuật Việt Nam hiện đại và những vấn đề liên quan đến hệ thống lý luận phương pháp HTXHCN. Nhiều ý kiến khẳng định thành tựu hội họa HTXHCN ở Việt Nam, họa sĩ Trịnh Phòng đánh giá với phương pháp sáng tác HTXHCN, “anh chị em họa sĩ đã nhận thức được quy luật vận động khách quan, tìm ra những thủ pháp sáng tác tích cực góp phần giải quyết những yêu cầu của xã hội. Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân nêu quan điểm “hiện thực không phải cái ta nhìn thấy mà là cái ta tâm tưởng” đã gây nhiều ý kiến tranh 14 luận trong và sau hội thảo. Tuy nhiên, Thái Bá Vân cho rằng “Chủ nghĩa xã hội phải ở trong lòng ta trước đã” [121, tr.
Họa sĩ Sĩ Ngọc, Lê Thanh Đức, Nguyễn Quân lần lượt nêu ý kiến chỉ ra những hạn chế khi các nghệ sĩ áp dụng một cách máy móc, sơ lược phương pháp HTXHCN vào sáng tác, dẫn đến nhiều tác phẩm thiếu tính tư tưởng, mô phỏng minh họa, không thuyết phục công chúng [121, tr. Một số ý kiến của các họa sĩ Trang Phượng, Thọ Vân và nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc, Trường Lưu đề xuất những cách hiểu, tiếp cận mới về phương pháp HTXHCN do đặc thù riêng của mỗi quốc gia với sự dung nạp đa dạng về bút pháp biểu hiện [121, tr. Phát biểu kết luận hội thảo, đồng chí Hà Xuân Trường sau khi nhắc lại cần nghiên cứu sâu hơn nữa về một số vấn đề: nghệ thuật HTXHCN, sự thống nhất tính giai cấp, tính Đảng và tính nhân đạo… đã nhấn mạnh “HTXHCN cho phép các phong cách, trường phái, các luồng khác nhau cùng tồn tại. Vì vậy ta không nên lấy phong cách này để đối lập với phong cách kia” [121, tr.
Viện Mỹ thuật, Hội Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam xuất bản (1985), Những vấn đề nghệ thuật tạo hình 1985 [123], tập hợp bài viết tham luận tại Hội nghị Phấn đấu cho một nền nghệ thuật tạo hình XHCN. Các tác giả đã trình bày nhiều ý kiến có tính tổng kết 40 năm hoạt động mỹ thuật, nhắc đến một số tác giả, tác phẩm hội họa HTXHCN tiêu biểu và đặt ra những vấn đề cấp bách trong giai đoạn tiếp theo của mỹ thuật Việt Nam. Viện Mỹ thuật, Bảo tàng MTVN (1992), Nxb Mỹ thuật in kỷ yếu Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, tập hợp những tham luận qua cuộc hội thảo cùng tên, đề cập phong cách, giá trị nghệ thuật tranh lụa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, kỹ thuật và quan niệm của họa sĩ, từ trước năm 1945 đến những hình tượng phụ nữ đảm việc nhà, giỏi việc nước XHCN thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Quang Phòng, Trần Tuy (1996), Mỹ thuật Hiện đại Việt Nam.
Nxb Mỹ thuật [83] và cuốn sách của Quang Phòng, Quang Việt (2000) Mỹ thuật Thủ đô Hà Nội thế kỷ 20, Nxb Mỹ thuật [84]. Hai cuốn sách có nhiều tư liệu và bình 15 luận về các tác giả, tác phẩm của họa sĩ thế hệ mỹ thuật Đông Dương và hoạt động mỹ thuật được Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức ở Miền Bắc giai đoạn trước và sau năm 1975. Hội Mỹ thuật Việt Nam (1997), 8 Nghệ sĩ được giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Mỹ thuật [58] tập hợp các bài viết và ảnh minh họa về 8 Họa sĩ, nhà điêu khắc được trao giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về VHNT gồm Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Phan Chánh, Diệp Minh Châu. Các bài viết nhấn mạnh 8 nghệ sĩ có nhiều tác phẩm mỹ thuật phục vụ cách mạng theo phương pháp HTXHCN nhưng chứa đựng giá trị nghệ thuật bậc thày và phẩm chất dân tộc rõ nét.
Tác giả có những nhận định sắc sảo, hệ thống, nghiên cứu nhiều vấn đề lý thuyết, lịch sử mỹ thuật, các vấn đề sáng tác của mỹ thuật Việt Nam hiện đại, chủ nghĩa HTXHCN và biểu hiện của nó thông qua các sáng tác của một số nghệ sĩ tiêu biểu. Tuy nhiên, những sự kiện, tác phẩm hội họa HTXHCN lại ít được quan tâm, phân tích kỹ lưỡng. Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội - Viện Mỹ thuật (1999), Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20, Nxb Mỹ thuật [110]. Sách tập trung nhiều bài viết của các tác giả tham gia Hội thảo Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 đánh giá về vai trò xã hội và thành tựu của mỹ thuật hiện đại Việt Nam.
Hội họa HTXHCN cũng được đề cập và khẳng định thành tựu quan trọng với nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu. Ngô Mạnh Lân (2004), Dưới mái trường Mỹ thuật thời kháng chiến, Nxb Mỹ thuật [71]. Tác giả cho thấy công việc giảng dạy, học tập của nhà trường mỹ thuật trong kháng chiến, các giảng viên vốn là cựu sinh viên trường CĐMTĐD và lớp sinh viên đầu tiên đã chuyển biến tư tưởng, bám sát thực tiễn cách mạng theo đường lối văn hóa của Đảng. Nhiều học viên khóa kháng chiến sau này trở thành tác giả lớn của mỹ thuật, sáng tác nhiều tác phẩm hội họa HTXHCN tiêu biểu giai đoạn 1954 - 1986.
16 Nguyễn Lương Tiểu Bạch (chủ biên) (2005), Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, Viện Mỹ thuật xuất bản [9]. Đây là cuốn sách nêu được thành tựu, giá trị nghệ thuật nổi bật của hội họa HTXHCN. Nhóm tác giả viết về giai đoạn từ 1955 - 1975 trong mỹ thuật Việt Nam, đã nhận xét xu hướng HTXHCN là xu hướng chung của mỹ thuật cách mạng cả thời kỳ, được các nghệ sĩ hưởng ứng, chấp nhận: “vẽ con người chủ nhân của đất nước, hồ hởi, vui vẻ trong lao động sản xuất, chiến đấu, thể hiện niềm tin yêu Đảng, Bác, tinh thần lạc quan tập thể, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” [9, tr. 104] mặc dù còn những hạn chế khó tránh khỏi.
Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội - Viện Mỹ thuật (2007), kỷ yếu hội thảo khoa học 20 năm mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Mỹ thuật [112]. Sách tổng hợp các tham luận trong hội thảo, có đề cập tới những vấn đề về thẩm mỹ xã hội, các thành tựu nghệ thuật, những cá nhân tiêu biểu của mỹ thuật thời kỳ Đổi mới, những xu hướng nghệ thuật mới, đánh giá vai trò của Hội Mỹ thuật Việt Nam và hội họa HTXHCN trong giai đoạn phát triển mới của xã hội. Hội Mỹ thuật Việt Nam (2008), Hình tượng Bác Hồ trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, Nxb Mỹ thuật xuất bản [59], là một tập hợp có giá trị về các tác phẩm mỹ thuật HTXHCN sáng tác về chủ đề lãnh tụ, minh chứng cụ thể về quan niệm sáng tác và thành tựu của các nghệ sĩ Việt Nam khi thực hành áp dụng lý thuyết HTXHCN. Nhiều tác phẩm hội họa HTXHCN được tuyển chọn trong minh họa đã trở thành giá trị kinh điển của mỹ thuật cách mạng Việt Nam.
Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội, Hội Mỹ thuật Hà Nội (2010), Một thời Hà Nội, Nxb Mỹ thuật [63], giới thiệu, khẳng định thành tựu nghệ thuật cá nhân của các nghệ sĩ tham gia cách mạng cũng đồng thời là thành tựu mỹ thuật HTXHCN tại Hà Nội. Phần viết Tổng quan về mỹ thuật Hà Nội thế kỷ XX đề cập vắn tắt về một số thành tựu hội họa HTXHCN tại Hà Nội trong thế kỷ XX thông qua các tác phẩm của các tác giả Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tư Nghiêm. 17 Nguyễn Hải Yến (2010), Hội họa Hà Nội những ký ức còn lại, Picture art foundation [128]. Sách chủ yếu đề cập đến những sự kiện hoạt động trong giai đoạn 1925 - 1945 của mỹ thuật Việt Nam và một số chân dung họa sĩ và nhà sưu tập, tuy cũng có nhắc đến một số tác phẩm tiêu biểu hội họa HTXHCN.