Chương 1: TỔNG QUAN 1. Nguồn gốc, chức năng và lịch sử nghiên cứu đình làng thế kỷ XVII 1. Nguồn gốc và sự phát triển của đình Đình là một thuật ngữ Hán ( ). Trung Hoa cổ đại Đình là một đơn vị hành chính.
Dưới thời Tần, Hán 10 lý là một Đình. Đình có đình trưởng. Lưu Bang người khởi dựng nhà Hán là đình trưởng ở Phong Bái. Đình còn có nghĩa là một ngôi nhà lá ở dọc đường - nơi dừng chân cho khách đường xa; 5 dặm có một “đoản đình”, 10 dặm có một “trường đình”.
Nếu dựng cạnh đường thủy gọi là “lương đình” hay “trường đình”. Đình còn có loại mang tính chất nghiệp vụ như “tỉnh đình” (cơ quan tỉnh), “bi đình” (nhà dựng bia), “bưu đình” (bưu điện), “thư đình” (thư viện). Ở Việt Nam dùng thuật ngữ Hán tự, theo cách gọi của Trung Quốc là đình, nhưng nội dung khác hoàn toàn. Ở Việt Nam, Đình là một ngôi nhà công cộng, một ngôi nhà chung của một cộng đồng dân cư của một làng (la maison de commune hoặc là Communal house hay Communal hall).
Đình của làng Việt giống với nhà Rông của người BaNa Tây Nguyên về tính chất. Vậy nguồn gốc đình Việt Nam có từ bao giờ? Trong Lục độ tập kinh của Khang Tăng Hội có ghi: “Đêm đến ông lặng lẽ trốn đi. Đi hơn trăm dặm, vào nghỉ ở một ngôi đình trống” [66, tr. Ở kinh đô Hoa Lư, khảo cổ học đã tìm thấy vết tích của một ngôi đình dịch.
Sách Đại Việt Sử ký toàn thư có ghi: “Thượng Hoàng (Trần Thái Tông) xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật để thờ. Trước đây, tục nước ta vì nóng bức, nên làm nhiều đình cho người đi đường nghỉ chân, thường quét vôi trắng, gọi là đình trạm” [66, tr. Ở Hà Nội, nhà số 10, ngõ Gạch, quận Hoàn Kiếm có bia đề năm Thuận Thiên thứ 3 (1433). Đây là làng cổ Thanh Hà xưa có đình.
Như vậy cái tên 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đình xuất hiện rất sớm từ thế kỷ II - III Công Nguyên, và nó có mặt ở các thời tiếp theo Đinh, Lê, Lý, Trần, hậu Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn. Đình và đình trạm phải chăng là nguồn gốc của đình làng? Cuộc tìm hiểu về nguồn gốc của đình làng tựu trung có các ý kiến khác nhau: Ý kiến thứ nhất cho rằng Đình làng có nguồn gốc từ Đình Trạm. Nguyễn Văn Huyên “Cái đình ngày xưa là nhà nghỉ của vua khi nhà vua đi tuần thú trong vùng. Ở tỉnh có hành cung để vua dừng chân nghỉ ngơi.
Ở các làng ven đường cũng có những ngôi nhà có chức năng như hành cung. Về sau vua ít đi tuần thú, dân làng đã sử dụng các hành cung này để thờ thần. Ông cho rằng những đình hiện nay có bốn đại tự “Thánh cung vạn tuế” có nguồn gốc từ đó”. Ý kiến của Nguyễn Văn Huyên có một số người ủng hộ, trong số đó có Trần Lâm Biền, Trịnh Cao Tưởng.19] Ý kiến thứ hai - dựa vào dòng chữ ghi trên kẻ của đình Phù Lưu, Bắc Ninh “.
kẻ nào cho khách đi đường và bọn công thương trú ngụ (trong đình) thì xin thần linh tru diệt”, căn cứ đó Chu Quang Trứ chủ trương đình làng ngược hẳn với đình trạm, không có nguồn gốc từ đình Trạm. Ý kiến thứ ba cho đình làng là một kiểu nhà chung, một sản phẩm của làng kiểu trung đại từ sau Lê Sơ. Thuộc ý kiến này có hai tác giả là Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng. Ý kiến thứ tư của L.Bezacier cho đình làng Việt Nam là một trong những vết tích của người Anh-đô-nê-diêng xưa kia cư trú ở miền Đông Nam Á, về sau có một số ảnh hưởng của Trung Quốc ghép thêm vào.
Tất cả các ý kiến đã trình bày ở trên GS. Hà Văn Tấn cho rằng: “Mặc dù còn thiếu chứng cứ, ta tin rằng đình - ngôi nhà chung của làng xã đã xuất hiện từ lâu đời, nếu không phải là thời tiền sử thì cũng là thời sơ sử của dân tộc. Tất nhiên thời đó chưa được gọi là đình, một từ vay mượn của Trung Hoa” [66, tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực tế ở đồng bằng Bắc Bộ còn tồn tại di tích Quán đình.
Quán đình thường lợi dụng dưới gốc cây cổ thụ giữa cánh đồng, hoặc ở đầu làng, người ta dựng một mái nhà bằng tranh tre nứa lá hoặc xây bằng gạch đơn sơ để làm chỗ cho trẻ con chăn trâu và người đi làm đồng về dừng chân nghỉ ngơi, trú ngụ lúc mưa nắng. Có thể kể ra các quán đình ở Đồng Bụt, xã Ngọc Liệp, Quốc Oai, Hà Nội. Quán đình ở cánh đồng Đường Lâm; quán đình Hoài Đức và quán đình Tiên Phong, Ba Vì, Hà Nội. Những quán đình này chắc chắn không phải là nguồn gốc của đình làng.
Đình làng với tư cách là một thực thể văn hóa của làng xã hiện biết đến bắt đầu thế kỷ XVI đó là: 1. Đình Tây Đằng thuộc xã Tây Đằng, thị trấn Quốc Oai được dựng vào thế kỷ XVI trên một đầu cột có dòng chữ Hán “Quý Mùi niên tạo”. Nhiều người cho rằng đình dựng năm 1583. Đình Thụy Phiêu ở thôn Thụy Phiêu, xã Thụy An, Ba Vì, Hà Nội.
Đình có niên đại tuyệt đối, niên hiệu Đại Chính của Mạc Thái Tông (1530-1540). Đình Lỗ Hạnh ở thôn Lỗ, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đình có niên hiệu Sùng Khang của Mạc Mậu Hợp năm thứ 11 (1576). Đình La Phù, tên nôm là Đình Là, thuộc thôn La Uyên, xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Niên hiệu Diên Thành của Mạc Mậu Hợp (1578 - 1585) vào năm thứ 4 (1581). Đình Phù Lưu ở làng Phù Lưu, xã Thu Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đình có niên hiệu Minh Trị thứ 2 của Mạc Mậu Hợp (1589). Dựa vào tài liệu bi ký chúng ta còn biết thêm: 6.
Đình Đại Đoan xã Đoan Bái, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh dựng vào năm Quý Tỵ, niên hiệu Diên Thành của Mạc Mậu Hợp (1583). Đình Trường Hoài huyện Thái Thụy, Thái Bình dựng năm Diên Thành thứ 8 (1585). 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đình Nghênh Phúc, xã Lam Cầu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương dựng năm Hưng Trị thứ 4.
Mạc Mậu Hợp (1591). Về mặt kiến trúc, đình thế kỷ XVI có mặt bằng hình chữ nhất ( ), có 3 gian 2 chái, 4 hàng cột, 2 hàng cột cái, 2 hàng cột quân, nghĩa là một vì kèo có 4 cột. Đình có sàn gỗ, gian giữa có gác lửng thờ Thành Hoàng, sân đình rất rộng. Những ngôi đình từ thế kỷ XVI đã có điêu khắc trang trí phong phú.
Hình rồng được chạm khắp nơi. Con rồng thế kỷ XVI thường có hình yên ngựa. Những cảnh sinh hoạt của con người như đốn củi, cày voi, đuổi hổ, bắt rắn, chồng người làm xiếc, chèo thuyền uống rượu được chạm trổ kín trên các kết cấu kiến trúc. Nhưng đình thế kỷ XVI chỉ đếm đầu ngón tay.
Đến thế kỷ XVII có thể nói là thế kỷ của đình làng, làng nào cũng đều dựng đình. Tính đến năm 2007, 14 tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ có 856 đình làng được xếp hạng di tích lịch sử cấp Nhà nước; trong số đó đình làng thế kỷ XVII chiếm khoảng 70%, nhiều nhất được dựng vào năm Chính Hòa (1680-1705) thời Lê Hy Tông với một số ví dụ sau đây: 1. Đình Yên Sở, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội dựng năm Chính Hòa thứ 2 (1681). Đình Thắng, Hiệp Hòa, Bắc Giang dựng năm Chính Hòa thứ 5 (1684).
Đình Kiền Bái, Thủy Nguyên, Hải Phòng dựng năm Chính Hòa thứ 8 (1687). Đình Diềm hay gọi là Đình Viêm Xá ở làng Viêm Xá có tên nôm là làng Diềm, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, Bắc Ninh dựng năm Chính Hòa 12 (1691). Đình Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang dựng năm Chính Hòa thứ 13 (1692). 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đình Phù Lão ở xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang dựng năm Chính Hòa thứ 15 (1694). Đình Hoàng Xá, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Nội dựng năm Chính Hòa thứ 15 (1694). Đình Xốm, Phong Châu, Phú Thọ dựng năm Chính Hòa thứ 19 (1698). Đình Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội có niên đại vào nửa cuối TK XVII.
Chức năng của đình làng Đình làng Việt Nam có ba chức năng chính: * Đình làng là trung tâm văn hóa của làng xã; các lễ hội thường diễn ra ở đình. Lễ có nhiều loại. Lễ có những loại định kỳ như lễ tất niên, đón giao thừa vào ngày 30 và mùng 1. Lễ Đoan Ngọ ngày 5/5, lễ rằm tháng 7 xá tội vong nhân.
Có lễ không định kỳ phụ thuộc thời tiết như lễ tịch điền, lễ cầu mưa, lễ cúng cơm mới. Hội đình rất phong phú mang đặc trưng nghề nông trồng lúa nước như: thi cày, thi cấy, thi thổi cơm. Trong hội có những yếu tố liên quan đến sông nước như bơi thuyền, đi cà kheo, bắt chạch trong chum. có yếu tố mang tinh thần thượng võ như: đánh vật, kéo co.
có những hình thức múa hát theo sắc thái địa phương như hát quan họ, ca trù, chèo, tuồng, hát ví, hát dặm. * Đình làng là trung tâm thờ Thành Hoàng, nó phản ánh tín ngưỡng của người nông dân Việt Nam. Thành Hoàng được vua phong 3 bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần. Có những Thành Hoàng không được vua phong như thần gắp phân ở làng Đồng Kỵ.
Làng phải làm tiểu sử giả đề là thần Cường Đế có công dẹp giặc Xích Quỷ thời Hùng Vương. Thành Hoàng ở đình làng Việt Nam có nhiều loại: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhân thần: là người có thật trong lịch sử như: Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo. hoặc những người có công lập làng. Người đến đầu tiên gọi là “tiên hiền”, đến sau gọi là “hậu hiền”.
Thành Hoàng có nơi là một cụ đồ nho, một tổ sư nghề nghiệp hoặc một dòng họ. - Thủy thần: Ở đồng bằng thường thờ Đông Hải Long Vương, Nam Hải Long Vương, Sát Hải Long Vương. Ở vùng ven biển thường thờ cá voi gọi là Đức Ông (Cá Ông) hoặc thờ Bạch Xà, Hoàng Xà. - Sơn thần: Thần Tản Viên được thờ nhiều nhất ở Bắc Bộ.
Ở Nghệ Tĩnh thờ Cao Sơn, Cao Các. - Thiên nhiên thần: Việc thờ thần thiên nhiên mang yếu tố nguyên thủy, khi con người bất lực trước hiện tượng sấm, sét, mây, mưa, thần cây, thần đá. - Hậu thần: là những người khi sống có công với làng, khi chết dân làng thờ gọi là “Bầu Hậu”. Thờ “Bầu Hậu” được phổ biến thời Lê Thánh Tông.